Biển Đông : Bảo Vệ Sinh Thái, Chìa Khóa Giải Quyết Tranh Chấp

23 Tháng Tám 20165:15 CH(Xem: 1016)

Biển Đông : Bảo vệ sinh thái, chìa khóa giải quyết tranh chấp

mediaMột góc "khu bảo tồn sinh quyển" Abb Atoll, Ấn Độ Dương (thuộc quần đảo Maldives), được UNESCO xếp hạng năm 2011.Ảnh : Wikipedia

Trong các tranh chấp tại Biển Đông giữa Trung Quốc và nhiều quốc gia Đông Nam Á, cá và san hô là các nạn nhân tương đối ít được chú ý. Tuy nhiên, phán quyết của Tòa Trọng tài thường trực La Haye ngày 12/07/2016 về vụ Philippines kiện các tham vọng chủ quyền của Trung Quốc tại Biển Đông đặc biệt nhấn mạnh đến khía cạnh môi trường của các tranh chấp. Trong bối cảnh nguy cơ khủng hoảng sinh thái tại Biển Đông bị coi rất nhẹ, nhiều nhà khoa học khuyến nghị : Bảo vệ sinh thái cần phải coi là một chìa khóa để giải quyết tranh chấp.

Tòa án La Haye nhận định các hoạt động bồi đắp và xây dựng nhân tạo « trên 7 cấu trúc của Quần đảo Trường Sa gần đây của Trung Quốc đã gây hại nghiêm trọng với môi trường của các rặng san hô và vi phạm nghĩa vụ bảo tồn và bảo vệ các hệ sinh thái dễ bị tổn thương và môi trường sống của các loài đang suy yếu, bị đe doạ và bị huỷ diệt ». Khía cạnh môi trường được nêu bật trong phán quyết của Tòa án quốc tế khơi dậy niềm tin trong giới bảo vệ sinh thái, là môi trường có thể là « một chìa khóa » góp phần giải quyết cuộc xung đột tại Biển Đông.

Cho đến nay, dường như công luận chú ý nhiều hơn vào vấn đề tự do và an toàn hàng hải trên con đường huyết mạch của giao thông đường biển toàn cầu, với hơn 5.000 tỉ đô la hàng hóa qua lại hàng năm và tiềm năng dầu mỏ tại Biển Đông, ước tính hơn 7,5 tỉ baril, tuy nhiên giá trị của Biển Đông về thực phẩm và sinh thái cũng hết sức lớn. Trong thời gian gần đây, các nhà khoa học ngày càng chú ý đến các tổn hại về môi trường hết sức nghiêm trọng, không chỉ do việc bồi đắp các đảo nhân tạo, mà còn do việc khai thác hải sản bừa bãi. « Biển Đông bên bờ thảm họa sinh thái » là cảnh báo của The Asia Maritime Transparency Initiative (AMTI).

San hô bị thảm sát

Trong một khu vực tương đối nhỏ so với tổng diện tích biển toàn cầu, với khoảng 3 triệu km² ở vùng khí hậu cận nhiệt đới, nhưng Biển Đông là nơi cư trú của 37% giống cá của toàn thế giới và đến 76% loài san hô.

Giáo sư Edgardo Gomez, nhà sinh học Philippines, thuộc Viện khoa học hải dương, University of the Philippines (đượctrang mạng Quartz.com dẫn lời), nhận định : Biển Đông là «một thiên đường dưới nước ».

Chỉ riêng hệ sinh thái san hô được các nhà khoa học ước tính giá trị khoảng 350.000 đô la đối với một hecta trong một năm. Theo các chuyên gia, sinh thái san hô mang lại giá trị hơn bất cứ loại sinh thái nào khác, như sinh thái rừng rậm nhiệt đới, hay sinh thái rừng ngập nước...

