Phần Thứ Mười Bốn

06 Tháng Tám 20163:01 SA(Xem: 921)

XIV

Hiểu được tâm sự Hoa Trinh Nữ, Tường Minh càng yêu mến nàng hơn. Chàng lấy làm ngạc nhiên trước mối tình nghịch thường (có thể nói là quái dị) của Hạnh và Phương Lan, mà nếu không phải do chính tay Hạnh viết ra, chàng không thể nào tin là có thật ở trên thế gian này. Nhưng nếu nó đã là chuyện thật một trăm phần trăm, thì chắc chắn mối tình nghịch thường ấy đã ảnh hưởng sâu xa đến tâm trạng phức tạp của Hạnh ngày nay. Trong tình trạng ấy, Hạnh chẳng những là một thiếu nữ đáng mến, đáng yêu mà còn rất đáng thương hại.

Từ đó Tường Minh càng tỏ ra trìu mến nàng hơn nhưng tuyệt nhiên chàng không thốt lời nào ngỏ tình với nàng nữa. Chàng nghiên cứu lại khoa tâm phân học của Freud, để tìm hiểu rõ nguyên nhơn cấu tạo ra cái bệnh trạng tinh thần của Hạnh: Chàng muốn tìm cách giải thoát cho Hạnh khỏi cái tâm trạng phức tạp hiện tại, xây dựng lại cho nàng những tình cảm lành mạnh, gieo cho nàng nguồn vui sống và yêu đời.

Tường Minh tìm đến các bạn cũ, Nga, Linh, và như vô tình, chàng hỏi thăm các bạn về nếp sống của nữ sinh ở trường. Họ hồn nhiên kể cho chàng nghe cái phong trào “cặp bồ” ở các trường nữ học, mà theo họ, đó là những sự kiện lý thú, tự nhiên, không có gì tai hại cả. Nhiều khi họ còn về nhà thuật lại cho cha mẹ họ nghe, để tỏ rằng họ được nhiều người yêu mến.

Linh không ngượng ngùng kể cho chàng nghe những chuyện “bồ” của chính nàng. Nàng thú thật đã từng đau khổ khi bị bồ cắm sừng, chẳng khác nào một tình nhân bị người yêu phụ rãy. Được cái là tánh nàng mau quên, nên mất bồ này nàng tìm bồ khác để an ủi. Tổng cộng lại mỗi năm nàng đau khổ ít nhất ba lần và thay đổi ít nhất ba bồ.

Nga cũng kể lại chuyện mình. Trái hẳn với Linh, trải qua mấy năm, Nga chỉ có một bồ duy nhất và rất chung thủy với bồ. Nàng thấy yêu bồ tha thiết và tưởng có thể sống khắng khít với nhau như thế suốt đời.Trong lúc yêu đương, nàng sống trọn trong tình cảm của một người tình nhân, nghĩa là cũng sầu xa, cách nhớ, hờn giỗi, ghen tương. Nàng thú thật là nàng không thể rung động được trước một người con trai nào.

Ngoài ra, Linh và Nga còn kể cho chàng nghe bao nhiêu mảnh tình dị thường khác của các bạn nội trú trong trường.

Ngồi nghe hai bạn kể chuyện mình, chuyện người như là kể những chuyện hoang đường, Tường Minh cảm thấy xót xa, ái ngại giùm bạn. Thì ra không phải một mình Tuyết Hạnh, mà cả đến Linh, Nga và còn không biết bao nhiêu nữ sinh khác đang lặn ngụp trong những tình cảm sa đọa, trong nếp sống tinh thần bệnh hoạn mà họ không biết. Vì không biết rõ cái tai hại của nó, nên họ xem đó những sự kiện đương nhiên và càng xô nhau vào con đường lầm lạc. Linh và Nga là hai người đang đi trên con đường nguy hiểm đó và Hạnh là người đã đi đến mức.

Tường Minh biết những lời mình thốt ra lúc này để khuyên bạn sẽ không có tác dụng gì, vì chính chàng cũng chưa bắt mạch được nguồn gốc của căn bịnh và chưa tìm được phương pháp nào để chữa bệnh và ngừa bệnh. Công việc của chàng lúc này không phải là việc chữa bệnh cho bao nhiêu thiếu nữ đáng thương kia mà là phải tìm cho ra nguồn gốc phát sinh và phương pháp chữa bệnh.

