Thế Nào Là Việc Đền Tội Thích Đáng?

24 Tháng Tám 201612:40 CH(Xem: 1282)
Giải đáp phụng vụ: Thế nào là việc đền tội thích đáng?

Giải đáp của Cha Edward McNamara, Dòng Đạo Binh Chúa Kitô (LC), giáo sư phụng vụ của Đại học Regina Apostolorum (Nữ Vương các Thánh Tông Đồ), Rôma.

Hỏi: Xin cha cho biết bình luận của cha về việc đền tội thích hợp và thích đáng trong bí tích Hòa giải. Con thường ra việc đền tội cho hối nhân là đọc một số Kinh Lạy Cha và Kinh Kính Mừng, nhưng đôi khi con cảm thấy như thế là chưa thích đáng cho hối nhân. Một linh mục bạn ra việc đền tội "khó khăn" hơn: thí dụ, đi Đàng Thánh Giá, lần hai hoặc ba chuỗi, đọc vài Thánh vịnh hoặc đọc vài đoạn Kinh Thánh. Nhiều hối nhân của ngài lại đến lần sau, nhưng chưa hoàn thành việc đền tội lần trước, nên khá bối rối. Là một linh mục trẻ, con được hướng dẫn là ra việc đền tội như thế nào, để hối nhân có thể hoàn thành trước khi ra khỏi nhà thờ. Xin cha giúp ý kiến cho con. - H. J., Peabody, Massachusetts, Hoa Kỳ.

xungtoi-confession
Đáp: Trước tiên có lẽ cần nhận định rằng tất cả việc đền tội là không hề tương xứng cho việc đền tội thật sự. Sự nặng của bất cứ tội nào là vượt quá khả năng của chúng ta, để sửa chữa việc chúng ta thiếu lòng yêu mến Chúa. Điều kỳ diệu của việc xưng tội là sự rộng lượng của Thiên Chúa đối với chúng ta trong việc ban cho chúng ta sự hòa giải, và đưa chúng ta trở lại với tình bạn của Ngài.

Giáo Hội tự giới hạn trong việc dạy các linh mục đưa ra việc đền tội thích đáng, tương ứng với tính chất của từng trường hợp. Tập tục áp đặt việc đọc một số kinh như việc đền tội là không có công thức đơn thuần; đúng hơn, chính vì đó là lời cầu nguyện, nó là một dấu hiệu của sự đổi mới của ân sủng trong tâm hồn, vốn làm cho việc cầu nguyện đích thực trở nên có thể được và có công.

Trong việc áp đặt một việc đền tội thích hợp, có một số điều cần được chú ý.

Trước hết, bản chất của tội lỗi phải được coi như là một sự, mà việc đền tội tìm cách khắc phục hậu quả, và các tội trọng hơn cần phải có việc đền tội nặng hơn, để đánh thức lương tâm về sự nghiêm trọng của tội, đặc biệt là nếu chúng lặp đi lặp lại thường xuyên. Tội về bất công, chẳng hạn như ăn cắp hoặc vu khống, cũng phải được khắc phục, thông qua một số hình thức đền trả của cải, hoặc tiếng tốt của người khác.

Tuy nhiên, cũng quan trọng là bản tính của hối nhân, vì không có bản mẫu đền tội tự động tương ứng với một số tội nhất định.

Một linh mục cố gắng hết sức để phán đoán sức nặng tinh thần của hối nhân, trước khi áp đặt việc đền tội thích hợp. Điều này thường trở nên rõ ràng, thông qua cách thức của chính việc xưng tội. Một người có một sự cộng hưởng tinh thần mạnh mẽ, và sự đào tạo Công Giáo vững chắc, có nhiều khả năng được hưởng lợi từ các việc đền tội như đọc Kinh Thánh, đọc Thánh vịnh, hoặc thực hành các việc đạo đức nảo đó.

Khi một người có ít tri thức về đức tin và không quen với một số việc đạo đức như lần chuỗi Mân Côi, Đi Đàng Thánh Giá (Via Crucis), hoặc ăn chay, thì có lẽ tốt hơn không nên áp đặt các việc đền tội như vậy, vì chúng có thể dẫn đến sự thất vọng.