Tuy nhiên, san hô đã bị tàn phá kinh hoàng trong những năm gần đây. Theo giáo sư John McManus, chuyên gia về sinh vật biển đại học Miami, các hoạt động khai thác hải sản của con người đã hủy hoại đến 16.200 hecta (tương đương 162 km²) san hô, mà trong đó 98% là do người Trung Quốc. Thiệt hại ước tính 6 tỷ đô la/năm. Diện tích san hô tại Biển Đông cứ một thập niên lại giảm 16%.

Theo các hình ảnh vệ tinh mới đây, diện tích san hô bị phá hủy do người Trung Quốc khai thác (đặc biệt để phục vụ trang trí nhà cửa) là tương đương 104 km² (Bài "Giant Clam Poaching Wipes Out Reefs in South China Sea"). Việc ngư dân tăng cường khai thác hải sản bằng việc sử dụng thuốc nổ hay xyanua cũng tham gia vào quá trình san hô bị phá hủy với tốc độ rất nhanh chóng này. Bên cạnh đó, 58 km² san hô bị hủy diệt trong quá trình Trung Quốc bồi đắp các đảo nhân tạo.

Cá chỉ còn bằng 1/10 so với giữa thế kỷ trước

Bên cạnh các tổn hại nghiêm trọng về san hô, sự vắng mặt của một quy định bảo vệ môi trường và sinh thái tại Biển Đông cũng khiến tôm cá của khu vực này đang trên được bị đánh bắt đến mức cạn kiệt. Biển Đông vốn là nơi khai thác hải sản chiếm 12% sản lượng toàn cầu, với tổng trị giá 21,8 tỷ đô la. Nghề cá sử dụng khoảng 4 triệu nhân công, và là nguồn thực phẩm cho hàng trăm triệu cư dân ven bờ.

Trang mạng thông tin độc lập Theconversation.com dẫn lại một nghiên cứu hồi năm ngoái, theo đó, 55% tàu cá trên toàn thế giới hoạt động tại Biển Đông (Bài « Cá, chứ không phải dầu lửa, là trung tâm của tranh chấp Biển Đông »). Trữ lượng cá tại Biển Đông hiện nay giảm từ 70 đến 95% so với những năm 1950. Theo ước tính của nhiều chuyên gia, tới năm 2045, đối với mỗi loài cá được nghiên cứu, trữ lượng sẽ còn giảm thêm từ 9% đến 59%.

Ước tính trong 30 năm vừa qua, lượng cá đánh bắt được mỗi giờ chỉ còn bằng một phần ba so so với trước. Điều đó có nghĩa là phải nỗ lực gấp bội để có thể đánh bắt được cùng một lượng cá so với trước đây.

Trong số các quốc gia ven bờ Biển Đông, Trung Quốc cũng là nước đang triển khai một chính sách khai thác quy mô lớn, vừa vì mục tiêu kinh tế, vừa nhằm khẳng định các yêu sách chủ quyền đối với gần như toàn bộ vùng biển này. Trước khi phán quyết La Haye được đưa ra, tương lai sinh thái Biển Đông là vô cùng u ám.

Bên cạnh việc khai thác bừa bãi, bồi lấp đảo quy mô lớn, thì tình trạng giao thông hàng hải gia tăng, và sự phát triển nhiều khu công nghiệp ven bờ biển, với hệ quả là vô số rác thải, độc chất, cũng là các nhân tố đe dọa nghiêm trọng môi trường Biển Đông (xem bài "Cá biển chết ở Việt Nam: Hệ lụy có thể kéo dài 50 năm").

Vẫn theo giáo sư John McManus, đại học Miami, cộng đồng quốc tế đang chứng kiến « sự sụp đổ của nghề ngư nghiệp tại Biển Đông, và hàng trăm thảm họa về môi trường tại khu vực này, đe dọa cuộc sống hàng trăm triệu cư dân ven bờ ».