Bao nhiêu công việc phải làm mà ngày thi của chàng cũng đã gần tới, Tường Minh tạm gác bao nhiêu công việc ấy lại để lo học ôn bài thi. Tuyết Hạnh thì đã ra khỏi bệnh viện và theo lời khuyên của bác sĩ, nàng về quê ngoại tĩnh dưỡng một thời gian. Xa Hạnh, không được gần nàng để săn sóc, an ủi, Tường Minh cũng cảm thấy lòng nao nao luyến nhớ. Nhưng nhớ đến lời Hạnh dịu dàng thốt ra trước khi trao cho chàng tập “Ký ức”: “Ngày nào anh đạt thành sự nghiệp và em đã hết bệnh, chừng ấy ta mới có quyền nói đến chuyện yêu đương”, Tường Minh lại thấy lòng phấn khởi, chàng cố gắng học và cương quyết thực hiện cái hoài bão mà chàng ngỏ với Hạnh ngày nào.

Tường Minh đã toại nguyện được một phần: cuối năm ấy, chàng đã đổ Tú Tài toàn phần. Chàng vội báo tin cho Tuyết Hạnh hay. Cách vài ngày sau, chàng tiếp được thư Hạnh, trong thư Hạnh gởi lời mừng chàng và khuyến khích chàng thực hiện cái ước nguyện ngày xưa: ước nguyện trở nên một thi sĩ và một giáo sư văn chương.

Đọc thư Hạnh, Tường Minh thấy lòng rộn ràng, sung sướng. Chàng thấy Hạnh rất tinh tế và kín đáo, những lời nào chàng thốt ra nàng đều nhớ hơn cả chính chàng. Cái con người ấy mà “vô tình” thì thật là một sự lạ!

Cân nhắc lại cái vốn học của mình, Tường Minh nhận thấy với mảnh bằng Tú Tài, chàng khó trở nên một giáo sư văn chương đúng với danh nghĩa của nó. Cái vốn học ấy không đủ giúp chàng hiểu thấu tinh hoa của văn học nước nhà, đừng nói gì đến văn học quốc tế. May là chàng có khả năng về văn chương và đã nghiên cứu thêm rất nhiều về văn nghệ các nước tiên tiến. Nói về văn phạm Việt Nam, chàng càng nhận thấy mình dốt, mặc dầu chàng đỗ Tú Tài. Vì thật ra, từ lớp đệ ngũ trở lên, chàng có học được một bài văn phạm nào đâu. Vậy bây giờ chàng làm sao giảng một áng văn cho thấu triệt cả nội dung lẫn hình thức? Làm sao giảng cho học sinh hiểu rõ về văn phạm trong khi mình rất dốt về văn phạm?

Tường Minh nhớ đến một thầy học của mình mấy năm trước: giáo sư Tuấn. Đó là một giáo sư vừa là một nhà văn đã nổi tiếng mà Tường Minh mến phục nhất. Chàng phục ông vì tài, mến ông vì nết, vì ông dạy rất tận tâm và rất thương mến học trò. Hơn nữa, ông là một giáo sư, một nhà văn có tư tưởng tiến bộ. Tường Minh ao ước nếu được ông dìu dắt, chắc chắn tương lai chàng sẽ sáng lạn, bước đi của chàng sẽ vững vàng.

Tường Minh liền tìm đến nhà thầy cũ. Sau bao năm xa cách, thầy trò gặp nhau mừng rỡ. Giáo sư Tuấn vẫn như xưa, vẫn với đôi mắt sáng quắc lóng lánh một niềm tin, vẫn nụ cười hiền lành chan hòa niềm cảm mến, vẫn với bầu nhiệt huyết phục vụ văn nghệ và hướng dẫn đàn thơ sinh. Biết được thiện chí của Tường Minh, ông vui vẻ nói:

- Thầy đã hiểu rõ chí hướng của em khi em còn học với thầy. Thầy cũng đã rõ khả năng và thiện chí của em. Nay em đã trông cậy ở thầy, thầy vui lòng dìu dắt em cho vẹn nghĩa thầy trò.

Tường Minh mừng rỡ nói:

- Em sẽ cố gắng để không phụ lòng thầy.

Từ đó, Tường Minh được giáo sư Tuấn tận tâm chỉ dạy thêm về phương pháp giáo khoa và kỹ thuật sáng tác. Ông lại hứa khi Tường Minh đã có một căn bản khá vững vàng, ông sẽ giới thiệu chàng vào dạy ở một trường trung học tư thục hoặc biên tập cho một vài tạp chí văn nghệ ở thủ đô. Ông cho Tường Minh mượn rất nhiều sách cần thiết và hữu ích để chàng tự trao luyện thêm.

