Phần Thứ Năm

06 Tháng Tám 20162:54 SA(Xem: 1172)

V

TRẢNG BÀNG, NGÀY 22-7-195…

Tuyết Hạnh thân mến,

Nga về đến quê hơn một tuần rồi. Hạnh có hiểu chăng tâm sự của một người thi rớt trở về cố hương?

Kỳ thi Trung học Đệ nhất cấp vừa rồi, Linh, Dung đều đỗ, chỉ có Nga là “trợt vỏ chuối”. Nga cũng không buồn lắm, bằng cớ là trong cuộc đi du lịch Long Hải vừa qua, Nga nô đùa hơn ai hết. Cái đó một phần cũng bởi tánh liếng khỉ của Nga, nhưng phần chánh có lẽ vì quan niệm về sự học vấn của Nga có khác hơn thiên hạ. Nga hiểu sức học của Nga các giáo sư và bạn học đều rõ sức học của Nga, như thế đủ rồi. Sự đậu, rớt đâu phải là vấn đề sống chết của một công dân tương lai, phải không Hạnh?

Thế mà khổ nỗi, Nga sống trong một chế độ xã hội mà thiên hạ đặt giá trị của chân tài ngang với giá trị của mảnh bằng.

Cái khổ tâm của Nga là đi đến đâu cũng thấy những người quen biết trong làng chỉ chỏ Nga mà xì xào với nhau: “Con Nga đó, nó mới vừa thi rớt”. Có người còn kèm theo một tiếng “Tội nghiệp!” Nga chẳng hiểu họ thương hại gì Nga hay đó chỉ là lời mai mỉa chua cay. Đã bao lần Nga chỉ mỉm cười hay giả đui giả điếc nhưng những lời ấy vẫn đeo đuổi theo Nga như một ám ảnh nặng nề.

Nga liên tưởng đến năm nào, cũng vào độ này, các báo đăng tin một nữ sinh tự tử vì thi rớt bằng “Tài năng”. Nga đã đọc tin ấy và mỉm cười thương hại cho một nữ sinh quá yếu tinh thần. Thật ra, Nga có hiểu đâu cái nguyên nhân khiến cho người mạng bạc kia phải tìm về cõi chết. Giờ đây, lâm vào tình cảnh ấy, Nga mới hiểu thêm chút ít tâm trạng của nàng. Biết đâu nàng đã chết vì không chịu đựng nổi với dư luận của thiên hạ muốn đem bằng “Tài năng” mà đọ với tài năng thực tiển của nàng? Nếu quả thật nàng có tài thì chế độ xã hội mục nát kia đã giết chết một tài năng một cách vô cùng tàn nhẫn.

Dầu sao, Hạnh đừng lo là Nga cũng là nạn nhân như nàng. Nga có thừa nghị lực để mà phấn đấu và càng phấn đấu Nga càng yêu đời. Thôi dẹp câu chuyện ấy lại để Nga kể cho Hạnh nghe một câu chuyện khác rất lạ và cũng rất thương tâm.

Ở quê Nga, phong cảnh không có gì đẹp. Có lẽ Hạnh thường xuyên nghe một nhà thơ ca tụng Tha la, nhưng Tha la ngày nay điêu tàn buồn tẻ, không còn đâu vẻ thơ mộng ngày xưa với “những đám chiên hiền thương áo trắng”. Chiều chiều, để giải trí, Nga thường xuống chùa “Ông Ba”, một ngôi chùa cất cạnh bên bờ sông có vẻ u nhàn, tĩnh mịch. Chùa đã cũ nhưng cảnh cũng khá nên thơ. Dọc theo bờ sông những cà na và cây trâm vươn nhánh ra dòng sông, soi mình xuống mặt nước. Ngồi dưới cội trâm, Nga nhìn ra mặt nước trầm lặng, nghe tiếng chuông chùa ngân lanh lảnh để cho lòng mình lắng lại những bụi cát của đô thành. Đấy, quê Nga chỉ có hai cảnh ấy tương đối có thể gọi là thơ mộng. Một người bạn đồng hương với Nga, chị Phương Duyên có làm mấy vần thơ này để ca ngợi hai cảnh sắc của gia hương:

Em viết bài thơ về Trảng,
Nhớ nhiều xóm đạo Tha la. 
Nghiêng nghiêng ánh chiều đổ xuống, 
Con đường đất đỏ bao la…
Em viết bài thơ về Trảng,
Nhớ dòng sông nước Kinh giang,
Nhớ chùa Ông Ba vách lở,
Mẫu đơn đứng lặng hai hàng.