ASEAN phải đạt thỏa thuận về « an ninh sinh thái »

Tuy nhiên tình hình đã thay đổi với phán quyết La Haye. Ông James Borton - nhà nghiên cứu tại học viện Mỹ-Châu Á ở Washington - DC, tác giả cuốn « South China Sea: Challenges and Promises/Biển Đông, các thách thách thức và hứa hẹn » - ví phán quyết của tòa án La Haye như « một siêu bão » đối với lập trường đầy tham vọng bất chấp láng giềng của Trung Quốc, cho dù Bắc Kinh tuyên bố không thừa nhận phán quyết nói trên.

Trong bài viết « Hậu La Haye… », chuyên gia về Biển Đông James Borton nhấn mạnh đến sứ mạng hàng đầu của ASEAN trong tranh chấp Biển Đông là tìm ra « một thỏa thuận về an ninh sinh thái ».

Trong bối cảnh môi trường và sinh thái Biển Đông lâm nguy, các nhà khoa học khuyến cáo Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á gia tăng hợp tác khoa học về biển, đặc biệt là mở cửa cho việc nghiên cứu tại các đảo và rạn san hô tranh chấp, dẹp qua một bên mọi bất đồng về chủ quyền, đổi mới phương thức hoạt động của Viện ASEAN vì Hòa Bình và Hòa Giải (APIR), lập ra một ủy ban khoa học để xem xét kinh nghiệm của Hiệp Ước Nam Cực trong việc quản lý Biển Đông, xúc tiến đối thoại để thành lập một công viên biển hòa bình, tại khu vực Trường Sa….

Dự án công viên hòa bình, hoặc ít nhất là một công viên biển được bảo vệ tại Trường sa, Biển Đông, "có thể là bước đi đầu tiên để cải thiện sự tin cậy lẫn nhau giữa các nước láng giềng".

Theo nhà sinh vật biển John McManus, một thỏa thuận về khai thác hải sản tại Biển Đông là một điều cần thiết, một giải pháp duy nhất để tránh cho nghề cá Biển Đông rơi vào sụp đổ, và đây cũng là con đường đi đúng để tránh nguy cơ xung đột quân sự gia tăng. Giáo sư McManus lạc quan cho rằng hiện nay triển vọng cho một thỏa thuận sinh thái như vậy tăng lên rất nhiều, sau phán quyết La Haye (ông đưa ra hình ảnh : xác xuất 1/10 so với 1/100 trước đây).
Theo RFI