Trong khi học tập để chuẩn bị bước vào đường đời, Tường Minh vẫn nghĩ đến Tuyết Hạnh.

Chính Tuyết Hạnh là nguồn khích lệ của chàng trong công việc đeo đuổi chí hướng.

Nhớ những lúc bàn luận văn chương cùng Tuyết Hạnh, chàng nhận thấy ở Hạnh có một cái gì cao đẹp. Cái cao đẹp ấy có lẽ là sự chung đúc của tình yêu văn nghệ, của lý tưởng phục vụ nhân sinh, của một thứ tình cảm nồng nhiệt đang tìm cách vươn lên. Tường Minh cảm thấy tâm hồn mình gần như hòa động với tâm hồn Hạnh để vạch cho nhau một đường lối chung, trước khi tiến trên con đường đó để thẳng đến đường đời.

Giờ đây, dưới sự hướng dẫn của giáo sư Tuấn, Tường Minh càng nhận thấy con đường chánh nghĩa chỉ có một lối. Người có tinh thần tiến bộ không hẹn nhau cũng gặp nhau trên lối đó. Có khác là khác ở chỗ người thì đi tập tễnh, kẻ thì bước vững vàng, chính Tường Minh đã học ở thầy cũ của mình những bước vững vàng ấy.

Có điều Tường Minh vẫn luôn luôn thắc mắc, lo ngại: tại sao ngoài cái cao đẹp ấy, Tuyết Hạnh lại còn có một khía cạnh rất bệnh hoạn về tinh thần, khiến cho cảm quan về ái tình của nàng bị lệch lạc. Làm sao giúp nàng thoát khỏi cái tâm trạng bệnh hoạn ấy?

Một hôm, nhơn khi giáo sư Tuấn đề cập đến nếp sống của học sinh hiện tại ở học đường, Tường Minh nêu lên trường hợp của Hoa Trinh Nữ, nhờ giáo sư giải thích tâm bịnh của nàng.

Giáo sư trầm ngâm nghe Tường minh thuật lại ký ức của Hoa Trinh Nữ. Khi Tường Minh dứt lời, giáo sư thở dài nói:

- Hoa Trinh Nữ thật đáng thương hại! Trong giới học sinh ngày nay, còn biết bao nhiêu thiếu nữ cũng mang cái tâm trạng như nàng. Thật là một tình trạng rất nguy hiểm, thế mà những nhà giáo dục vẫn xem đó là một chuyện tầm thường không quan hệ gì đến tương lai của nữ sinh.

Tường-Minh hỏi:

- Nhưng tại sao phần đông nữ sinh lại mang cái tâm trạng ấy?

- Phải nói phần đông nữ sinh ở nội trú thì đúng hơn. Nguyên nhân rất phức tạp, mỗi nữ sinh đi sâu vào con đường lầm lạc ấy trong mỗi trường hợp khác nhau. Nhưng nói chung, chúng bị ảnh hưởng bởi hoàn cảnh, bởi sự giáo dục không hoàn mỹ của học đường, bởi tình cảm quá bồng bột của tuổi dậy thì.

Lúc đầu, một nữ sinh bước vào học đường với tâm hồn ngây thơ trong trắng. Nàng không biết gì khác hơn là vui với sự học và vui với bạn. Nữ sinh ấy sẽ ngạc nhiên khi thấy xung quanh mình những đôi bạn quá mật thiết với nhau được các bạn gọi là “bồ”. Nàng không hiểu bồ là gì, nhưng những hành động của những cặp bồ kia gieo vào tâm hồn nàng những ấn tượng mạnh, khêu gợi tánh hiếu kỳ của tuổi trẻ. Thấy các bạn có bồ, nàng cũng muốn có bồ. Chính hoàn cảnh ác hại đó đã thúc đẩy nàng bước một bước đầu thí nghiệm với chính bản thân mình.