Quy tắc rằng, việc đền tội nên được hoàn thành trước khi hối nhân rời khỏi nhà thờ, nên được áp dụng trước tiên cho tầng lớp này của hối nhân. Nếu linh mục nghĩ rằng việc đền tội với vài Kinh Lạy Cha và vài Kinh Kính Mừng là chưa thích đáng trong các trường hợp đặc biệt, ngài có thể áp đặt một việc đền tội có thể thực hiện được, nhưng ít chính thức hơn. Thí dụ, ngài bảo hối nhân làm việc đền tội bằng cách viếng Thánh Thể, hoặc đến một bàn thờ Đức Mẹ, cầu nguyện trong một thời lượng nào đó, và trong bầu khí thân tình này, hãy tạ ơn về sự tha thứ đã nhận được, và cầu xin sự trợ giúp vượt thắng một lỗi đặc biệt.

Hình thức cuối cùng này của việc đền tội thường là rất hữu ích cho các linh hồn, vốn đã lâu chưa xưng tội, và đã được tác động bởi một ơn đặc biệt, để đên với bí tích Hòa giải.

Đôi khi chính việc đền tội có thể là một nguồn hoán cải. Có một giai thoại cũ của một linh mục, khi ngài nghe lóm chuyện một nhóm thanh niên đánh cược với nhau, mà ai thua thì phải đi xưng tội. Biết chuyện này, linh mục liền ngồi tòa giải tội, và khi một thanh niên vào xưng tội, ngài ra việc đền tội là hối nhân phải đi trước cây thánh giá lớn của nhà thờ, và nói 20 lần: "Chúa đã làm việc này cho con, và con không thể chăm sóc ít hơn". Lúc đầu, thanh niên này nhắc lại lời một cách thờ ơ, sau đó nói chậm hơn và cuối cùng đã khóc nhiều. Đối với người thanh niên, lần xưng tội này là sự khởi đầu của một cuộc hành trình hoán cải, vốn sẽ dẫn mình trở thành Tổng Giám mục Paris sau này.

Sau khi trả lời như trên đây, tôi xin giải quyết tiếp một vài câu hỏi liên quan.

Một bạn đọc ở Oregon hỏi: "Lần trước con đi xưng tội, cha giải tội cố ý không đưa ra việc đền tội cho con. Liệu điều này có ảnh hưởng gì đến bí tích không, thưa cha?”.

Từ cái nhìn của hối nhân, tôi tin rằng không có hậu quả tiêu cực nào ở đây. Để cho bí tích thành sự, hối nhân phải chấp nhận sự đền tội, nghĩa là, người ấy không được từ chối chấp nhận nó, hoặc công khai hoặc trong lòng. Bởi vì ước muốn này hiện diện, mặc dù thực tế là linh mục đã không đưa ra việc đền tội, do đó người ấy đã hợp lệ hòa giải với Thiên Chúa.

Tuy nhiên, linh mục trong trường hợp này đã không hành động tốt. Là người đại diện của Chúa Kitô và Giáo Hội, và hoàn toàn tôn trọng quyền của tín hữu để lãnh nhận các bí tích, ngài phải tuân giữ các bước cách cẩn thận, vốn được đòi hỏi cho việc việc giải tội tốt.

Các bổn phận này bao gồm, sự ra việc đền tội (thậm chí một sự đền tội nhẹ), vì sự chấp nhận đền tội tạo thành một trong ba hành vi của hối nhân, vốn làm nên chất thể của bí tích Hòa giải: ăn năn tội, xưng tội, và đền tội.

Một bạn đọc ở New York hỏi: "Gần đây con đọc, trong một loạt bài về bí tích Hòa giải, rằng việc đền tội mà người ta nhận, chẳng hạn ba Kinh Kính Mừng, tha hình phạt tạm được phát sinh bởi các tội đã xưng. Con đã không bao giờ nghe nói về điều này trước đây. Thưa cha, điểu này là đúng không?”.

