Tiêu Chảy Nặng Do Uống Kháng Sinh Ở Trẻ

19 Tháng Chín 20164:17 CH(Xem: 1015)

Tiểu chảy nặng do uống kháng sinh ở trẻ

Việt Hà, phóng viên RFA
    000_Hkg2821856-305.jpg
    Trẻ em điều trị bệnh tiêu chảy trong một bệnh viện dã chiến ở San Pedro, Laguna, Manila, Philippines hôm 4/10/2009.
    AFP PHOTO/TED ALJIBE SKDS03252014.mp3

    Một báo cáo mới đây tại Mỹ cho thấy việc cho trẻ uống kháng sinh có thể dẫn đến tiêu chảy nặng ở trẻ, chủ yếu là do bị nhiễm vi khuẩn C difficile hay còn gọi là C diff, một loại vi khuẩn gây chết người.

    Điều đáng chú ý là phần lớn trẻ nhiễm C diff tại nhà chứ không phải tại bệnh viện như quan niệm xưa nay về các trường hợp nhiễm C diff. Hiện trạng này nguy hiểm thế nào với sức khỏe của trẻ và cộng đồng nói chung? Tại sao vấn đề này trở nên phổ biến hơn thời gian gần đây?

    Nguồn C diff trong cộng đồng

    Bệnh tiêu chảy nặng ở trẻ do uống kháng sinh mới đây được Cơ quan Phòng chống và Ngăn ngừa bệnh dịch Hoa Kỳ (CDC) xác định chủ yếu do nhiễm vi khuẩn C difficile, hay còn gọi là C diff, một loại vi khuẩn đường ruột có thể gây chết người.

    Điểm đặc biệt trong báo cáo mới của CDC là phần lớn các trường hợp trẻ nhiễm C diff được uống thuốc kháng sinh tại nhà chứ không phải ở bệnh viện như quan niệm thường có trước nay về nhiễm C diff. Báo cáo hôm 7 tháng 3 của CDC cho biết có đến 71% các trường hợp nhiễm C diff ở trẻ từ 1 đến 17 tuổi ở Mỹ liên quan đến việc uống kháng sinh tại nhà. Trong khi tại người lớn, 2/3 số ca nhiễm C diff là ở trong điều kiện điều trị ở bệnh viện. Nói về sự khác biệt này, bác sĩ Cliff Mc Donald, chuyên gia tư vấn cao cấp thuộc CDC cho biết:

    “Tại sao lại có sự khác nhau này? Có thể là do tỷ lệ người dùng kháng sinh ở các điều kiện sống khác nhau. Trẻ em nhìn chung thì khỏe mạnh hơn và phần đông các em uống kháng sinh không phải ở trong bệnh viện. Nó có thể liên quan đến tỷ lệ trẻ phải nhập viện và uống kháng sinh so với số trẻ uống kháng sinh tại nhà. Điều này rất quan trọng vì thường người ta nghĩ C diff chỉ xảy ra khi người ta nằm viện. Khoảng 10 năm về trước, người ta vẫn nghĩ như vậy. Nhưng với trẻ em thì ngược lại, phần lớn các trường hợp C diff của trẻ em xảy ra tại nhà.”

    Câu hỏi đặt ra là nguồn của C diff trong cộng đồng đến từ đâu? Bác sĩ McDonald giải thích tiếp:

    Tại sao lại có sự khác nhau này? Có thể là do tỷ lệ người dùng kháng sinh ở các điều kiện sống khác nhau. 
    BS Cliff Mc Donald


    “Câu hỏi đặt ra là vậy thì vi khuẩn này từ đâu, đâu là nguồn của nó trong cộng đồng? đây là điều mà chúng tôi vẫn đang tìm hiểu... Một điều mà chúng ta nên nhớ là C diff là một loại vi khuẩn có thể tồn tại ở dạng bào tử, và các bào tử này có thể tồn tại trong môi trường thường là đất đến nhiều năm sau. Dù chỉ nhìn vào một con số nhỏ các dạng bào tử này thì chúng ta cũng có thể thấy nó ở khắp nơi với số lượng nhỏ.

    Một nguồn khác mà chúng ta thường tìm thấy C Diff là ở trẻ nhỏ dưới 1 tuổi. Chúng tôi đã rất cẩn thận không đưa các em ở độ tuổi này vào trong nghiên cứu. Việc vi khuẩn này sống nội sinh trong trẻ dưới một tuổi được coi là bình thường bởi vì trong năm đầu đời, các vi khuẩn thường trong ruột trẻ vẫn chưa thành hình hết và đây là điều cần thiết để chống lại các viêm nhiễm và tránh nội sinh và thường thì trẻ ở độ tuổi này có tình trạng nội sinh.