Giai đoạn thứ nhì, nàng bị ảnh hưởng bởi chế độ giáo dục ở học đường. Ở ban trung học, nàng được nghe giáo sư giảng rất mê ly những áng văn thơ cực kỳ lãng mạn, nào chuyện Nguyệt Nga với Vân Tiên, nào Giáng Kiều với Tú Uyên, nào Phan Tất Chính với Trần Kiều Liên, nào Thúy Kiều với Kim Trọng v.v… Với những lời lẽ văn hoa, thay vì đứng trên lập trường, tư tưởng tiến bộ giải thích cho học sinh rõ điều phải, điều trái, nhiều giáo sư dẫn dắt học sinh chìm đắm vào những tư tưởng lãng mạn, gợi cho học sinh những tình cảm ủy mị và sự mơ mộng viễn vông.

Nhiều khi giáo sư còn cho học sinh thuyết trình những tác phẩm văn chương như “Hồn bướm mơ tiên” của Khái Hưng, “Bướm trắng” của Nhất Linh v.v… hầu hết đều là những tác phẩm của Tự lực Văn đoàn. Tập cho học sinh thuyết trình là một điều hay, nhưng giáo sư cần phải khéo léo hướng dẫn. Lắm giáo sư quên rằng có những tác phẩm chỉ có giá trị vào một giai đoạn nào đó thôi: qua giai đoạn đó, tác phẩm trở nên lạc hậu. Vì vậy, họ thường đề cao những tác phẩm lỗi thời, gieo vào tâm hồn trong trắng của học sinh những cảm quan lệnh lạc. Chính sự giáo dục sai lầm ấy đã gây cho học sinh tinh thần lãng mạn, gieo rắc cho đám trẻ sự mơ mộng viễn vông, tình cảm ủy mị yếu hèn.

Thêm vào đó, tư cách không đứng đắn của giáo sư càng nêu gương xấu cho học sinh. Có lắm giáo sư cũng tìm bồ trong giới học sinh. Giáo sư mà còn làm vậy, trách sao học sinh không bắt chước?

Giai đoạn thứ ba, nữ sinh kia sẽ đi sâu vào con đường lầm lạc do sự thúc đẩy bởi tình cảm bồng bột của tuổi dậy thì.

Xa gia đình, xa tất cả những người thân yêu để bước vào một thế giới xa lạ, nàng cảm thấy mình bơ vơ, cô độc, thiếu thốn tình yêu. Lại ảnh hưởng bởi hoàn cảnh và những bài giảng lâm ly tình tứ, tình cảm của nàng càng được nẩy nở nhanh chóng theo chiều hướng lãng mạn. Nàng phải tìm cách để thỏa mãn cái thị hiếu ấy. Sống biệt lập với xã hội, không được giao tiếp với các từng lớp nhân dân, thị hiếu ấy bị dồn ép tận đáy lòng nàng, chỉ đợi dịp là phát hiện ra một cách mãnh liệt.

Thiếu tình yêu gia đình, nàng lấy tình bạn thay vào. Lúc đầu, đó là thứ tình bạn trong sạch, bạn sơ có mà bạn thân cũng có. Lần lần, nàng gạn lọc trong số bạn thân sơ ấy, một người tâm đầu ý hiệp để kết làm người bạn tri kỹ, để kể lể cùng nhau những chuyện gia đình, những chuyện vui, buồn của thời thơ ấu. Đôi tâm hồn bắt đầu hòa hợp nhau trong cảm mến. Đôi bạn bắt đầu khắn khít nhau, chia sớt vui buồn cùng nhau. Đến đây, tình bạn vẫn còn tinh khiết. Nhưng thị hiếu lãng mạn dồn ép bấy lâu được dịp phát hiện ra. Tình cảm bồng bột cùng với sự phát triển sinh lý của tuổi dậy thì ngự trị cả thể chất và tâm hồn của đôi bạn khiến họ biến tình bạn tinh khiết ra một thứ tình ái nghịch thường. Từ đó họ trở thành một cặp bồ, nghĩa là đôi bạn tình cùng giống.

Em thấy đó, tư tưởng lãng mạn và hoàn cảnh thối tha có thể xô người vào con đường sa ngã một cách dễ dàng. Đối với những nữ sinh ở vào một hoàn cảnh thuận tiện hơn, được tự do giao thiệp với bạn trai, họ lại càng dễ bị sa ngã bởi những lời ong bướm của bọn Sở Khanh. Đọc báo chí, có lẽ em cũng thường thấy những tin: nay nữ sinh này bị dụ dỗ, mai nữ sinh kia bị quyến rũ, nay nữ sinh này đi tu, mai nữ sinh kia quyên sinh vì thất tình. Tình trạng ấy cũng do cái nguyên nhân trên mà ra. Cả hai tình trạng đều nguy hại của tình trạng sau vì nó cụ thể quá.

