Hỏi đáp Y học: Bệnh Bạch Hầu

03 Tháng Chín 20164:42 CH(Xem: 1072)

“Thưa Bác sĩ,

Mới đây ở tỉnh tôi có mấy chục người bị bệnh bạch hầu phải nhập viện, và sau đó 3 người tử vong vì bệnh này.

Lâu lắm rồi tôi mới nghe lại tên bệnh này, và báo chí nói là bệnh này chưa được loại trừ ở Việt Nam.

Xin Bác sĩ cho biết bệnh này là bệnh gì, có phải là bệnh truyền nhiễm không, và cách phòng trị.

Bác sĩ Hồ Văn Hiền.

Bác sĩ Hồ Văn Hiền.

Xin cảm ơn Bác sĩ."

Bác sĩ Hồ Văn Hiền trả lời:

Bệnh bạch hầu (diphtheria) là một bệnh gần như biến mất trên bản đồ thế giới phát triển. Hồi thập niên 1920, có 100.000 -200.000 ca bệnh mỗi năm, làm 13.000-15.000 người chết. Sau đó, thuốc chủng ngừa càng ngày càng được áp dụng rộng rãi, nhất là thuốc DTP kết hợp biến độc tố (toxoid) của 3 bệnh bạch hầu, ho gà, uốn ván. Trong vòng 10 năm qua chỉ có 2 trường hợp diphtheria ở Mỹ.

Tuy nhiên, ở các xứ phát triển, bệnh có thể xảy ra, tuy rất hiếm hoi, như ở Đức và Canada, ở những người từ chối chích ngừa cho mình hay cho con những người này, vì lý do tôn giáo, hay sợ thuốc chích ngừa mà không có căn cứ khoa học. Chúng ta sống an toàn trong một nền y tế dựa vào các thuốc chủng ngừa. Nhưng vì "êm ái" quá, một số người có thể quên hoặc không nhìn thấy sự ích lợi của thuốc chủng ngừa mà chỉ nhìn thấy và công kích những biến chứng có thật hay tưởng tượng của biện pháp y tế phòng ngừa này, một giá tương đối nhỏ mà xã hội phải trả cho một tiện nghi rất lớn.

Năm 2013, chưa tới 5.000 ca được báo cáo khắp thế giới, 3.300 ca chết, phần lớn là trẻ em, phần đông từ miền nam Sa mạc Sahara, Châu Phi, Ấn độ (India) và Indonesia. Theo CDC, gần Mỹ, có những vùng dịch (endemic areas) ở Dominican Republic, Haiti. Có những ổ dịch lớn (large outbreaks) xảy ra ở Thái, Lào và Indonesia từ năm 2011.

Trước khi có trị liệu, tử vong cao, có thể lên đến 40-50%, hiện nay chừng 5-10%. Trẻ em dưới 5 tuổi, người trên 40 tuổi có thể tử vong cao hơn (chừng 20%).

Bệnh này dễ dàng được ngăn ngừa cho chủng ngừa và kháng sinh. Việt Nam là một trong những nơi hiếm còn xảy ra dịch bệnh này. Từ cuối tháng 6 đến nay, tại tỉnh Bình Phước có 47 người nghi mắc bệnh bạch hầu, trong đó có 3 người chết, những người còn lại đang được theo dõi tại bệnh viện (Tuổi Trẻ ngày 14-7). Cả ba bệnh nhân tử vong sau khi nhập viện được vài ngày.

Người ta nghĩ rằng 3 trong 8 năm vừa qua, tỷ lệ chích ngừa quá thấp ở Bình Phước, trong lúc tại Quảng Nam năm 2015 thì xảy ra ổ dịch vì những vùng không có điện nên không được chích ngừa đầy đủ.

Triệu chứng: Phổ biến nhất là bạch hầu đường hô hấp (respiratory diphtheria). Một màng dày mọc trong niêm mạc mũi và hầu (membranous nasopharyngitis); hay làm sưng nghẽn thanh quản và khí quản, là ống nói tiếp theo họng, đi xuống phổi (obstructive laryngotracheitis). Màng này gọi là "pseudomembrane" [màng giả], dai như bằng thịt, chắc, xám và bám chặt vào niêm mạc phía dưới; nếu lột gỡ ra thì chảy máu. Nếu màng giả lan đến thanh quản (larynx), khí quản (trachea), hay nếu tróc ra bị hít vào khí quản sẽ gây ngộp, không thở được, cần thông khí quản để cứu bệnh nhân. Trong từ diphtheria: gốc Hy Lạp có nghĩa là miếng da thuộc, da dày; do BS người Pháp Pierre Bretonneau đặt tên diphtherie năm 1857. Tuy nhiên, bệnh này đã được Aretaeus, một thầy thuốc Hy Lạp ở Cappadocia, Turkey, mô tả từ thế kỷ thứ 1- 2.