    Ngoài ra trong các các động vật nuôi như chó mèo chúng ta cũng thấy tình trạng C diff nội sinh. Một vài trường hợp, người lớn ở cộng đồng cũng có C diff, nhất là những người tiếp xúc thường xuyên với tã của trẻ. Đó cũng có thể là một nguồn. Nhưng rõ ràng là nó không thể giải thích hết tất cả C diff trong cộng đồng. Chúng ta không biết tất cả các nguồn nhưng chúng ta biết có các nguồn từ đất nước.”

    Trên thực tế, C diff đã tồn tại từ rất lâu nay. Nó được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1953 trong phân của trẻ sơ sinh. Thường thì vi khuẩn C diff trong môi trường ngoài cũng không ảnh hưởng nhiều đến người vì hệ vi khuẩn trong cơ thể người giúp con người chống lại vi khuẩn có hại phát triển trên và trong cơ thể người.

    Nhưng điều này sẽ thay đổi khi người ta uống thuốc kháng sinh. Khác với môi trường cộng đồng, trong bệnh viện, điều kiện tập trung bệnh nhân khác hẳn đã dẫn đến tình trạng lây nhiễm C diff mạnh hơn. Bác sĩ McDonald nói:

    “Chúng tôi biết là ở bệnh viện nguồn C diff chính là từ các bệnh nhân đã bị nhiễm trước. Nhìn chung, dù ở độ tuổi này đi chăng nữa, nếu bạn uống kháng sinh, giữa điều kiện bệnh viện và cộng đồng thì nếu xét về C diff, điều kiện bệnh viện sẽ kém an toàn hơn so với cộng đồng vì có đông bệnh nhân ở trong bệnh viện và có sự tập trung người bệnh hoặc đã nhiễm C diff cấp hoặc C diff đã sống nội sinh trong cơ thể người  và vi khuẩn này xuất hiện trong môi trường bệnh viện.”

    Lạm dụng kháng sinh ở trẻ

    000_Del226801-250.jpg
    Khoa trị bệnh tiêu chảy trong một bệnh viện ở Dhaka, Bangladesh hôm 9 tháng 9 năm 2008. AFP PHOTO/Farjana KHAN GODHULY.

    Theo CDC, C diff là nguyên nhân gây ít nhất 250,000 trường hợp viêm nhiễm đường ruột trong bệnh nhân điều trị tại bệnh viện ở Mỹ và khiến khoảng 14,000 trường hợp tử vong mỗi năm ở cả trẻ em lẫn người lớn. Đây vẫn được coi là loại vi khuẩn gây chết người cao tại Mỹ và nhiều nước trên thế giới.

    Theo báo cáo của CDC, có khoảng 17,000 trẻ độ tuổi từ 1 đến 17 ở Mỹ nhiễm C diff mỗi năm. Tuy nhiên, theo bác sĩ McDonald, điều may mắn là phần lớn trẻ nhiễm C diff có thể tự khỏi và không phải nhập viện.

    “Rất may là phần lớn trẻ em thường là khỏe mạnh hay khỏe mạnh hơn so với những người khác trong dân số. Có rất ít trường hợp tử vong ở trẻ do C diff. Chúng tôi không có con số cụ thể ở trẻ em.

    Nhìn chung thì khoảng 14.000 người hoặc hơn thế tử vong hàng năm do C diff tại Mỹ. Phần lớn các trường hợp này là hơn 65 tuổi, một số là hơn 45 tuổi. Rất ít là trẻ em. Các trường hợp trẻ em bị chết vì C diff thì thường là những trường hợp đã nằm viện và có thể là đang được điều trị ung thư chẳng hạn hoặc các bệnh khác.”

    Tuy nhiên, điều đáng ngại là phần đông trẻ nhiễm C diff là do được kê thuốc kháng sinh không cần thiết. Các báo cáo trước kia của CDC cho thấy có ít nhất 50% các trường hợp bác sĩ kê đơn kháng sinh cho các trường hợp viêm nhiễm đường hô hấp trên của trẻ là không thực sự cần thiết.

    Trong khi đó việc uống kháng sinh lại chính là nguyên nhân dẫn đến mất cân bằng hệ vi khuẩn trong ruột người, tạo điều kiện để C diff phát triển.