Tường Minh lẳng lặng nghe thầy giải thích. Chàng nhận thấy lời giáo sư rất có lý và chàng cảm thấy ái ngại vô cùng, chàng băng khoăn hỏi:

- Không lẽ tất cả nữ sinh đều lâm vào hai tình trạng ấy? Giáo sư mỉm cười:

- Thầy nói là phần đông chớ không phải là tất cả. Mà chữ phần đông ở đây cũng chỉ bao gồm những nữ sinh nào bị đầu độc bởi tư tưởng lãng mạn và ở vào những hoàn cảnh ấy mà thôi. Bởi ta còn có thể lạc quan tin rằng có những khung cảnh học đường tốt đẹp, có những giáo sư biết gieo rắc những tư tưởng tiến bộ, có những gia đình biết giáo dục con cái một cách khôn khéo. Rất tiếc rằng ba cái có này hiện nay thì rất ít.

Tường Minh vẫn băn khoăn hỏi tiếp:

- Thầy cho rằng hai tình trạng vừa nêu ra trên đều nguy hại. Vậy cái nguy hại của tình trạng thứ nhất là cái nguy hại nào?

- Đối với những mối tình nghịch thường, cái nguy hại của nó cũng rất to tát, có điều nó không biểu hiện ra một cách cụ thể nên người ta xem thường. Lấy Hoa Trinh Nữ làm điển hình, người ta sẽ nhận thấy bề ngoài của nàng rất đứng đắn, tư tưởng của nàng rất lành mạnh. Ai có ngờ đâu ẩn trong những bản sắc đứng đắn lành mạnh ấy, nàng lại có một khía cạnh thần kinh mất quân bình.

Thầy không nói bộ thần kinh mất quân bình mà chỉ nói một khía cạnh, mặc dầu khía cạnh nầy rất quan trọng có thể ảnh hưởng đến toàn bộ. Theo sự phân tách rất khoa học của nhiều bác sĩ trứ danh ở các nước tiên tiến, như bác sĩ Havelock Ellis, bác sĩ Hahn, bác sĩ Krafft Elbing ở Đức, bác sĩ Charles Fouqué ở Pháp, họ đều cho những thiếu nữ như Hoa Trinh Nữ là những người có bộ thần kinh mất quân bình. Có lẽ họ nói hơi quá đáng! Theo thầy nhận thấy thì Hoa Trinh Nữ chỉ mất quân bình ở một khía cạnh nào thuộc về thần kinh hệ đó thôi. Khía cạnh này đã làm méo mó cảm quan luyến ái của nàng, rồi sẽ lần lần tác dụng đến những cảm quan khác. Các bác sĩ trên chứng mình rằng những người cùng tâm trạng như Hoa Trinh nữ sẽ không thể yêu một chàng trài nào, và nếu có chồng, có con, họ sẽ không hề biết yêu chồng. Có thể nói họ chỉ là cái máy đẻ. Có người còn đi đến chỗ bạc nhược về sinh lý (Frigidité) Trong tình cảnh ấy, họ sẽ cảm thấy đời sống khô khan, buồn tẻ rồi sinh ra chán nản, bi quan. Do đó, mà lần lần tất cả cảm quan khác của họ đều bị ảnh hưởng, lệch lạc.

Tường Minh nói:

- Học sinh là tương lai của quốc gia. Một vấn đề quan trọng như vậy, tại sao xưa nay không nhà văn, nhà báo nào đề cập đến? Hay họ cho rằng: “Có những sự thật không nên nói”, nên họ không can đảm, mạnh dạn nói! Theo em thì đây là sự thật nên nói lắm chớ.

Giáo sư Tuấn nghiêm giọng:

- Có, họ có nói. Xưa nay, nhiều nhà văn, nhà báo đã nói đến vấn đề này trong những sáng tác phẩm của họ, như Brantome với quyển Dames Galantes, Diderot với quyển Religieuse, Pierre Benoit với quyển Mademoiselle la Fierté, M.T. với truyện “Ái-tình giữa bạn gái”. Lê Thanh với truyện “Vô đề” 1. Có điều họ đã thi vị hóa sự thật chớ không lột trần sự thật. Lời của họ nói lên để gây thêm tai hại chớ không sửa chữa được lỗi lầm. Thi vị hóa những lỗi lầm, tức là gây tai hại rồi.