Không phải Nga muốn thi vị hóa cảnh vật ở quê Nga đâu nhé! Nga đâu có được tâm hồn thi sĩ như Tường Minh, Tuyết Hạnh. Sở dĩ Nga nói đến chùa “Ông Ba” vì nơi đây Nga được biết một chuyện cũng là lạ, đã làm cho Nga cảm xúc vô cùng.

Một hôm, Nga đang ngồi nói chuyện với người bạn gái dưới cội trâm, bỗng thấy từ trong chùa bước ra một sư nữ, tay cầm rổ. Vị sư nữ ấy còn trẻ như chúng mình và đẹp như Tuyết Hạnh mặc dầu nàng vận bộ y phục thô sơ của nhà chùa.

Nga ngạc nhiên quá, vì thuở nay Nga chưa hề nghe có vị sư nữ nào trẻ đẹp ở chùa này. Hỏi bạn, Nga mới biết thiếu nữ ấy vừa đến đây xin tu và sư cụ còn e ngại nên chưa xuống tóc cho nàng.

Một dấu hỏi to tướng đã gieo vào lòng Nga. Tại sao nàng đi tu? Nàng trẻ đẹp như thế kia, đôi mắt nàng long lanh kiều diễm như thế kia phải là đôi mắt của kẻ yêu đời, nhìn đời qua một màu tươi thắm mới phải. Trong lúc ấy, sư nữ nhẹ nhàng vào vườn rau bàn tay trắng mịn và yểu điệu của nàng thoăn thoắt hái rau.

Tò mò, Nga lại gần nàng. Thoáng thấy bóng Nga, nàng bẽn lẽn cúi đầu, với một vẻ duyên dáng lạ thường. Nga toan hỏi nàng thật nhiều nhưng thấy cử chỉ e thẹn của nàng, Nga lại im lặng, im lặng cho đến lúc nàng nhanh nhẹn bước vào chùa.

Đêm ấy, Nga không tài nào ngủ được. Tâm hồn Nga vấn vương bao nhiêu là ý nghĩ về nàng. Nga tự hỏi: “Nàng thất vọng vì tình hay khổ sở vì hoàn cảnh gia đình mà muốn thoát ly?” Trong số các bạn Nga ở trường, biết bao người đã lâm vào những hoàn cảnh ấy. Mỗi lần họ than thở với Nga và ngỏ ý muốn đi tu, Nga cười to bảo: “Tu hú!”. Nga không thể tin rằng những mái tóc xanh như thế có thể đem giết chết đời mình trong cửa thiền. Thế mà giờ đây sự thật đã bày ra trước mắt Nga và Nga tưởng chừng như Nga đang nằm mộng.

Với mục đích tìm ra sự thật, Nga đã tìm đến với nàng nhiều lần. Mấy lần đầu nàng chỉ im lặng. Nhưng rồi một hôm, hiểu rõ Nga hơn, nàng đã rưng rưng nước mắt kể lể tâm sự của mình…Nàng tên là Mai. Mới tháng trước đây, nàng là còn một nữ sinh như Nga và nàng cũng như Nga, nàng vừa thi rớt bằng Trung học đệ nhất cấp.

