Việc Sùng Kính Mẹ Maria Vào Thởi Trung Cổ

11 Tháng Tám 201611:29 CH(Xem: 1582)
  • Tác giả :

Việc sùng kính Mẹ Maria vào thởi Trung Cổ

** Trong lịch sử đế quốc Roma người ta ghi nhận sự tách rời giữa đế quốc Roma Đông phương gọi là đế quốc Bisantin và đế quốc Roma Tây phương. Từ Bisantin phát xuất từ tên gọi Bisansio là tên cũ của thành phố Costantinopoli do hoàng đế maria-crownCostantino thành lập và là thủ đô của Roma mới. Các nhà nghiên cứu và sử gia không thống nhất với nhau về thời điểm bắt đầu gọi đế quốc Bisantin. Kiểu nói đế quốc Roma Đông phương đã bắt đầu phổ biến dưới thời hoàng đế Valente và đế quốc Bisantin có nền văn hóa tiếng Hy Lạp, tách rời khỏi đế quốc Roma Tây phương có nền văn hóa hầu như triệt để Latinh. Có học giả cho rằng đế quốc Bisantin bắt đầu sau khi hoàng đế Teodosio I qua đời năm 395, và hai đế quốc hoàn toàn tách rời nhau. Nhiều người khác cho rằng nó bắt đầu năm 330 khi hoàng đế Costantino khánh thành Costantinopoli là thành Roma mới. Nhiều vị khác đề nghị năm 476 là năm chấm dứt đế quốc Roma Tây phương. Có vị đề nghị năm 565 là năm hoàng đế Giustiniano, hoàng đế sau cùng của tiếng Latinh, qua đời. Vài sử gia lại cho rằng đế quốc Bisantin bắt đầu sau khi hoàng đế Eraclito lên ngôi và thay đổi các cơ cấu của đế quốc.

Thật ra, ít nhất cho tới thế kỷ thứ VII nhiều người vẫn dùng cả hai từ Roma và Bisantin để gọi đế quốc Đông Phương.  Sau một cuộc khủng hoảng dài đế quốc Bisantin đã bị các thập tự quân tàn phá năm 1204. Nó được tái lập vào năm 1261, nhưng ngưng hiện hữu vào năm 1453, khi đạo binh đế quốc Ottoman của Thổ Nhĩ Kỳ do Mohammad II đánh chiếm Costantinopoli.

Với biến cố tách rời từ từ của đế quốc đông phương khỏi thế giới tây phương  việc sùng kính Mẹ Maria cũng chịu một sự chuyển biến khác trong Giáo Hội Bisantin và trong Giáo Hội tây phương.

Bên Đông Phương khung cảnh lịch sử xã hội  và văn hóa ổn định trong nhiều thế kỷ. Việc chú ý tới Đức Maria gắn liền với nhiệm vụ của Mẹ trong việc nhập thể và luôn luôn bị điều kiện hóa bởi kiểu tương quan được gán cho Mẹ đối với Chúa Giêsu Con Mẹ. Khuynh hướng Êphêxô miêu tả Mẹ với một loại hào quang siêu việt và thần linh hóa. Trong khi khuynh hướng Calcedonia đề cao mối dây nối kết Mẹ với con người của Đấng Cứu Thế, là Đấng đã nhận lấy hình hài của người tôi tớ trong các điều kiện hạ mình và khiêm nhường. Trong cả hai trường hợp tương quan đặc biệt cá nhân của Mẹ với Con Thiên Chúa luôn khích lệ tín hữu chạy đến khẩn cầu Mẹ bầu cử cho họ.

** Bên Tây Phương, trái lại, chúng ta có một xã hội chịu ảnh hưởng sâu đậm của các thay đổi sâu rộng. Các điều kiện xã hội bất an, các nguy hiểm, các cuộc chiến do nạn xâm lăng gây ra cũng như tiến trình thuần hóa các dân rợ từ phiá đế quốc Roma và việc hội nhập của các dân này vào tâm thức và nền văn minh cổ điển, tạo thuận tiện cho lòng sùng mộ các nhân vật mạnh mẽ thành công trong việc chiếm hữu được một vị thế ưu tiên và có uy tín trong xã hội. Đối nghịch với hiện tượng tự khẳng định này của các nhân vật mạnh mẽ trong nghĩa duy cá nhân là đa số đám đông  vô danh, nhưng là những người đầu tiên cần bảo vệ các quyền cơ bản của họ.