Tường Minh hỏi tiếp:

- Vậy theo thầy, làm thế nào cải thiện được tình trạng trên?

- Em muốn nói cải thiện đời sống học sinh hiện tại? Muốn vậy, ta phải tìm cách giải quyết chung. Nhận xét đời sống học sinh hiện tại, ta nhận thấy có hai tệ đoan:

1. – Nam sinh hay nhiễm tác phong cao bồi;

2. – Nữ sinh hay nhiễm tư tưởng và hành động lãng mạn.

Những tệ đoan trên đều do hoàn cảnh, chế độ giáo dục và cá tính của chúng mà ra. Nam sinh với bầu máu nóng của tuổi trẻ, tính hiếu động, nên muốn làm anh hùng cá nhân. Nữ sinh với tình cảm dồi dào, tính mơ mộng, nên dễ sa ngã vào con đường tình ái nghịch thường hoặc đọa lạc.

Để xây dựng cho chúng một nếp sống lành mạnh, cần phải cải thiện lại hoàn cảnh học đường, chế độ giáo dục ở học đường và chế độ giáo dục ở gia đình. Hoàn cảnh học đường luôn luôn phải tốt đẹp thuận tiện cho công việc phát triển các đức tính cao quí của học sinh. Chế độ giáo dục ở học đường phải xây dựng trên tư tưởng tiến bộ, đả phá những tư tưởng lãng mạn trụy lạc. Chế độ giáo dục ở gia đình phải đặt trong khuôn khổ thuần phong mỹ tục; phụ huynh học sinh phải kiểm soát sách vở, báo chí của con em xem, kiểm soát sự học tập và hạnh kiểm của con em. Được như vậy, lo gì những tệ đoan không được gột rửa…

Nét vui mừng hiện rõ trên vẻ mặt Tường Minh. Chàng nhìn thầy với cái nhìn kính mến:

- Thưa thầy, đó là cách giải quyết chung, còn có cách nào giải quyết riêng cho trường hợp của Hoa Trinh Nữ chăng?

Giáo sư Tuấn trầm ngâm một lúc rồi ôn tồn nói:

- Hoa Trinh Nữ bị một chứng bệnh tâm lý, vậy ta phải dùng tâm lý mà chữa cho nàng. Mối tình nghịch thường của nàng tạo ra do một sự khích động tâm lý bất ngờ. Các nhà tâm phân học gọi đó là mối tình lầm giống. Mối tình ấy càng ngày càng thắm thiết tạo cho nàng thành một thói quen ăn nhịp với những cảm xúc của nàng. Từcái đẹp vẻ đẹp đến cử chỉ, lời nói của Phương Lan tất cả đều in sâu vào tâm não nàng, khiến cảm quan của nàng biến đổi và nàng không thể yêu một chàng trai trẻ nào vì họkhông có cái vẻ đẹp, cử chỉ lời nói như thế. Giờ đây, muốn sửa chữa cảm quan của nàng, cần phải đánh vào nàng một đòn tâm lý, làm thức dậy những cảm quan lành mạnh đã bị lệch lạc vì thói quen. Xưa kia nàng đã bị khích động vì một buổi diễn kịch, rồi nàng lầm lạc tưởng mình tìm được chân ái tình. Bây giờ phải tạo ra một trường hợp tương tợ, gây cho nàng một sự khích động như xưa, rồi hướng dẫn nàng về với ái tình chân chính.

Tường Minh vui mừng nói:

- Em cảm ơn thầy đã vạch cho hai lối giải quyết. Đối với lối giải quyết riêng, em sẽ cố gắng thi hành để cứu vớt Hoa Trinh Nữ. Đối với lối giải quyết chung, em mong rằng khi thành tài, em sẽ được hân hạnh cùng thầy, cùng những người có trách nhiệm và có thiện chí hăng hái xây dựng lại nếp sống mới cho toàn giới học sinh.

Giáo sư Tuấn tươi cười, mắt sáng lên một niềm tin:

- Thầy chúc em thành công và tin ở thiện chí xây dựng của em.

1Hai truyện ngắn này đăng ở Hà nội báo, 1936.