Nhưng khác với Nga là Nga thì được cha mẹ nuông chiều còn nàng thì sống trong hoàn cảnh khe khắt của gia đình. Nàng phải ở với cha và một người mẹ ghẻ. Bà mẹ đã hành hạ nàng một cách tàn nhẫn trong khi cha nàng vẫn lặng lẽo, vô tình. Mặc dầu đã là một nữ sinh Đệ tứ trung học, không ngày nào nàng không bị chửi mắng, đòn bọng. Bài vở ở trường, về nhà nàng không học gì được, vì phải lo đầu tắt mặt tối với công việc nhà. Thế mà lắm khi nàng bị đòn đến bằm cả mặt mày, nàng chỉ còn biết mang những vết thương ấy vào trường để khóc thầm với bạn. Nhờ bạn bè an ủi, nàng đã ẩn nhẫn để lo tương lai bằng con đường học vấn.

Nhưng kết quả cả sự ẩn nhẫn ấy là nàng thi rớt. Nàng thất vọng thì ít mà đau khổ thì nhiều. Thi rớt, lẽ tất nhiên nàng hết đường tiến thân và phải sống khổ sở trong lao tù phong kiến. Thi rớt, nàng đã hứng chịu bao nhiêu lời cay nghiệt của gia đình cũng như lời mai mỉa của xã hội quanh nàng. Thi rớt, đối với nàng, là cả một vũ trụ vừa sụp đổ. Đời nàng không còn một tia hy vọng nào nữa, dầu là một tia sáng mong manh. Thế là nàng đã khóc hết nước mắt trước khi tìm cho mình một lối thoát: đi tu.

Hạnh ơi! Hạnh có xót thương giùm cho nàng sư nữ ấy không? Riêng Nga, Nga đã yếu lòng để cho giọt lệ lả chả trên tay nàng. Nga ít khi nào khóc, thế mà hôm ấy Nga đã không cầm được lệ. Mắt Nga lại mở ra một lần nữa để nhìn thấy một sự trạng éo le. Sống trên nhung lụa và trong sự nuông chiều của gia đình, Nga không thể tưởng tượng xã hội ngày nay lại còn có những cảnh đau thương của thời đại Phạm Công - Cúc Hoa, Tấm Cám. Nhưng lỗi tại ai, hở Hạnh? Tại xã hội hay tại những tàng tích phong kiến còn ăn sâu vào gia phong của những gia đình bảo thủ?

Theo Nga, sự trạng xảy ra như vậy, một phần cũng tại sự giữ hiếu quá thụ động của Mai. Có lẽ càng muốn theo gương của Ngu Thuấn trong “Nhị thập tứ hiếu” chăng? Giữ hiếu như vậy, trong muôn người, may ra mới có một người cảm hóa được cha và mẹ ghẻ. Ngu Thuấn ngày xưa – theo sự bịa đặt của nhà văn – đã bao lần nhờ đến năng lực của thần quyền mới cảm hóa được người mẹ ghẻ ác độc. Còn Mai, nàng nhờ ai? Nàng có thể nhờ đến năng lực thần quyền nào giúp đỡ nàng chăng?

Không thể nhờ đến năng lực thần quyền để cảm hóa được người, Mai lại nhờ năng lực thần quyền để thoa dịu lại nổi khổ của nàng bằng cách nương thân vào cửa Phật.

Cái lối thoát đó của Mai cũng là một lối thoát tiêu cực. Mai tránh cái khổ này để sa vào cái khổ khác, và với cái tuổi còn xuân xanh quá của nàng, với những thị hiếu chất chứa tiềm tàng ở cơ thể nàng, ở tâm hồn nàng liệu nàng có thể tĩnh tâm mà khổ hạnh mãi, hay một ngày kia nàng lại tìm một lối thoát khác? Và biết đâu cái lối thoát thứ nhì kia không là con đường sa ngã, không là cái hố trụy lạc, vì còn biết bao cám dổ đang chầu chực quanh nàng.

Nga thấy thương Mai quá, Hạnh ạ! Mai là hiện thân đau khổ của bao nhiêu thiếu nữ không may. Làm thế nào cho ngay từ bây giờ, Mai được một lối thoát chân chính.

Làm thế nào cho Mai tìm lại được nguồn sống vui tươi như bao nhiêu mái đầu xanh khác ở học đường? Làm thế nào cho xã hội không thiếu mất hai bàn tay kiến tạo dầu là đôi bàn tay mềm mỏng nõn nà?...