Thường bệnh nhân sốt nhẹ (<101o F hay <38.3o C), đau họng, nuốt đau, mệt mỏi, khàn tiếng (nếu thanh quản bị bệnh) và bệnh tiến triển từ từ trong 1-2 ngày. Vi khuẩn có thể gây bệnh nhiễm ở ngoài da (ở vùng nhiệt đới, hay ở những người vô gia cư các nước khác), âm đạo, kết mạc mắt hay tai. Biến chứng nặng: cổ sưng to (như cổ bò, “bull neck”), đi kèm với màng lan rộng ra tắt nghẽn đường hô hấp (airway obstruction), viêm tim (myocarditis; làm tim đập loạn nhịp, và nguy hiểm nhất là gây ra "heart block", dẫn truyền dòng điện điều khiển nhịp đập của tim bị ngăn chặn), và viêm các dây thần kinh ngoại biên ở tay chân, liệt các cơ phụ trách hô hấp (peripheral neuropathy).

Bệnh được xác nhận bằng cách cấy vi khuẩn; mẫu gửi đi cấy phải lấy từ dưới màng mủ, hoặc phải gửi một mẫu màng này, và phòng thí nghiệm cần được cảnh báo là nghi ngờ bệnh bạch hầu, để họ dùng môi trường cấy đặc biệt.

Dịch học:

- Chỉ có ở người, truyền từ nước miếng, các giọt nước nhỏ văng ra lúc ho (droplets), hay do tiếp xúc với vết thương bệnh ngoài da.

- Ở người không chữa trị bằng thuốc kháng sinh, vi khuẩn có thể hiện diện trong các chất tiết nói trên, mắt, da mũi, từ 2-6 tuần.

- Người được trị bằng kháng sinh thích hợp chỉ còn khả năng lây bệnh dưới 4 ngày sau khi khởi bệnh.

- Thường lây do gần gũi hay tiếp xúc trực tiếp với người bệnh, hay người mang vi khuẩn trong cơ thể nhưng không có triệu chứng bệnh (carriers).

- Rất hiếm khi lây qua trung gian một món đồ dùng chung (“fomite”, ví dụ khăn lau tay mặt), hay qua sữa tươi.

- Những người chưa được chủng ngừa, hoặc chủng ngừa không đầy đủ có thể mắc bệnh (như trường hợp một số bệnh nhân ở Bình Phước từng được chủng ngừa trước đây).

- Nói chung, bệnh nhân nhiễm vi khuẩn thì phát bệnh 2-7 ngày sau, hoặc có thể lâu hơn.

Chữa trị: Cần có biện pháp tích cực và nhanh chóng.


1) Kháng độc tố (antitoxin): Vì bệnh có thể xuống dốc nhanh chóng, cần chích kháng độc tố gốc ngựa ngay (equine antitoxin), dù chưa xác nhận bằng kết quả cấy vi trùng. Chích tĩnh mạch là tốt hơn cả, để vô hiệu hoá các độc tố. Chỉ chích tĩnh mạch (intravenous injection) sau khi thử scratch test (vạch ngoài da) với serum pha loãng 1.000 lần (scratch test of a 1/1000 dilution of antitoxin in saline solution), và theo sau đó thử bằng chích trong da (intradermal test). Nếu bệnh nhân dị ứng với antitoxin, cần giải hóa tình trạng dị ứng này trước khi dùng huyết thanh ngựa. Nghĩa là bắt đầu chích thuốc với những lượng rất nhỏ, rồi gia tăng từ từ đến những liều lớn hơn. Liều huyết thanh ngựa được tính theo bệnh nặng nhẹ, lâu hay mới phát hiện.