    Nói về thói quen kê kháng sinh quá mức ở trẻ, bác sĩ McDonald cho rằng đó là do quan niệm lâu nay của mọi người, quá tin vào kháng sinh có thể giúp họ khỏi bệnh nhanh chóng. Thói quen này đã khiến họ thúc giục các bác sĩ kê đơn kháng sinh cho trẻ với trông đợi có kết quả khỏi bệnh sớm.

    Việc dùng quá nhiều kháng sinh có thể sẽ khiến tình trạng lây nhiễm C diff trở nên phổ biến hơn, và các chuyên gia y tế lo ngại tình trạng có thể trở nên tồi tệ hơn, nhất là khi C diff có biến đổi nguy hiểm trong môi trường ngoài bệnh viện.

    “Càng có nhiều trường hợp nhiễm C diff dù là ở trẻ hay ở động vật, tức là các động vật máu nóng, thì càng có nhiều C diff được sản sinh và chúng xuất hiện càng nhiều xung quanh chúng ta dù bây giờ việc chúng tồn tại xung quanh chúng ta không thực sự gây nguy hiểm, nhưng càng nhiều thì nó có thể có đột biến.

    Vì vâỵ chúng ta cần thận trọng khi chúng ta uống kháng sinh vì kháng sinh có thể làm hủy diệt hệ vi khuẩn trong cơ thể người. Thông điệp mà chúng tôi đưa ra ở đây là không nên ép dùng kháng sinh khi thực sự không cần thiết. Nếu cha mẹ mang con đến bác sĩ đừng ép bác sĩ nên kê kháng sinh khi không thực sự cần thiết vì có những viêm nhiễm không cần phải dùng đến kháng sinh.”

    Gần đây đã có những lo lắng về sự xuất hiện một số dòng C diff mới có động lực cao trong môi trường bệnh viện. Đã có một số bùng phát bệnh dịch rải rác ở nhiều nước trên thế giới. Giới chức y tế Hoa Kỳ cho rằng điều quan trọng vào lúc này là cần phải nâng cao nhận thức trong người dân về việc sử dụng thuốc kháng sinh, đặc biệt là ở trẻ.

    Giám đốc CDC Tom Frieden nói rằng việc kê thuốc kháng sinh cho trẻ không đúng đang đặt trẻ vào những rủi ro về sức khỏe không cần thiết bao gồm việc nhiễm C diff và một số viêm nhiễm kháng thuốc kháng sinh khác hết sức nguy hiểm.

    Tạp chí sức khỏe đời sống tuần này xin tạm dừng tại đây. Việt Hà cảm ơn quý vị đã quan tâm theo dõi. Xin quý vị chia sẻ các thông tin và những đóng góp về các vấn đề y tế, sức khỏe đến trang tạp chí sức khỏe đời sống tại e-mailvietha@rfa.org hoặc www.facebook.com/vietharfa
    Theo RFA