Nga đang thay năng lực thần quyền mà làm công việc ấy đây. Nga tin rằng Nga sẽ thành công, và rồi đây trên đường sáng lạn huy hoàng, chúng ta lại được thêm một người bạn đường chân thành, khuyến khích nhau, nâng đở nhau ở những nẻo đường ghập ghềnh hiểm trở. Hạnh hãy tin tưởng người bạn khả ái ấy sẽ quay lại với chúng ta và sẽ yêu đời như, Nga, Linh, Dung, Hạnh.

Thật không dè tánh Nga hay liến khỉ thế mà bức thư viết cho Hạnh lại không vui tí nào. Nhưng chắc rằng Hạnh không phiền Nga đâu, Hạnh nhỉ? Còn bao nhiêu chuyện muốn nói, nhưng thôi, hẹn Hạnh khi khác vậy.

Chúc Hạnh vui tươi và rất mong thư Hạnh.

Thân ái.

NGA

°

TÂN PHONG, NGÀY 14 ÂM LỊCH

Tuyết Hạnh của Linh.

Sợ Hạnh mong, Linh vội vã viết bức thơ này sau vài ngày về đến quê hương. Thật ra, đây cũng chưa phải là nơi mà Linh đã trông ngóng từng giờ để về đến. Đây chỉ là quê nội Linh thôi. Còn quê ngoại, có lẽ tháng tới Linh mới về đến tận nhà.

Nhưng dù sao, ở đây không khí cũng được nhẹ nhàng, cảnh vật cũng được trầm tĩnh và dòng sông Ba rài vẫn trôi, in theo mãi bóng dừa,… Lẽ ra, lòng người trước cảnh đồng quê này sẽ được thư thái sau bao ngày mệt nhọc chốn thị thành. Nhưng Linh, chỉ có Linh, cảm thấy một nỗi buồn man mác xâm chiếm cả tâm hồn. Một nỗi buồn xa xôi. Một nỗi buồn không ai hiểu. Một nỗi nhớ mênh mông…

Hạnh ơi! cảnh vật nào đối với Linh cũng buồn. Buồn khi sáng đến cả những buổi chiều về. Buồn khi nghe tiếng chuông chùa giục đổ. Buồn, không làm gì, lại ra cánh đồng ruộng mênh mông để tìm những cánh chim mong gởi chút lời về phương ấy. Cảnh vật thật là nên thơ, thú vị, nhưng giờ đây, cảnh ấy không làm Linh mờ đi một hình ảnh. Linh muốn nói to lên, để tiếng Linh vang lên vùng trời cao rộng, để tiếng Linh hòa với gió ngân vọng về đến tai Hạnh: “Linh nhớ, nhớ Hạnh lắm”!

Hiện giờ, Hạnh đang làm gì? Hạnh có nhớ đến Linh không? Hạnh hãy nói thật đi. Linh sẽ thông cảm lời Hạnh qua không gian để gởi về Hạnh nhựng lời thắm thiết:

“ Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy. Ngàn năm chưa dể đã ai quên.”

Hạnh, Hạnh cứ tưởng tượng rằng trên nhịp cầu của bến nước sông xưa, Linh đang đứng nhìn về phương trời xa xâm, gởi mộng hồn về với Hạnh. Và ước mong một ngày nào đó – một ngày không xa xôi – sẽ có Hạnh cũng đứng bên Linh. Lúc ấy sông quê sẽ in hình, Linh Hạnh một bóng.

- Thôi, Hạnh nhé! Thư tâm sự không cần dài, vì có những điều không cần nói ra, Hạnh cũng đã hiểu. Chúc Hạnh vui trong những ngày xa Linh.

Siết chặt tay Hạnh

LINH

°

BẾN TRE, NGÀY 15-8-195…

Tuyết Hạnh.