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Tốc độ tàu cao tốc 200-350 km/h trên toàn mạng lưới đường sắt cao tốc của Trung Quốc đã mang lại ấn tượng về sự phát triển đáng kinh ngạc trong vài thập kỷ qua. Tuy nhiên, mạng lưới đường sắt này không thành công như quảng cáo, nó đã trở thành ác mộng của nền kinh tế. Đáng tiếc là Trung Quốc đã kịp xuất khẩu ác mộng này sang Việt Nam 10 năm trước. Global Times đưa tin, mạng lưới đường sắt cao tốc của Trung Quốc có phạm vi khoảng 38.000 km và Bắc Kinh có kế hoạch sẽ mở rộng mạng lưới này lên quy mô 7 triệu km đến năm 2035. Năm 2008, chuyến tàu cao tốc đầu tiên đã xuất phát từ ga đường sắt Nam Bắc Kinh, ngày nay sau 13 năm, Trung Quốc đã thiết lập mạng lưới đường sắt cao tốc lớn nhất thế giới.
Cuộc diệt chủng của ĐCSTQ đối với Tây Tạng là lời cảnh tỉnh cho tất cả chúng ta Trong bài phát biểu đánh dấu 70 năm ĐCSTQ tiến quân vào và kiểm soát Tây Tạng, dù ông Uông Dương đã hết lời ca ngợi những thành tựu huy hoàng của ĐCSTQ tại Tây Tạng, ông Anders Corr lại nhận thấy những bằng chứng hiển nhiên về tội ác diệt chủng và nỗi ám ảnh của ĐCSTQ đối với việc phải hủy diệt tín ngưỡng và tôn giáo. Ở bài bình luận này, tác giả Corr sẽ phân tích và chỉ rõ ra những dấu hiệu và bằng chứng về tội ác của ĐCSTQ, thông qua phát biểu của ông Uông Dương.
Thống đốc bang California (Mỹ) vừa ban hành đạo luật gây xôn xao dư luận: ‘Cho phép trẻ vị thành niên phẫu thuật chuyển đổi giới tính hoặc phá thai mà không cần thông báo cho phụ huynh’. Liệu đây là một đạo luật cấp tiến, tự do hay sẽ tiếp tay cho tội ác và sự suy đồi về đạo đức? Trẻ được phá thai hoặc chuyển giới mà không cần thông báo cho phụ huynh Ngày 22/9 vừa qua, Thống đốc bang California, ông Gavin Newsom đã ban hành hai đạo luật cho phép trẻ vị thành niên có thể thực hiện một số thủ tục y tế như phẫu thuật chuyển đổi giới tính và phá thai mà không cần thông báo với phụ huynh. Một trong hai điều luật là AB-1184, trong đó cấm các công ty bảo hiểm sức khỏe yêu cầu có sự ủy quyền của cha mẹ, trước khi những đứa trẻ bắt đầu làm thủ tục cho các dịch vụ y tế.
Trong bối cảnh chính phủ Afghanistan sụp đổ, người Mỹ và những người Afghanistan làm việc cho Hoa Kỳ buộc phải sơ tán, người ta không khỏi băn khoăn rằng: Liệu điều tương tự có thể xảy ra ở những quốc gia mà Mỹ đang bảo trợ? Và có tác động như thế nào đối với Đài Loan và các đồng minh khác của Mỹ ở khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương?
Gần đây, dư luận dậy sóng trước tuyên bố của một vị giáo sư rằng học phí cấp đại học nên được coi là rào cản kỹ thuật cho đầu vào. Tư tưởng học phí giống như một khoản đầu tư [ở một số ngành nghề] vốn là tư tưởng được chấp thuận ở các nước có nền giáo dục tiến bộ, nhưng áp dụng tại Việt Nam thì dường như chưa hợp lý lắm. Tăng, giảm hay miễn phí giáo dục? Phát biểu tại diễn đàn Quốc hội sáng 25/7 vừa qua, GS Lê Quân (đại biểu Cà Mau) nói: “Chúng ta cũng phải đảm bảo rằng học phí cũng là một rào cản kỹ thuật để tránh việc học sinh lao vào học đại học và trở thành "học đại"", phải coi học phí đối với người học là nguồn đầu tư, thông lệ quốc tế học phí bao giờ cũng bằng gần hai năm tiền lương sau khi tốt nghiệp.