    Gửi ý kiến của bạn
    Tên của bạn
    Email của bạn
    Covid-19 - một loại virus gây viêm phổi nghiêm trọng bắt nguồn từ Trung Quốc đã lan sang nhiều quốc gia khác, bao gồm cả Anh quốc. Theo số liệu của Ủy ban Y tế quốc gia Trung Quốc ngày 19/02 cho biết đã có 74.185 ca nhiễm và 2.004 ca tử vong ở Trung Quốc đại lục. Triệu chứng của bệnh Thông thường bệnh bắt đầu bằng một cơn sốt, sau đó là ho khan. Sau một tuần, bệnh có thể dẫn đến khó thở và một số bệnh nhân cần được điều trị tại bệnh viện. Đáng lưu ý, virus corona hiếm khi gây chảy nước mũi hoặc hắt hơi.
    • Chemotherapy là phương pháp hoá trị vẫn thường được dùng đễ chữa bệnh ung thư. Nhưng phương pháp này tiêu diệt cả tế bào ung thư lẫn tế bào lành mạnh. Nó làm cho người bệnh mệt lử, ói mửa, có khi còn bị nhiễm trùng, và chết. Các bác sĩ hy vọng có thể tìm ra loại thuốc chữa ung thư mới tối tân hơn, không cần dùng phương pháp hoá trị. PHƯƠNG PHÁP HOÁ TRỊ - CHEMOPTHERAPY Từ bấy lâu nay vẫn thường được coi như là loại vũ khí mạnh, hữu hiệu đề chữa bệnh ung thư. Nó giúp cứu sống 20% bệnh nhân ung thư tại Hoa Kỳ trong hai thập niên vừa qua. Nhưng loại độc tố này nhắm tiêu diệt tế bào ung thư đang phát triển, đồng thời cũng giết luôn những tế bào lành mạnh, và nhất là nó hành hạ bệnh nhân một cách tàn bạo. Hậu quả của phương pháp hoá trị thay đổi tùy theo bệnh nhân, từ ói mửa cho đến bị nhiễm trùng mà chết.
    16 kinh nghiệm…. 16 kinh nghiệm…. 1. Hạn chế uống trà sữa vì gây nguy cơ cao mắc bệnh tiểu đường và cao huyết áp 2. Không nên ăn uống bất kỳ thứ gì trong 2 giờ trước khi đi ngủ 3. Không nên ăn khuya vì có thể làm tăng nguy cơ ung thư dạ dày 4. Không để điện thoại di động hoặc bất kỳ thiết bị điện tử nào đang sạc bên cạnh khi đi ngủ 5. Khoai lang vàng và khoai lang tím đều có thành phần ngừa ung thư rất tốt 6. Phụ nữ trong thời kì kinh nguyệt không nên tắm hay gội đầu bằng nước lạnh 7. Phao câu gà có thể gây ung thư dạ dày. 8. Uống 1 ly nước lọc mỗi buổi sáng trước bữa sáng để ngăn ngừa bệnh sỏi mật và thông ruột
    Tim là một cơ quan nội tạng quan trọng của hệ Tuần hoàn, có nhiệm vụ bơm máu thông qua mạch, cung cấp dưỡng chất và oxygen cho toàn cơ thể, đồng thời chuyển các chất thải chuyển hóa (metabolic waste) như carbon dioxide đến phổi để loại ra ngoài. Những vấn đề bệnh lý của Tim (Heart disease) và bệnh Tim Mạch (Cardiovascular disease) ảnh hưởng đến mọi lứa tuổi, mọi chủng tộc và giới tính, bao gồm nhiều nguyên nhân và triệu chứng khác nhau. Theo Trung Tâm Kiểm Soát và Phòng Ngừa Bệnh Tật Hoa Kỳ (CDC), hai căn bệnh này là nguy cơ hàng đầu dẫn đến tử vong, với tỉ lệ 25% trong số những người mắc phải, nghĩa là cứ mỗi 4 người mắc bệnh, thì có 1 người tử vong. Có nhiều trường hợp bệnh lý về Tim như: Bệnh Động mạch vành Tim (Coronary Heart disease), bệnh Tim bẩm sinh (Congenital Heart Defects), Loạn nhịp Tim (Arrhythmia)…
    WASHINGTON, D.C. (SGN) – Hoa Kỳ đang tạm dừng tiêm vaccine Johnson & Johnson (J&J) sau khi có báo cáo về một loại cục máu đông hiếm gặp ở sáu trong số 6.8 triệu người đã tiêm vaccine này. Họ còn bị lượng tiểu cầu trong máu thấp. Tất cả những người bị ảnh hưởng là phụ nữ từ 18 đến 48 tuổi. Những người đã tiêm vaccine J&J có thể lo lắng, mặc dù tỷ lệ bị cục máu đông rất thấp. Bác Sĩ Alex Spyropoulos, một chuyên gia về cục máu đông tại Northwell Health ở New York, nêu ra những gì bạn nên làm nếu đã tiêm vaccine J&J. 1. Nếu đã tiêm J&J hơn hai tuần, không cần lo lắng Vì sáu phụ nữ bị đông máu xuất hiện các triệu chứng từ 6 đến 13 ngày sau khi tiêm chủng. 2. Nếu đã tiêm J&J chưa đầy 2 đến 3 tuần, hãy để ý các triệu chứng nhất định Các triệu chứng được liệt kê trong tuyên bố của CDC và FDA là: – Đau đầu dữ dội. – Đau bụng. – Đau chân. – Khó thở.