Hạnh có mong thư Dung lắm không? Có lẽ Hạnh đã trách thầm: “ Con bé này nó quên mình rồi!”. Nếu thật vậy thì oan cho Dung lắm. Dung vẫn nhớ Hạnh đấy chứ, nhưng Hạnh muốn cho các bạn Dung cởi mở tâm sự với Hạnh trước đã. Hạnh đã tiếp được thư của Nga, Linh rồi phải không? Bây giờ thì tới phiên Dung đây.

Dung về quê, mang theo lòng một sự thắc mắc: Tại sao Hạnh là người miền Nam lại không học Gia Long mà học Trưng Vương? Tại sao các chị Trưng Vương lại tặng cho Hạnh các biệt danh là Hoa Trinh Nữ? Hẳn Hạnh có một tâm sự gì bí ấn lắm nên đôi mắt Hạnh lúc nào cũng thoảng một vẻ mơ buồn, cái vẻ mơ buồn mà các bạn Dung phải say sưa đắm đuối. Hạnh có thể thổ lộ tâm sự cho Dung biết không? Các bạn đang hâm sẽ khám phá cái bí mật ấy của Hạnh đấy. Nếu Hạnh không chịu thổ lộ với Dung thì rồi tâm sự của Hạnh cũng bị khám phá. Trên đời nầy, có cái bí mật nào mà bí mật mãi đâu, phải không Hạnh?

Thôi bây giờ Dung kể những chuyện vui vui, là lạ ở trường Dung cho Hạnh nghe, xem không khí ở Gia Long có khác với không khí ở Trưng Vương không nhé?

Ở trường Dung lúc nầy có phong trào “cặp bồ” ghê gớm. Các chị tranh nhau giành “bồ”. Nữ sinh nào xinh xắn, duyên dáng thì thế nào cũng được nhiều chị theo “cua”. Những cuộc tranh chấp nhiều khi cũng khá quyết liệt và cũng rất buồn cười.

Dung không biết cắt nghĩa thế nào cái chữ “bồ” ở đây. Một bạn gái tìm kết thân với một bạn gái, rồi cùng học, cùng chơi, cùng vui, cùng buồn, cùng nhau tỉ tê những nỗi niềm tâm sự, các bạn gọi đó là cặp “ bồ”.

Những người không hiểu rõ sinh hoạt của nữ học đường và tâm lý nữ sinh, họ sẽ ngạc nhiên vô cùng và không thể tưởng tượng được cái mối tình kỳ khôi của họ, cái tâm trạng vô cùng phức tạp của họ.

Dung ở nội trú. Đêm đêm, sau những giờ tự học, học sinh ra sân chơi. Các chị bảo Dung là “con người cô độc” vì Dung hay đi thơ thẫn một mình, trong lúc các chị có bồ sánh vai nhau dưới những tàng cây hay ngồi bên nhau trên băng, nhìn mây mà tâm sự. Họ thân nhau yêu nhau, lo lắng cho nhau như những cặp nhân tình. Họ quyến luyến đến nỗi không một chút rời nhau.

Vào giờ tự học, không được phép nói chuyện thì họ xé những mảnh giấy nhỏ để viết thư cho nhau. Thư của họ thật vô cùng vô tận.

Lúc Dung mới vào nội trú, có biết bao nhiêu chị theo kết bồ với Dung, nhưng sau thấy Dung “vô tình” quá các chị lần lần xa Dung. Sự thật, Dung không thể nào chịu nổi bao nhiêu cảm tình của họ đem dâng hiến cho Dung mà Dung thấy rằng họ đã vượt xa cái tình bạn chân thành. Trong lúc đó chị Nga cũng có một bồ rất khắn khít còn chị Linh thì thay đổi bồ như thay áo.

Ngày bãi trường vừa rồi, Hạnh biết không, những cặp ấy đã khóc hết nước mắt, gần làm ngập lụt cả Gia Long, Có chị yếu đuối tinh thần quá và hổ thẹn quá gặp bồ không thốt được một lời từ giã, lại chạy vô cầu tiêu mà khóc thút thít. Có chị thức trắng đêm để mà tâm sự, tâm sự của họ triền miên như dòng nước trường giang.