Liệu các cuộc tấn công mạng do Bắc Kinh hậu thuẫn gần đây nhắm vào Mỹ có dẫn đến chiến tranh thật? Đây là câu hỏi mà nhà kinh tế học người Mỹ David P. Goldman đã đặt ra gần đây. Một câu hỏi quan trọng, hiện hữu và rất khó trả lời. Tuy nhiên, vào tháng trước, Tổng thống Joe Biden đã cảnh báo rằng các cuộc tấn công mạng gần đây, bao gồm việc tấn công mạng các cơ quan chính phủ và cơ sở hạ tầng của Hoa Kỳ, rất có thể dẫn đến một “cuộc chiến nổ súng”. Ông Biden tiếp tục: “Tôi nghĩ có nhiều khả năng chúng ta sẽ kết thúc — à, nếu chúng ta có kết cục là một cuộc chiến, một cuộc chiến tranh thực sự với một cường quốc, thì đó sẽ là hậu quả của một tấn công mạng với hậu quả rất lớn”, "cường quốc" đó, tất nhiên, là Trung Quốc. Như ông Goldman lưu ý: "Nận xét của ông Biden được đưa ra trong một văn bản do văn phòng báo chí Tòa Bạch Ốc lưu hành", chúng không phải là sản phẩm của “loạn ngôn tự phát”. Không, họ đã cố tình.
Bệnh dịch lây lan trên toàn quốc là một mối đe dọa tiềm tàng đối với ĐCSTQ. Hiện tại, Delta đang điều khiển nhiều xã hội trên khắp thế giới, nhưng Trung Quốc dường như là nước duy nhất mà biến thể này có thể kết thúc nhiệm kỳ của nhóm cầm quyền. COVID-19 đang tàn phá Trung Quốc Biến thể Delta đang lan nhanh trên khắp đại lục và Bắc Kinh không có giải pháp nào mới ngoài các biện pháp vũ lực tàn bạo, độc tài toàn trị — và đổ lỗi cho người nước ngoài. Hàng triệu người dân Trung Quốc hiện đang bị phong tỏa. Các ca nhiễm gần đây tạo thành đợt bùng phát coronavirus trên diện rộng, thậm chí còn rộng hơn so với đợt bùng phát vào năm ngoái. Đợt bùng phát mới này đã nhanh chóng vượt ra ngoài tầm kiểm soát của các nhà chức trách và phá vỡ kế hoạch tuyên truyền cốt lõi của Đảng cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ).
Và nay nước Mỹ đang dần tiến vào một xã hội tự do cực tả, nơi xấu đã trở thành tốt và tốt đã trở thành xấu. Những điều tưởng chừng vô lý thì nay là hiện thực, ví như người nhập cư bất hợp pháp được ra vào tự do trên đất Mỹ, và được hưởng quyền “ưu đãi” hơn cả một công dân Mỹ “chính cống”... Khi những bậc lão thành vừa nhâm nhi cà phê vừa hồi tưởng lại quãng thời gian yên bình cách đây hơn nửa kỷ bằng câu mở đầu “muôn thuở”: “Hồi ấy, bố/mẹ ….”, thì bạn đừng than vãn: “Biết rồi, khổ lắm nói mãi”. Bởi nếu có cỗ máy thời gian cho phép bạn quay trở lại thời điểm cách nay hơn nửa thế kỷ, bạn có gật đầu không? Hơn nửa thế kỷ trước, sẽ không có Internet, không có smartphone, điện thì chập chờn và tất nhiên nếu nhà nào sở hữu một cái tivi đen trắng thì trở thành trung tâm "chiếu phim" cho cả cộng đồng.
Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) đã dựa vào hàng loạt lời nói dối về kinh tế để làm lung lay nhận thức của nhiều người về tình hình hiện tại. Trong bài viết này, chúng tôi xem xét một số lời nói dối lớn nhất và đưa ra bức tranh thực sự đằng sau những lời nói dối đó.
Trong 4 năm nhiệm kỳ của Tổng thống Trump, Big Media đã chế tạo ra bao nhiêu lời dối trá để bủa vây ông? Đã có bao nhiêu thông tin bị lật tẩy giúp công chúng được giải khai sự thật? Mời quý độc giả cùng NTD Việt Nam điểm lại 8 lời dối trá nổi bật nhất về ông Trump của Big Media, trong lúc chờ đợi các thông tin cập nhật từ các cuộc thanh tra kết quả bầu cử tại các tiểu bang Arizona và Georgia. Trong suốt 4 năm dẫn dắt nước Mỹ, cựu Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump đã đạt được rất nhiều thành tựu. Trong nước, ông Trump không chỉ lấp đầy nền sản xuất rỗng sau nhiều thập kỷ hoang phế, mang lại việc làm và sức tăng trưởng bền hơn cho nền kinh tế, ông còn khôi phục các giá trị truyền thống đang bị bào mòn, xâm lấn triệt để bởi tư tưởng cấp tiến như bảo vệ thai nhi.
Bảo Trợ