Điều này cũng là mới đối với tôi. Trong khi việc đền tội, giống như bất kỳ sự cầu nguyện nào, sẽ chắc chắn có một số tác dụng trong việc cân bằng tác động của tội lỗi chúng ta, tôi nghi ngờ rằng người ta có thể cho rằng việc đền tội hoàn toàn loại bỏ tất cả các hình phạt tạm do tội lỗi đã xưng.

Nếu giả thuyết này là đúng, một hệ quả có thể là làm cho vô dụng học thuyết và sự thực hành của Giáo Hội liên quan đến việc sử dụng ân xá. Trong kịch bản này, việc xưng tội sẽ có được hiệu quả, là nó được tìm kiếm để thực hiện sự thực hành có ân xá.

Bởi vì giáo huấn Giáo Hội không hủy bỏ điều này điều khác, nhưng kết nối chúng trong một tổng thể hài hòa, tôi tin rằng lý thuyết được đề cập bởi độc giả trên là không tương hợp với học thuyết chân chính. (Zenit.org 2-9-2008, 17-9-2008)

Nguyễn Trọng Đa
Theo Vietcatholic.net
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
– Vào thứ Ba 8-12-2020, Đức Giáo hoàng Phanxicô đã công bố Năm Thánh Giuse, để kỷ niệm 150 năm ngày thánh nhân được công bố là người bảo trợ Giáo hội hoàn vũ. Đức Giáo hoàng Phanxicô cho biết ngài thiết lập Năm Thánh này để “mọi tín hữu theo gương Thánh Giuse, củng cố đời sống đức tin bằng cách hằng ngày thực hiện trọn vẹn ý muốn của Chúa.” Dưới đây là những điều bạn cần biết về Năm Thánh Giuse: Tại sao lại có những năm được mang các chủ đề cụ thể (từ Giáo hội)? Giáo hội cử hành diễn trình của thời gian qua lịch phụng vụ - bao gồm các lễ như Phục sinh và Giáng sinh, và các mùa như Mùa Chay và Mùa Vọng. Ngoài ra, các vị Giáo hoàng còn có thể dành riêng những khoảng thời gian nào đó để Giáo hội suy ngẫm sâu sắc hơn về một khía cạnh cụ thể của giáo huấn hoặc niềm tin Công giáo. Một số năm trước đây đã được các vị giáo hoàng gần đây chọn lựa như thế, bao gồm Năm Đức Tin, Năm Thánh Thể và Năm Thánh Lòng Thương Xót.
Tại Việt Nam, ít ai biết được rằng 150 năm trước khi thi hào Nguyễn Du qua đời (1820), văn chương Công giáo đã có một tác phẩm lục bát bằng chữ Nôm đạt mức tuyệt tác: Tác phẩm Sấm Truyền Ca (1670), diễn ca 5 quyển đầu của Cựu Ước, do cha Lữ Y Đoan, một trong những linh mục thế hệ đầu của địa phận Đàng Trong. Cũng chính năm 1820 tác phẩm được phiên âm sang chữ quốc ngữ. Sau một vận mệnh hẩm hiu suốt hơn ba trăm năm, cuối thế kỷ XX chỉ còn hơn 1/5 tác phẩm sống sót: Sách Sáng Thế Ký (Tạo đoan kinh) và 21 chương đầu của sách Xuất Hành (Lập quốc kinh). Năm 1993 một số trí thức Công giáo đã thực hiện hồ sơ “Về các tác giả Công giáo thế kỷ XVII-XIX”, do Khoa Ngữ Văn, Đại học Tổng hợp Tp HCM ấn hành. Quyển sách đã giới thiệu tác phẩm Sấm Truyền Ca đến công chúng.