Thật đến ngày nay, Dung cũng chưa hiểu đó có phải là tình bạn chân thành hay là một thứ tình ái nghịch thường. Có một lần, bà gáo sư văn chương của Dung kêu một chị lên trả bài.

Bà lật tập chị ra, bắt gặp một tờ giấy biên tên tất cả những “ cặp bồ” ngoại trú lẫn nội trú. Chị trả bài không thuộc, mà bảo chị đọc tên những cặp bồ ghi trên tờ giấy, thì chị đọc vanh vách, không sót một mạng. Bà giáo sư đỏ mặt, chẳng hiểu vì giận hay vì hổ thẹn giùm cho đứa học trò của mình. Bà ôn tồn bảo chị ấy về, rồi bà giảng cho cả lớp nghe thế nào là một tình bạn chân chính.

Tuy vậy, lời của bà không có một tác dụng gì cụ thể và cái phong trào “ cặp bồ” lại càng sôi nổi mãnh liệt. Dung lấy làm ái ngại cho các bạn, nhưng lời giáo sư còn không ảnh hưởng gì thì Dung có tài gì mà chận đứng được phong trào? Dung có cảm tưởng rằng cứ theo cái đà này thì một mớ thiếu sinh sẽ hư hỏng cả tinh thần, nhưng Dung chưa truy nguyên ra lý do nào xuôi họ lâm vào tình trạng ấy. Dung mong rằng những nhà giáo dục chân chính sẽ tìm biện pháp dập tắt phong trào ấy để đem lại cho những mái tóc xanh những tư tưởng lành mạnh và một sức khỏe tinh thần.

Chẳng hiểu tại làm sao hôm nay Dung lại đăm ra lý luận dông dài thế nhỉ? Khi bắt đầu viết bức thư này, Dung chỉ định kể cho Hạnh nghe một vài mẫu chuyện vui, thế mà những chuyện vui ấy lại trở thành những chuyện đáng buồn và đáng lo ngại.

Nhưng dù sao thì Dung cũng đã lỡ kể rồi, vậy Hạnh có ý kiến gì cho Dung biết với. Kỳ tựu trường này Dung sẽ ra ở ngoại trú, chắc sẽ gặp Hạnh thường đấy.

Dung mong thư của Hạnh, và rất mong biết tâm sự Hạnh, mặc dầu Dung và Hạnh chỉ là “ bạn” chớ không phải là “ bồ”.

Bạn của Hạnh,

DUNG

°

VỈNH-LONG, Ngày 20-8-195… Chị Tuyết-Hạnh,

Hôm nay, Xuân gởi bức ảnh chụp ở Long Hải tặng chị. Có lẽ chị Nga, Linh, Dung cũng đã nhận được ảnh một lượt với chị đấy.

Năm nay chị Hạnh thi đậu, về quê chắc vui lắm. Phần chúng tôi, anh Tường-Minh vừa đậu tú tài Việt-nam phần nhứt, còn tôi thì đành ngâm câu: “Bùi Kiệm thi rớt trở về”.

Xuân nói ra, không phải để chị thương hại giùm đâu nhé! Tu mi nam tử, lẽ đâu đi chờ sự thương hại của nữ nhi, phải không chị? Có thi rớt mới hưởng được mùi vị của kẻ hỏng thi, chớ đậu hoài thì cũng tầm thường lắm. Xuân dám cam đoan mặc dầu chị Hạnh giỏi về văn chương, nhưng không thế nào chị hiểu được cái hay thâm thúy của hai câu thơ này của Tú Xương bằng Xuân:

“ Học đã sôi cơm nhưng chữa chín,
Thi không ngậm ớt thế mà cay.

Nói đùa thế cho vui, chớ Xuân không đến nổi chán nản như Tú Xương vậy đâu. Cụ Nguyễn công Trứ ngày xưa đến năm 42 tuổi mới đạt được hiển vinh về thi cử, kẻ hậu sinh như Xuân cần phải noi gương theo cụ chứ. Mình đạt được sự nghiệp sớm, thì ra mình lỗi đạo với tiền nhân sao?