Tinh trạng này cũng phản ánh trong cuộc sống của Giáo Hội, trong đó các tương quan giữa hàng giáo phẩm và giáo dân  cũng tiến triển trong nghĩa duy cá nhân.  Giáo dân ngày càng ít coi mình là các chi thể sống động và tích cực của Giáo Hội với nhiệm vụ và trách nhiệm riêng của mình, và họ hướng tới chỗ ẩn nấp sau trách nhiệm tập thể của cơ cấu, và coi mình là những kẻ thuộc quyền đơn sơ. Các chủ chăn và các thừa tác viên phụng tự, thay vì là những người phục vụ dân Thiên Chúa, thì lại tự giới thiệu mình như các lãnh tụ. Trong bối cảnh đó người ta đánh mất đi ý thức bản chất hiền mẫu của Giáo Hội và  coi Giáo Hội như một xã hội phẩm trật nhiều hơn.

Từ đó nảy sinh ra một khuynh hướng rõ ràng lấy Đức Maria thay thế cho Giáo Hội, tình hiền mẫu của Đức Trinh Nữ thay thế cho tình hiền mẫu của Giáo Hội. Và thế là người ta phổ biến một lòng tôn sùng Mẹ Maria với các sắc thái đặc biệt của ý thức thời trung cổ. Nói chung người ta ghi nhận một khuynh hướng cá nhân chủ nghĩa trong việc thực hành cuộc sống kitô, coi các giá trị cá nhân như các giá trị tuyệt đối. Một cách có ý nghĩa người ta cũng giải thích các chân lý đức tin theo chiều hướng dậy luân lý, và đánh giá luân lý đạo đức cao hành động của con người, được xem xét trong các khía cạnh cá nhân của nó. Ý niệm về mầu nhiệm cứu chuộc được hiểu theo khuynh hướng duy cá nhân chủ nghĩa, và các vấn đề đặt ra cho kitô hữu trong các tương quan của họ với Thiên Chúa và với người khác được giải quyết trong lối tiếp cận hoàn toàn có tính cách thân mật tâm tình.

** Trong một bầu khí tôn giáo loại này Đức Trinh Nữ bị các tín hữu lôi kéo vào trong một tương quan duy cá nhân chủ nghĩa rất mạnh mẽ. Nhưng hình ảnh của Mẹ không phải là hình ảnh của một bà mẹ khiêm nhường, vâng phục và phụng sự, bởi vì ơn thánh ngoại thường và các đặc sủng nơi Mẹ không được coi như là các ơn nhận được để phục vụ dân Chúa, nhưng như là một phần thưởng cá nhân, hiệu quả của các tương quan duy nhất và đặc tuyển của Mẹ với Chúa. Tương đương với việc tán tụng hàng giáo phẩm là việc tán tụng Đức Trinh Nữ. Người ta đề cao sự cao cả, phẩm giá, sự thánh thiện và quyền năng của Mẹ. Như là Mẹ Chúa Kitô, Thủ Lãnh Giáo Hội, Mẹ Maria có một quyền bính thực thụ riêng và có uy tín trên tín hữu, thuộc thân mình và là chi thể của Chúa Kitô.

Tuy nhiên, vị thế cao cả trong đó Đức Trinh Nữ  được đặt lên không gây hại cho khả thể các tương quan cá nhân với Mẹ. Tín hữu cảm thấy cần các gương mẫu hành xử tôn giáo, và họ tìm thấy chúng nơi Đức Mẹ và các Thánh. Sư chú ý của họ di chuyển từ việc coi vai trò của Mẹ trong biến cố nhập thể sang việc chiêm ngưỡng mầu nhiệm sự tham dự của Mẹ vào hiến tế cứu chuộc của Chúa Kitô, có nghĩa là di chuyển từ Nagiarét lên Núi Sọ. Vào thế kỷ XII lòng đạo đức kitô thích suy gẫm về sự hiện diện của Mẹ dưới chân thập giá, và gán cho Mẹ việc dâng một hiến tế riêng và đích thật lên Thiên Chúa Cha vĩnh cửu, là Đấng đặt Mẹ bên cạnh Chúa Con trong vị thế của một vị trung gian ơn cứu độ. Vì thế Mẹ ít được coi như Mẹ Chúa Cứu Thế nhưng được coi như là Người cộng tác với Chúa. Điều này giải thích lý do việc chú ý tới các đặc ân của Mẹ, các điều liên quan tới con người của Mẹ và các khung cảnh của cuộc đời Mẹ.