2) Kháng sinh:
Erythromycin uống hay chích 14 ngày.
Hoặc Penicillin G chích thịt hay tĩnh mạch 14 ngày (hay Penicillin Procain chích thịt) x14 ngày.
Nên chú ý: kháng sinh có mục đích ngăn chặn sản xuất độc tố mới, để diệt khuẩn bạch hầu, và ngăn chặn lây qua người khác, nhưng yếu tố trị liệu quan trọng nhất là chích huyết thanh kháng độc tố vô hiệu hóa các toxin đang lưu thông trong máu (antitoxin therapy).

3) Chủng ngừa: chủng ngừa trong khi phục hồi. Người từng bị bệnh cũng cần chủng ngừa, vì chưa chắc đã được miễn nhiễm vì đã từng trải qua cơn bệnh.

4) Chất dùng trong vaccine ngừa bạch hầu (cũng như uốn ván và ho gà) là độc tố toxin của vi trùng bạch hầu đã bị tước đi khả năng gây bệnh bằng cách chế biến hoá học, gọi là "toxoid" (biến độc tố; nontoxic chemically treated diphtheria toxin); do đó toxoid kích thích cho cơ thể sản xuất ra kháng thể chống lại vi khuẩn bạch hầu.

Nói chung, trẻ em ở Mỹ phải chích ngừa bạch hầu-ho gà-uống ván 4 lần trong 2 năm đầu, chích nhắc nhở lúc 4 tuổi trước khi đi học, chích lúc 11 tuồi trước khi vào lớp 6 (11-12 tuổi). Người lớn cần chích Td ((uốn ván +bạch hầu) 10 năm một lần. Nếu có thể người dưới 64 tuổi nên chích Tdap (uốn ván+ bạch hầu+ ho gà (liều thấp); ở Mỹ tên Boostrix (GSK) hoặc Adacel (Sanofi Pasteur)) một lần, thay thế liều Td (Td không che chở bệnh ho gà).

Những người tiếp xúc gần gũi với bệnh nhân (close contacts): người nhà, bác sĩ tiếp xúc trực tiếp, người giữ trẻ, trai gái hôn nhau, làm tình với nhau, người ăn uống chung), dù đã từng chích ngừa cần được :

- Theo dõi trong 7 ngày để xem có triệu chứng không
- Cấy tìm C. diphtheria
- Uống erythromycin ngừa bệnh (40-50 mg/ cho 1 ký lô cân nặng, tối đa 2 gram), trong 10 ngày; hoặc chích (IM) một mủi Penicillin Benzathine.
- Chích một mũi booster vaccine có chứa thành phần chống bạch hầu (như DTap, TD, Tdap).
- Không dùng huyết thanh ngựa chống bạch hầu.

Chúc quý vị thính giả may mắn.

Reference:
1) Red Book (28th Edition), American Academy of Pediatrics.
2) http://wwwnc.cdc.gov/travel/yellowbook/2016/infectious-diseases-related-to-travel/diphtheria

Bác sĩ Hồ Văn Hiền

-------------------------------------

Cảm ơn bác sĩ Hồ Văn Hiền. Chúng tôi cũng xin cảm ơn thính giả đã tham gia chương trình Hỏi đáp Y học này.

Quý vị có thể nghe lại các bài giải đáp trên mạng Internet ở địa chỉ voatiengviet.com

Quý vị muốn được giải đáp các thắc mắc về những vấn đề y học thường thức, xin gọi đến số (202) 205-7890, hoặc E-mail đến địa chỉ <vietnamese@voanews.com> để sắp xếp hẹn trả lời cho buổi phát thanh kế tiếp.

Các bác sĩ của chuyên mục Hỏi đáp Y học Trực tiếp của đài VOA sẽ cố gắng giải đáp các thắc mắc về y học của quý vị.