Nhưng tại sao Xuân thi rớt? Đó là cả một vấn đề mà Xuân đang suy nghiệm. Xuân biết xưa nay mấy anh chị ở trường công thường có thành kiến đối với học sinh trường tư chúng tôi, cho chúng tôi là bọn “cao bồi” “đi chơi hơn là đi học”. Cái thành kiến đó thật là sai lầm, cần phải đả phá thẳng tay. Bằng cớ là mỗi năm kiểm điểm lại số học sinh thi đậu, học sinh trường tư vẫn đậu không kém gì học sinh trường công kia mà. Vậy thì cái quan niệm “đi chơi hơn là đi học”là cái quan niệm xuyên tạc hẳn hòi.

Đến cái quan niệm “ học sinh cao bồi” thì có riêng gì học sinh trường tư hay trường công, nó là chứng bịnh chung của một số thanh thiếu niên thời đại. Chính vì Xuân trước cũng mắc phải chứng bịnh ấy nên Xuân mới nhận lấy cái kết quả cay đắng ngày nay.

Thật không ai lạ lùng như Xuân, lần đầu tiên viết thư cho một thiếu nữ, lại dám tự xưng cái bịnh không ai ưa của mình. Không phải Xuân lập dị đâu, nhưng vì xuân thành thật nên Xuân muốn nói ra ngay những điều gì Xuân đang nghĩ.

Ngày Xuân còn bé, Xuân sống trong một xã hội đầy những du côn, anh chị. Xuân đã từng được chứng kiến những trò dao búa của họ và đầu óc non nớt của Xuân in sâu những hành động ngang tàng khinh thường pháp luật của họ. Khi được cặp sách đến trường, Xuân bắt đầu say mê những loại tiểu thuyết phiêu lưu, kiếm hiệp hoang đường, hình ảnh của những chàng hiệp sĩ áo xanh, áo tím, áo vàng lại in sâu vào đầu óc Xuân lần nữa. Gần đây, loại phim cao bồi bắn súng, đấu bao găm như làm sống dậy ở Xuân những hình ảnh cũ và với bầu máu nóng và tính hiếu động của thanh niên, Xuân không biết làm gì khác hơn là hành động theo những nhân vật từ lâu đã in sâu vào tâm não.

Những hành động tai hại ấy đã phá mất bao nhiêu thì giờ quý báu của Xuân. Cũng may, phong trào thành lập Hiệu đoàn ở các trường đã đánh đổ cái quan niệm “anh hùng cá nhân” của Xuân và đã gieo cho Xuân cái ý thức về sự sống chung; giúp Xuân phát huy được tinh thần tự giác. Nhờ những buổi học tập thể mà Xuân không còn thấy tự ái một cách ngông nghênh, nhớ những buổi tự phê bình và kiểm thảo toàn đội mà Xuân lần lần giác ngộ những hành động lỗi lầm của mình. Ngày nay, Xuân có thể tự hào mình là một người mới hồi sinh cả thể xác lẫn tinh thần. Xuân ngày nay không phải là Xuân ngày xưa nữa.

Có lẽ chị Hạnh sẽ mỉm cười khi đọc những lời thành thật trên của Xuân. Xuân rất sung sướng nhận lấy nụ cười của chị, vì Xuân biết đó không phải là nụ cười mai mỉa. Câu chuyện bản thân của Xuân tưởng cũng có ích để chị suy ngẫm đến bao nhiêu người khác cũng cùng một hoàn cảnh như Xuân.

Thôi, Xuân thân mật chào chị và rất mong một ngày gần đây sẽ được nghe chị hát lại bản “Bên bờ đại-dương”.