Một thái độ như thế có thể dẫn tới các biểu lộ sự tò mò quá đáng trong việc điều tra cuộc sống, hoạt động, các tư tưởng, các xác tín và các tâm tình của Mẹ. Nghệ thuật và nền văn chương tôn giáo thời đó cho thấy người ta đã dễ rơi vào cám dỗ này chừng nào! Nghệ thuật thánh mẫu thế kỷ thứ XIII trưng bầy Đức Maria như các gương mặt thiếu nữ ăn mặc thanh lịch và biết điệu theo trang phục thời đó; hay các hình vẽ trình bầy một cách thê thảm một Đức Trinh Nữ đứng dưới chân thập giá, tan nát vì khổ đau và sắp ngất xỉu. Các sách đạo đức, các sách bài giảng  và thần học đặt vấn nạn liên quan tới các đặc thái diện mạo của Đức Mẹ, cũng như các phản ứng tâm lý và cảm xúc của Mẹ.

** Ngoải ra, các tín hữu kitô thời đó khẩn cầu Mẹ Maria như là Đấng cứu chữa họ trong các khốn khó của cuộc sống, nhất là trong nỗ lực bảo đảm ơn cứu rỗi đời đời cho họ, là vấn đề nền tảng của con người thời trung cổ. Trung thành với Chúa Giêsu trong các ngày đen tối nhất của cuộc khổ nạn và cái chết của Người duy một mình Mẹ Maria là Giáo Hội trong các ngày sầu thương ấy. Vì thế dấy lên nơi các tín hữu bản năng đặt để Đức Trinh Nữ trong một vị thế cao hơn vị thế của Giáo Hội; hầu như giữa trời và đất, giữa Giáo Hội và Chúa Kitô, sẵn sàng bầu cử và làm trung gian cho chúng ta, theo giáo thuyết của thánh Bênađô. Kết qủa là Mẹ xuất hiện như một bà mẹ tinh thần đích thật của các tín hữu, như là mẹ của lòng xót thương, sự cứu giúp của kitô hữu, tất cả là các tước hiệu ưa thích của nền tu đức đan viện Cluny.

Như thế so sánh với thời của các Giáo Phụ viễn tượng đã thay đổi. Mẹ Maria không còn được nhìn trong sự hiện diện của Mẹ bên cạnh Chúa Kitô trên trần gian, nhưng bên cạnh Chúa Kitô trên thiên quốc, nơi Mẹ hoạt động cho chúng ta; không phải qua các can thiệp của Mẹ vào cuộc sống của Chúa Giêsu, nhưng trong hoạt động của Mẹ trong cuộc sống của Giáo Hội; không phải như là Mẹ của Thiên Chúa nhưng như là Mẹ của loài người. Yếu tố kitô học liên tục hiện diện trong ý thức của kitô hữu, mặc dù ít ý thức hơn về tương quan giữa Đức Maria và Chúa Kitô vật lý các kitô hữu nhìn tương quan giữa Đức Maria và Giáo Hội  dưới ánh sáng của ý niệm này, như là thân mình mầu nhiệm của Chúa.