Theo VOA
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Covid-19 - một loại virus gây viêm phổi nghiêm trọng bắt nguồn từ Trung Quốc đã lan sang nhiều quốc gia khác, bao gồm cả Anh quốc. Theo số liệu của Ủy ban Y tế quốc gia Trung Quốc ngày 19/02 cho biết đã có 74.185 ca nhiễm và 2.004 ca tử vong ở Trung Quốc đại lục. Triệu chứng của bệnh Thông thường bệnh bắt đầu bằng một cơn sốt, sau đó là ho khan. Sau một tuần, bệnh có thể dẫn đến khó thở và một số bệnh nhân cần được điều trị tại bệnh viện. Đáng lưu ý, virus corona hiếm khi gây chảy nước mũi hoặc hắt hơi.
• Chemotherapy là phương pháp hoá trị vẫn thường được dùng đễ chữa bệnh ung thư. Nhưng phương pháp này tiêu diệt cả tế bào ung thư lẫn tế bào lành mạnh. Nó làm cho người bệnh mệt lử, ói mửa, có khi còn bị nhiễm trùng, và chết. Các bác sĩ hy vọng có thể tìm ra loại thuốc chữa ung thư mới tối tân hơn, không cần dùng phương pháp hoá trị. PHƯƠNG PHÁP HOÁ TRỊ - CHEMOPTHERAPY Từ bấy lâu nay vẫn thường được coi như là loại vũ khí mạnh, hữu hiệu đề chữa bệnh ung thư. Nó giúp cứu sống 20% bệnh nhân ung thư tại Hoa Kỳ trong hai thập niên vừa qua. Nhưng loại độc tố này nhắm tiêu diệt tế bào ung thư đang phát triển, đồng thời cũng giết luôn những tế bào lành mạnh, và nhất là nó hành hạ bệnh nhân một cách tàn bạo. Hậu quả của phương pháp hoá trị thay đổi tùy theo bệnh nhân, từ ói mửa cho đến bị nhiễm trùng mà chết.
16 kinh nghiệm…. 16 kinh nghiệm…. 1. Hạn chế uống trà sữa vì gây nguy cơ cao mắc bệnh tiểu đường và cao huyết áp 2. Không nên ăn uống bất kỳ thứ gì trong 2 giờ trước khi đi ngủ 3. Không nên ăn khuya vì có thể làm tăng nguy cơ ung thư dạ dày 4. Không để điện thoại di động hoặc bất kỳ thiết bị điện tử nào đang sạc bên cạnh khi đi ngủ 5. Khoai lang vàng và khoai lang tím đều có thành phần ngừa ung thư rất tốt 6. Phụ nữ trong thời kì kinh nguyệt không nên tắm hay gội đầu bằng nước lạnh 7. Phao câu gà có thể gây ung thư dạ dày. 8. Uống 1 ly nước lọc mỗi buổi sáng trước bữa sáng để ngăn ngừa bệnh sỏi mật và thông ruột
Tim là một cơ quan nội tạng quan trọng của hệ Tuần hoàn, có nhiệm vụ bơm máu thông qua mạch, cung cấp dưỡng chất và oxygen cho toàn cơ thể, đồng thời chuyển các chất thải chuyển hóa (metabolic waste) như carbon dioxide đến phổi để loại ra ngoài. Những vấn đề bệnh lý của Tim (Heart disease) và bệnh Tim Mạch (Cardiovascular disease) ảnh hưởng đến mọi lứa tuổi, mọi chủng tộc và giới tính, bao gồm nhiều nguyên nhân và triệu chứng khác nhau. Theo Trung Tâm Kiểm Soát và Phòng Ngừa Bệnh Tật Hoa Kỳ (CDC), hai căn bệnh này là nguy cơ hàng đầu dẫn đến tử vong, với tỉ lệ 25% trong số những người mắc phải, nghĩa là cứ mỗi 4 người mắc bệnh, thì có 1 người tử vong. Có nhiều trường hợp bệnh lý về Tim như: Bệnh Động mạch vành Tim (Coronary Heart disease), bệnh Tim bẩm sinh (Congenital Heart Defects), Loạn nhịp Tim (Arrhythmia)…
WASHINGTON, D.C. (SGN) – Hoa Kỳ đang tạm dừng tiêm vaccine Johnson & Johnson (J&J) sau khi có báo cáo về một loại cục máu đông hiếm gặp ở sáu trong số 6.8 triệu người đã tiêm vaccine này. Họ còn bị lượng tiểu cầu trong máu thấp. Tất cả những người bị ảnh hưởng là phụ nữ từ 18 đến 48 tuổi. Những người đã tiêm vaccine J&J có thể lo lắng, mặc dù tỷ lệ bị cục máu đông rất thấp. Bác Sĩ Alex Spyropoulos, một chuyên gia về cục máu đông tại Northwell Health ở New York, nêu ra những gì bạn nên làm nếu đã tiêm vaccine J&J. 1. Nếu đã tiêm J&J hơn hai tuần, không cần lo lắng Vì sáu phụ nữ bị đông máu xuất hiện các triệu chứng từ 6 đến 13 ngày sau khi tiêm chủng. 2. Nếu đã tiêm J&J chưa đầy 2 đến 3 tuần, hãy để ý các triệu chứng nhất định Các triệu chứng được liệt kê trong tuyên bố của CDC và FDA là: – Đau đầu dữ dội. – Đau bụng. – Đau chân. – Khó thở.