    Inline image Người ta focus vào chữ vaccine nhiều quá...nên nghĩ đơn giản là vaccine (một khi chích vào rồi) thì nó bảo vệ mình (không bị nhiễm). Phải nói lại cho chính xác như sau: cái bảo vệ mình, không phải là vaccines mà là antibodies của mình. Antibodies này được (cơ thể) làm ra, khi chích vaccines vào. Từ định nghĩa này, cho thấy: 1) Không cần biết là vaccine loại nào, của hãng nào. Cứ hễ chích vào, thì nó tạo ra antibodies. Cho nên, đợt này chích Pfizer, năm sau chích J&J cũng được...chứ không nhất thiết là phải chích cùng loại. 2) Mục tiêu là để đưa cái antibodies của mình lên tới Protective Level. Vấn đề ở đây là: - Cái protective level của antibodies này, kéo dài trong bao lâu ? Những vaccines truyền thống (vì có chất adjuvant) nên kéo dài rất lâu...có khi cả đời...như vaccine về yellow fever, measles, BCG etc...
    Hiệp Hội Người Cao Tuổi Hoa Kỳ (AARP) mới đây gởi ra thông báo bao gồm những điều cần biết đối với người sắp chích ngừa COVID-19 mũi thứ nhì sau đây. Nếu đã chích mũi đầu tiên trong hai mũi thuốc chích ngừa COVID-19, xin chúc mừng, vì quý vị sắp hoàn tất việc ngừa virus này trong cơ thể. Nhưng để hoàn toàn có được sự miễn dịch, quý vị nhất định phải chích mũi thứ hai. Image removed by sender. Chích ngừa COVID-19. (Hình minh họa: AP Photo/Marta Lavandier, File). Trên cả nước, một số người đang rơi vào tình trạng lộn xộn khi cố gắng nhận mũi chích thứ hai vì nhiều lý do khác nhau.
    Ở Mỹ, mỗi năm có thêm 700.000 ngàn trường hợp tai biến mạch máu não mới xảy ra. Cứ 10 người sau khi bị tai biến mạch máu não, có 4 người ít nhiều cần đến sự giúp đỡ của người nhà trong cuộc sống hàng ngày, 1 người trở thành tàn phế.../ 04 Tháng Sáu 2012(Xem: 6158) Bác sĩ Nguyễn Văn Đức - BT Canada st/
    Chắc hẳn bạn đã nghe nói hiệu quả của vắc xin Covid-19 của Pfizer là 95%, của Moderna là 94% và của Johnson & Johnson là 66%. Nhưng những con số này thực sự có ý nghĩa như thế nào? Câu hỏi này không chỉ được quan tâm bởi các nhà nghiên cứu. Hiểu biết của mọi người dân về vắc xin, cho dù họ có tiêm hay không sẽ có những ảnh hưởng rất lớn đến tình hình đại dịch trên quy mô lớn. Vậy chúng ta nên hiểu những con số này như thế nào? Vắc xin Covid-19 được cất trong kho dược liệu ở bệnh viện cộng đồng Roseland, Chicago Vắc xin Covid-19 được cất trong kho dược liệu ở bệnh viện cộng đồng Roseland, Chicago, Mỹ, ngày 18/12/2020. Nhà virus học Brianne ở Trường đại học Drew, Mỹ, nói về vắc xin của Pfizer là mọi người cần hiểu rằng đây là một vắc xin cực kỳ hiệu quả. Nó có hiệu quả cao hơn nhiều so với mọi người thường nghĩ. Thông thường người ta hay nghĩ rằng hiệu quả 95% có nghĩa là 5% số người được tiêm vẫn bị mắc Covid.
    “Đột tử” thường xảy ra vào đêm khuya hoặc sáng sớm. Khi gặp gió lạnh mùa Đông tràn về chúng ta phải thay đổi thói quen sinh hoạt, đừng nghĩ rằng mình còn trẻ mà không phòng bệnh. Bài viết của Tác giả: Hoàng Tuyên (bác sĩ chuyên về nội khoa lồng ngực và bệnh hiểm nghèo, bệnh viện Từ Tế Đài Trung) ngày 01 tháng 02 năm 2020. Người dịch Tô Duy Tiệp *** Hôm qua rất lạnh, toàn Đài Loan có khoảng 50 người bị đột tử, nếu cứ tiếp tục lạnh nữa e rằng sẽ có hàng trăm người bị đột tử. Mọi người chắc sẽ rất hiếu kỳ muốn biết rằng với những người đang khỏe mạnh, tại sao lại đột nhiên qua đời? Đặc biệt với những người không có tiền sử bệnh về máu, lại luôn uống thuốc đúng giờ, cũng không hút thuốc, không thức đêm, không uống rượu, trước khi đột tử đều không có hiện tượng bất thường? Trong điều trị lâm sàng thì những vấn đề này thường được đề cập tới, thì đúng rõ ràng là đã mặc áo ấm rồi, vậy tại sao vẫn bị đột tử?
    Bảo Trợ