TMH 457

Linh Tiến Khải

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Xin gửi bài này đặc biệt đến các Bà Mẹ trong Hội các Bà Mẹ Công Giáo mà Thánh Nữ Monica là Thánh Bổn Mạng, nhất là các Bà Mẹ đang đau khổ trong nước mắt để cầu nguyện cho chồng và cho con.../25 Tháng Tám 2012(Xem: 8569) Lm. Anphong Trần Đức Phương - Tinmungnet /
Phan Tấn Thành Dẫn nhập Trong các tín biểu, lời tuyên xưng về Giáo hội (Ecclesia) thường được kèm theo vài tính từ, với con số thay đổi. Tín biểu Epistula Apostolorum (khoảng năm 170) chỉ gồm năm mệnh đề, và mệnh đề thứ bốn là: “et in sanctam Ecclesiam” (Denz-Sch 1). “Thánh thiện” là đặc điểm cổ nhất, nói lên sự thuộc về Thiên Chúa. Trong “Tín biểu các thánh tông đồ”, ngoài “sancta” khi thêm “catholica” (sanctam Ecclesiam catholicam); bên Đông phương, tín biểu của Cyrillô Giêrusalem (khoảng năm 348) viết «una santa Chiesa catholica» (Denz-Sch 41) và của Epiphaniô năm 374 “una sola sancta Ecclesia catholica et apostolica” (Denz-Sch 42), đưa đến công thức của công đồng Constantinopolis năm 381 « unam sanctam catholicam et apostolicam Ecclesiam». Trong lịch sử thần học, đã có những quan niệm khác nhau về bản chất của bốn đặc tính này cũng như công dụng của chúng.
Nhiều sách về Đức Mẹ đã được các học giả Tin lành viết, nhiều cuốn cổ vũ người Tin lành nhìn sát hơn vào Đức Mẹ. Nhiều câu chuyện về các Phật tử và những người ngoài Công giáo đã đến viếng Đền Đức Mẹ Lộ Đức. Mặt khác, các tín đồ Hồi giáo cũng rất tôn trọng Đức Mẹ. Thật vậy, Đức Mẹ được nói đến nhiều lần trong kinh Koran, sách thánh của Hồi giáo, nhiều hơn cả trong Kinh thánh!/17 Tháng Bảy 2014 (Xem: 4787) /
NHỮNG SAI PHẠM CỦA SỨ ĐIỆP TỪ TRỜI 5. Các vấn đề liên hệ đến Hội Thánh. ▶5.1. Chối bỏ Huấn quyền của Hội Thánh. *SỨ ĐIỆP 06-04-2011. "...không một ai trong các con xứng đáng để phán xét hoặc tra xét về người khác. Không ai có quyền hạn hoặc hiểu biết thiêng liêng để đưa ra bất cứ sự đánh giá nào về đạo đức nơi người khác" NHẬN ĐỊNH. Nói như thế bà Maria Divine Mercy rõ ràng đã phủ nhận Huấn quyền của Hội Thánh. ▶5.2. Phủ nhận vai trò của Chúa Thánh Thần trong Hội Thánh. *SỨ ĐIỆP 12-04-2012. "Cơ mật viện Hồng Y bầu Giáo hoàng mới là những người theo bè Tam điểm, là tổ chức độc ác của Satan." NHẬN ĐỊNH. Rõ ràng bà Maria Divine Mercy không tin rằng Thánh Thần của Đức Kitô vẫn đang hiện diện và hoạt động trong Hội Thánh, không ngừng hướng dẫn Hội Thánh đạt đến chân lý toàn vẹn của Đức Kitô.
Nguồn gốc của mọi thiên chức linh mục Chủ đề linh mục là đề tài rất được quan tâm và mang tính thời sự trong thế kỷ qua. Công Đồng Vaticanô II đã dành trọn một tài liệu cho chủ đề này với sắc lệnh Presbyterorum Ordinis; năm 1992, thánh Gioan Phaolô II đã gửi tới toàn thể Hội Thánh tông huấn hậu thượng hội đồng Pastores Dabo Vobis, về việc huấn luyện các linh mục trong bối cảnh hiện nay; tiếp đến, khi công bố năm thánh linh mục 2009-2010, Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI đã phác thảo cách vắn gọn nhưng rất sâu sắc dung mạo linh mục dưới ánh sáng cuộc đời của Cha Sở xứ Ars. Cùng với đó là vô số những suy tư của nhiều tác giả trên thế giới được thực hiện và nhiều cuốn sách viết về chân dung và sứ vụ của linh mục qua dòng thời gian, trong đó rất nhiều tác phẩm có giá trị.