Từ ngữ: tuyên thánh đúng hơn là phong thánh: Từ phong thánh quen dùng trong tiếng Việt, nguyên ngữ từ tiếng Hy Lạp “Kanon” có nghĩa là thước đo hay tiêu chuẩn hay được nhìn nhận là có giá trị. Ý nghĩa nầy được tìm thấy trong động từ canonizare của tiếng La tinh, rồi canoniser trong tiếng Pháp và Canonize trong tiếng Anh. DHYThuan-ChaDiep.jpg Những tín hữu trong thế kỷ đầu đã phong thánh cho các Tông Đồ khi gọi các Ngài là Thánh. Những vị tử đạo cũng được gọi là thánh. Rồi những thế kỷ kế tiếp, những giáo dân có đời sống thánh thiện, nêu gương sáng và thành mực thước cho người đời cũng được tuyên bố “đang ở trên thiên đàng” tức là thánh. Như vậy theo từ Kanon và theo truyền thống, Giáo Hội không hề phong thánh hay không hề làm cho ai thành thánh cả. Giáo Hội, qua thời gian cầu nguyện lâu dài và qua những phép lạ được thực hiện nhờ lời chuyển cầu của ...
I. Nữ vương các thánh tử đạo 1) Tại sao Đức Maria được gọi là Nữ vương các thánh tử đạo? 2) Tại sao chọn Nữ vương các thánh tử đạo làm bổn mạng tỉnh dòng? 3) Tỉnh dòng có tình cảm gì đối với Nữ vương các thánh tử đạo? II. Nữ vương các chứng nhân 1) Tân ước có nền tảng cho tước hiệu Đức Maria “Nữ vương các chứng nhân” không? 2) Đức Maria đã sống đời chứng nhân đức tin như thế nào? 3) Tước hiệu “Nữ vương các chứng nhân” có ý nghĩa gì đối với chúng ta? ————- Đây không phải là lần đầu tiên tôi được mời chia sẻ với anh em nhân dịp bổn mạng tỉnh dòng. Vì không muốn lặp lại những điều đã trình bày cho nên năm nay tôi muốn tìm một lối tiếp cận mới liên quan đến danh hiệu bổn mạng tỉnh dòng, qua tựa đề: “Nữ Vương các tử đạo hay Nữ vương các chứng nhân?” Xin anh em hãy kiên nhẫn chịu tử đạo khi nghe bài suy niệm hơi dài, và có thể gây nhiều cú sốc.
Phan Tấn Thành Tại một số nhà thờ mới cất bên Việt Nam, người ta thấy trên Thập giá thay vì tượng Chúa chịu nạn lại có tượng Chúa Phục sinh hay Linh mục Thượng phẩm. Tại sao lại có sự thay đổi ấy? Từ sau công đồng Vaticanô II, người ta chứng kiến một số thay đổi trong lãnh vực phụng vụ. Thoạt tiên xem ra có vẻ mới, và khiến cho có người băn khoăn: phải chăng công đồng Vaticanô II đã thay đổi đức tin của Giáo hội? Thế nhưng nếu xét kỹ ra, thì nhiều sự thay đổi không hoàn toàn mới nhưng lấy lại truyền thống từ lâu đời của Giáo hội mà thôi. Tỉ như ngôn ngữ dùng trong phụng vụ: vào những thế kỷ đầu, phụng vụ được cử hành bằng tiếng địa phương, và thậm chí tại Rôma ngôn ngữ của phụng vụ là tiếng Hy-lạp, tức là tiếng giao thông thương mại thời đó, chứ không phải là tiếng La-tinh. Ta cũng có thể nói một cách tương tự như vậy về việc thay đổi tượng Chúa chịu nạn bằng tượng Chúa Phục sinh: đây không phải là sự canh tân, song là trở về nguồn.
Trả lời: Vâng, quả thật hộp sọ xuất hiện rất thường xuyên trong nghệ thuật Ki-tô Giáo và ngay cả ngày nay. Tôi có thể hiểu câu hỏi của bạn về thực hành này; bởi vì việc đặt hộp sọ ở khắp mọi nơi có vẻ như là một cái gì đó không lành mạnh – đặc biệt đối với những người đang sống trong một xã hội tiêu dùng và thế tục, nơi người ta thường lảng tránh suy nghĩ về những điều sâu sắc chẳng hạn như cái chết và những gì xảy ra sau đó. Một hộp sọ lành mạnh Khi nghệ thuật Ki-tô Giáo miêu tả những hộp sọ ở gần các vị thánh, nó tượng trưng cho sự khôn ngoan và thận trọng của các ngài. Hộp sọ là hình ảnh đại diện một cách sống động và hấp dẫn về cái chết của con người.