XUÂN

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Những câu chuyện vui thuở học trò, chuyện làng quê, chuyện sống trên đất Mỹ...được giả tưởng hay dựa trên thực tế viết ra truyện ngắn từ năm 2005-2015. Trước đây dưới tên tác giả là PHƯỢNG TÍM, BỜ ĐÁ XANH. Một số truyện đã đăng trên Việt Báo, mục VIẾT VỀ NƯỚC MỸ. Đặng Xuân Hường
Những bài thơ tâm linh, những suy tư... được viết ra trong khoảng thời gian từ 1998-2012 với tên tác giả Sa Mạc Hồng. Đây là những tâm tình như lời kinh cầu nguyện với Chúa nên lời thơ rất đơn sơ mộc mạc...Một số bài được viết dựa theo Kinh Thánh. Một số bài đã đăng trên Vietcatholic.net. Đặng Xuân Hường
Những bài viết về đồng ruộng làng quê, một thuở thanh bình xa xưa...mặc dù chỉ diễn tả một phần nào cuộc sống thời đó nhưng cũng vẽ lên một bức tranh ruộng lúa nương rau của Bình Giã vào những năm 1970 - 1985. Cùng một số bài thơ trước đây với tên tác giả TRĂNG MƯỜI SÁU. Hầu hết các bài được viết từ năm 1997 - 2015. post 01 Tháng Hai 2013 (Xem: 3897) Hương Đồng Quê - Đặng Xuân Hường
Những truyện ngắn được viết ra khoảng năm 2005-2008 theo "phong cách truyện Liêu Trai Chí Dị" của nhà văn Bồ Tùng Linh (1640-1715), truyện cũng như lời bàn chỉ có tính cách "giả tưởng, mua vui"...và cũng vì dựa theo các câu chuyện hiện tại nên tạm gọi là "Tân Liêu Trai". Trước đây dưới tên tác giả là BỒ TÌNH TANG, THƯ SINH. Đặng Xuân Hường
Những bài viết tùy bút, tâm tình, truyện ngắn...có khi dựa theo Phúc âm, có khi chỉ là những suy tư đơn sơ...Trước đây một số bài dưới tên tác giả là TỊNH TÂM, ĐÌNH NGHĨA (ĐN là tên lót hai vị: Linh Mục Trần Đình Trọng và Thầy Nguyễn Nghĩa Khôi) Đặng Xuân Hường
Bọn Chiến Binh, Thủy Thủ, Sinh Viên, Khoa Học Gia và Gián Điệp Tàu Cộng Đang Xâm Chiếm Đất Mẹ Mỹ Chuyển ngữ bởi Lê Bá Hùng với sự chấp thuận của tác giả TS Roger Canfield /Gián Điệp Tàu Cộng Trên Đất Mỹ 23 Tháng Chín 2014 (Xem: 1503)/
Nhật Tiến Thuở Mơ Làm Văn Sĩ /post 04 Tháng Mười 2014 (Xem: 1860)/
Trong lịch sử Giáo hội Công giáo Việt Nam, ước tính có đến hàng trăm ngàn người đã làm chứng đức tin Kitô Giáo, trong số đó có 118 Thánh Tử đạo, với 117 vị được Giáo hoàng Gioan Phaolô II phong Thánh ngày 19 tháng 6 năm 1988 và Á Thánh An-rê Phú Yên, phong Chân phước ngày 5 tháng 3 năm 2000./post 15 Tháng Mười Một 2015 (Xem: 2652)/
Tôi tin rằng những bạn đọc cuốn sách này nhất định nhoi lên trên số chín hoặc mười chín người ấy. Không khó, hễ các bạn muốn là được. Tất nhiên cũng phải biết cách muốn. Cuốn này sẽ chỉ các bạn cách muốn./post 11 Tháng Sáu 2013 (Xem: 1514) Nguyễn Hiến Lê - VN Thư Quán - Được bạn: Ct.Ly đưa lên/
Trương chậm bước lại vì chàng vừa nhận thấy mình đi nhanh quá tuy không có việc gì và cũng không nhất định đi đến đâu. Từ lúc này, vô cớ chàng thấy lòng vui một cách đột ngột khác thường tự nhiên chàng đi nhanh làm như bước đi cần phải đi nhịp với nỗi vui trong lòng./post 23 Tháng Giêng 2013 (Xem: 1159) Nhất Linh - Tự Lực Văn Đoàn - Vietmessenger.com/
Bảo Trợ