Trải qua lịch sử, Chúa nhật sau lễ Phục sinh đã được gọi bằng nhiều danh xưng khác nhau: Chúa nhật tám ngày sau lễ Phục sinh, Chúa nhật “Áo trắng” (in Albis), bởi vì các tân tòng cởi chiếc áo trắng mà họ đã lãnh nhận khi lãnh các bí tích khai tâm vào đêm Vọng Phục sinh, đánh dấu việc kết thúc giai đoạn huấn giáo khai tâm. Tại vài Giáo hội bên Ấn độ (tục truyền do thánh Tôma tông đồ thành lập), Chúa nhật sau lễ Phục sinh được gọi là chúa nhật thánh Tôma, bởi vì bài Phúc âm thuật lại cuộc gặp gỡ của Người với Chúa Kitô. Gần đây, Đức Gioan Phaolô II muốn thêm một danh xưng nữa, đó là “Chúa nhật kính Lòng Chúa Thương Xót”. Trong Năm Thánh 2000, Đức Gioan Phaolô II đã ấn định rằng trong toàn thể Hội thánh, Chúa nhật sau lễ Phục sinh, ngoài danh hiệu Chúa Nhật Áo trắng, sẽ còn được đặt tên là Chúa nhật kính Lòng Chúa Thương Xót.
Hôm thứ Sáu 12 tháng Hai, 2021, Mùng Một Tết Tân Sửu, Phòng Báo Chí Tòa Thánh đã công bố Sứ điệp Mùa Chay Thánh 2021 của Đức Thánh Cha Phanxicô. Nguyên bản tiếng Ý và các ngôn ngữ khác có thể xem tại đây. Dưới đây là bản dịch toàn văn sang Việt Ngữ. Sứ điệp Mùa Chay 2021 của Đức Thánh Cha Phanxicô “Nào chúng ta lên Giêrusalem” (Mt 20:18) Mùa Chay: Thời gian canh tân Niềm tin, Hy vọng và Tình yêu Anh chị em thân mến, Chúa Giêsu đã mặc khải cho các môn đệ ý nghĩa sâu sắc nhất trong sứ vụ của Người khi loan báo cho họ cuộc khổ nạn, cái chết và sự phục sinh của Người để hoàn thành Thánh ý Chúa Cha. Sau đó, Ngài mời gọi họ chia sẻ sứ mạng này để cứu độ thế giới.
WHĐ (15.2.2021) – Nhân kỷ niệm 60 năm thành lập hàng Giáo phẩm Việt Nam (1961 – 2021), chúng tôi xin được đăng bản dịch chính thức của Hội đồng Giám mục Việt Nam về Tông thư thành lập hàng Giáo phẩm Việt Nam – “Jam In Pontificatus” của Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII gửi hàng Giáo phẩm Việt Nam ngày 14.1.1961. * * *
Thứ Tư Lễ Tro năm nay sẽ rơi vào ngày 17 tháng Hai. Hôm thứ Ba, Vatican đã đưa ra hướng dẫn về cách các linh mục có thể xức tro vào Thứ Tư Lễ Tro trong bối cảnh đại dịch coronavirus. Bộ Phụng Tự và Kỷ Luật Bí Tích đã công bố một chỉ dẫn vào ngày 12 tháng Giêng, hướng dẫn các linh mục đọc công thức xức tro một lần cho tất cả mọi người có mặt, thay vì cho từng người. Nguyên bản tiếng Anh có thể xem tại đây. Dưới đây là bản dịch toàn văn sang Việt Ngữ. Bộ Phụng Tự và Kỷ Luật Bí Tích Công văn số 17/21 Chỉ dẫn cho ngày Thứ Tư Lễ Tro Việc xức tro trong thời gian xảy ra đại dịch Vị Linh mục đọc lời nguyện làm phép tro. Ngài rảy nước thánh lên tro, không nói gì cả. Sau đó, ngài nói với tất cả những người hiện diện chỉ một lần duy nhất công thức như được ghi trong Sách Lễ Rôma, áp dụng công thức ấy cho tất cả mọi người nói chung:
Ngày 1 tháng 10 năm 2010, Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hòa bình đã ra thông báo về án phong chân phước cho ĐHY Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận. Thông báo viết: “Ngày 22 tháng 10 tới, tức 3 năm sau khi loan báo việc mở Án phong chân phước, sẽ có phiên họp trọng thể mở cuộc điều tra ở cấp giáo phận về đời sống, các nhân đức và đời sống thánh thiện của Đấng Đáng Kính, ĐHY Việt Nam Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, người đã là Phó Chủ Tịch Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hòa bình từ năm 1994 và là Chủ tịch Ủy Ban này từ ngày 24 tháng 6 năm 1998 đến ngày 16 tháng 9 năm 2002”. Theo thông báo của Tòa Tổng Giám mục Tổng Giáo phận Tp. Hồ Chí Minh về việc điều tra án phong chân phước và phong thánh cho Đức Cố Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, do Đức Hồng Y GB Phạm Minh Mẫn ký ngày 1 tháng 1 năm 2012, chúng ta cùng tìm hiểu đôi nét về cuộc đời của Đấng Đáng Kính, Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận.
Bảo Trợ