Giải đáp của Cha Edward McNamara, Dòng Đạo Binh Chúa Kitô (LC), giáo sư phụng vụ của Đại học Regina Apostolorum (Nữ Vương các Thánh Tông Đồ), Rôma. Hỏi: Thưa cha, liệu Thánh lễ cầu cho người khi còn sống là hiệu lực hơn (mạnh hơn) so với Thánh lễ cầu nguyện sau khi đã chết không? Thánh Anselmô (Anselm) và ĐGH Biển Đức XV đã nói Thánh lễ cầu cho khi còn sống là hiệu lực hơn. Xin cha bình luận việc này cho nhiểu người biết. - S. T., Chicago, Hoa Kỳ Đáp: Trong khi bạn đọc trên không cung cấp nguồn của các ý kiến này của thánh Anselmô (Anselm) và ĐGH Biển Đức XV, tôi vẫn cho đó là ý riêng của bạn ấy.Bằng cách nào chúng ta có thể nói rằng Thánh Lễ này là "mạnh hơn" (hiệu lực hơn) so với Thánh lễ kia?
Phụng vụ mừng lễ Các Thánh vào ngày đầu tháng 11, và ngày hôm sau, tưởng nhớ các người qua đời. Xét theo nguồn gốc lịch sử, lễ kính nào ra đời trước: việc kính nhớ các người qua đời có trước, hay lễ các thánh có trước? Linh mục Phan Tấn Thành trả lời. Để trả lời câu hỏi này, chúng ta phải phân biệt nhiều vấn đề. Việc kính nhớ các linh hồn qua đời là một chuyện, còn việc dành ra một ngày trong năm để tưởng nhớ tất cả các linh hồn là chuyện khác. Một cách tương tự như vậy, kính nhớ các thánh là một chuyện, còn dành ra một ngày để kính nhớ tất cả các thánh là một chuyện khác. Chúng ta sẽ cố gắng đi từng bước một: chúng ta hãy khởi hành với thực tại ngày nay, rồi chúng ta sẽ đi lùi ngược lại dòng lịch sử. Ngày nay lễ tưởng nhớ các người qua đời diễn ra vào ngày hôm sau lễ các thánh. Từ khi nào lịch phụng vụ ấn định việc cử hành hai ngày lễ đó?
Cùng với lời kinh cầu nguyện với Đức Mẹ đã được Đức Thánh Cha đọc trong video trong Thánh lễ do Đức Hồng y Giám quản Roma cử hành tại đền thánh Đức Mẹ Tình yêu Chúa ngày 11/03 vừa qua, Đức Thánh Cha đề nghị thêm một kinh nguyện để các tín hữu cầu nguyện vào cuối buổi đọc kinh Mân Côi, xin Đức Mẹ bảo vệ thế giới khỏi đại dịch. Hồng Thủy - Vatican
Đây là lời nguyện chính thức của Hội đồng Giám mục Việt Nam để cầu nguyện trong cơn dịch bệnh Covid-19. Lạy Thiên Chúa Ba Ngôi toàn năng chúng con đang họp nhau cầu nguyện, tha thiết nài xin cho cơn dịch bệnh mau chấm dứt. Lạy Chúa Cha giàu lòng thương xót xin nhìn đến nỗi thống khổ của đoàn con trên khắp thế giới, đặc biệt tại những nơi dịch bệnh đang hoành hành. Xin củng cố đức tin của chúng con, cho chúng con hoàn toàn tín thác vào tình yêu quan phòng của Cha. Lạy Chúa Giêsu là Đấng cứu độ duy nhất, là vị lương y đầy quyền năng và lòng thương xót, xin thương cho các bệnh nhân sớm được chữa lành, và an ủi các gia đình đang gặp khó khăn thử thách. Xin cho lời chúng con khiêm tốn cầu nguyện, được chạm tới trái tim nhân lành của Chúa, xin giảm bớt gánh nặng khổ đau, và cho chúng con cảm nhận được bàn tay Chúa đang ân cần nâng đỡ chúng con.
Bảo Trợ