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Hai 2013 (Xem: 3897) Hương Đồng Quê - Đặng Xuân Hường - Bình Giã cũng là một vùng quê yên bình, với ruộng đồng lúa bắp ngô khoai, với bao người chung sống ôn hoà. Và một trong những nét đẹp của quê hương Bình Giã mình là những cô gái vui tươi, dù chân lấm tay bùn nhưng vẫn có nụ cười rạng rỡ, dù dãi nắng dầm sương nhưng vẫn có vẻ đẹp hồn nhiên của tuổi thanh xuân.
Bọn Chiến Binh, Thủy Thủ, Sinh Viên, Khoa Học Gia và Gián Điệp Tàu Cộng Đang Xâm Chiếm Đất Mẹ Mỹ Chuyển ngữ bởi Lê Bá Hùng với sự chấp thuận của tác giả TS Roger Canfield /Gián Điệp Tàu Cộng Trên Đất Mỹ 23 Tháng Chín 2014 (Xem: 1503)/
Nhật Tiến Thuở Mơ Làm Văn Sĩ /post 04 Tháng Mười 2014 (Xem: 1860)/
Trong lịch sử Giáo hội Công giáo Việt Nam, ước tính có đến hàng trăm ngàn người đã làm chứng đức tin Kitô Giáo, trong số đó có 118 Thánh Tử đạo, với 117 vị được Giáo hoàng Gioan Phaolô II phong Thánh ngày 19 tháng 6 năm 1988 và Á Thánh An-rê Phú Yên, phong Chân phước ngày 5 tháng 3 năm 2000./post 15 Tháng Mười Một 2015 (Xem: 2652)/
Tôi tin rằng những bạn đọc cuốn sách này nhất định nhoi lên trên số chín hoặc mười chín người ấy. Không khó, hễ các bạn muốn là được. Tất nhiên cũng phải biết cách muốn. Cuốn này sẽ chỉ các bạn cách muốn./post 11 Tháng Sáu 2013 (Xem: 1514) Nguyễn Hiến Lê - VN Thư Quán - Được bạn: Ct.Ly đưa lên/
Trương chậm bước lại vì chàng vừa nhận thấy mình đi nhanh quá tuy không có việc gì và cũng không nhất định đi đến đâu. Từ lúc này, vô cớ chàng thấy lòng vui một cách đột ngột khác thường tự nhiên chàng đi nhanh làm như bước đi cần phải đi nhịp với nỗi vui trong lòng./post 23 Tháng Giêng 2013 (Xem: 1159) Nhất Linh - Tự Lực Văn Đoàn - Vietmessenger.com/
Nguồn: Mary Gold sưu tầm, scan & N' Nguyên Vỹ, Vantrinh Tran đánh máy -------------------- Sông nước Tiền Giang - Loại Hoa Tím Tủ sách Tuổi Hoa - 1972 Thực hiện eBook: Nguyễn Hữu Minh /post 20 Tháng Ba 2018 (Xem: 664)/
Nhà Xuất Bản Sống Mới 1957 Giới thiệu ngắn Người viết văn thành danh trước khi đất nước bị chia cắt, sau sự hụt hẩn về những đổi thay của chánh trị và văn nghệ mà cầm bút lại sớm nhất và viết với chủ đề mang tính cách xây dựng là Thẩm Thệ Hà. Cùng thời với Hoa Trinh Nữ người khác viết Rừng Thẳm Bể Khơi, Tiếng Suối Sao Leng… đầy rẫy cảnh trai gái tình tứ nhạy cảm thì Thẩm Thệ Hà chọn đề tài nói lên điều xấu của giới trẻ trong trường nội trú: tình cảm đồng phái tính. Ông dùng tệ trạng đó làm nền để nói điều cần nói là phải chửa lại cái tâm lý tình cảm lệch lạc khiến thành vô cảm của những người trẻ nầy, hướng dẫn họ đi vào con đường ích lợi cho xã hội. Thời đó những nhóm nữ sinh CTY, YTC bắt cặp với nhau đã thành bệnh, tiếng nói nhẹ nhàng của Hoa Trinh Nữ có thể coi là một trong những nguyên nhân làm xẹp đi phong trào nầy. Văn trao chuốt, gợi cảm, quyển sách sẽ có giá trị hơn nếu phần đầu không qua kéo dài đến thành loãng.. (NVS-2008)
TỦ SÁCH TUỔI HOA LOẠI HOA ĐỎ : truyện phiêu lưu, mạo hiểm, trinh thám /post 29 Tháng Chín 2015 (Xem: 1054)/
Bảo Trợ