Inline image Người ta focus vào chữ vaccine nhiều quá...nên nghĩ đơn giản là vaccine (một khi chích vào rồi) thì nó bảo vệ mình (không bị nhiễm). Phải nói lại cho chính xác như sau: cái bảo vệ mình, không phải là vaccines mà là antibodies của mình. Antibodies này được (cơ thể) làm ra, khi chích vaccines vào. Từ định nghĩa này, cho thấy: 1) Không cần biết là vaccine loại nào, của hãng nào. Cứ hễ chích vào, thì nó tạo ra antibodies. Cho nên, đợt này chích Pfizer, năm sau chích J&J cũng được...chứ không nhất thiết là phải chích cùng loại. 2) Mục tiêu là để đưa cái antibodies của mình lên tới Protective Level. Vấn đề ở đây là: - Cái protective level của antibodies này, kéo dài trong bao lâu ? Những vaccines truyền thống (vì có chất adjuvant) nên kéo dài rất lâu...có khi cả đời...như vaccine về yellow fever, measles, BCG etc...
Hiệp Hội Người Cao Tuổi Hoa Kỳ (AARP) mới đây gởi ra thông báo bao gồm những điều cần biết đối với người sắp chích ngừa COVID-19 mũi thứ nhì sau đây. Nếu đã chích mũi đầu tiên trong hai mũi thuốc chích ngừa COVID-19, xin chúc mừng, vì quý vị sắp hoàn tất việc ngừa virus này trong cơ thể. Nhưng để hoàn toàn có được sự miễn dịch, quý vị nhất định phải chích mũi thứ hai. Image removed by sender. Chích ngừa COVID-19. (Hình minh họa: AP Photo/Marta Lavandier, File). Trên cả nước, một số người đang rơi vào tình trạng lộn xộn khi cố gắng nhận mũi chích thứ hai vì nhiều lý do khác nhau.
Ở Mỹ, mỗi năm có thêm 700.000 ngàn trường hợp tai biến mạch máu não mới xảy ra. Cứ 10 người sau khi bị tai biến mạch máu não, có 4 người ít nhiều cần đến sự giúp đỡ của người nhà trong cuộc sống hàng ngày, 1 người trở thành tàn phế.../ 04 Tháng Sáu 2012(Xem: 6158) Bác sĩ Nguyễn Văn Đức - BT Canada st/
Chắc hẳn bạn đã nghe nói hiệu quả của vắc xin Covid-19 của Pfizer là 95%, của Moderna là 94% và của Johnson & Johnson là 66%. Nhưng những con số này thực sự có ý nghĩa như thế nào? Câu hỏi này không chỉ được quan tâm bởi các nhà nghiên cứu. Hiểu biết của mọi người dân về vắc xin, cho dù họ có tiêm hay không sẽ có những ảnh hưởng rất lớn đến tình hình đại dịch trên quy mô lớn. Vậy chúng ta nên hiểu những con số này như thế nào? Vắc xin Covid-19 được cất trong kho dược liệu ở bệnh viện cộng đồng Roseland, Chicago Vắc xin Covid-19 được cất trong kho dược liệu ở bệnh viện cộng đồng Roseland, Chicago, Mỹ, ngày 18/12/2020. Nhà virus học Brianne ở Trường đại học Drew, Mỹ, nói về vắc xin của Pfizer là mọi người cần hiểu rằng đây là một vắc xin cực kỳ hiệu quả. Nó có hiệu quả cao hơn nhiều so với mọi người thường nghĩ. Thông thường người ta hay nghĩ rằng hiệu quả 95% có nghĩa là 5% số người được tiêm vẫn bị mắc Covid.
“Đột tử” thường xảy ra vào đêm khuya hoặc sáng sớm. Khi gặp gió lạnh mùa Đông tràn về chúng ta phải thay đổi thói quen sinh hoạt, đừng nghĩ rằng mình còn trẻ mà không phòng bệnh. Bài viết của Tác giả: Hoàng Tuyên (bác sĩ chuyên về nội khoa lồng ngực và bệnh hiểm nghèo, bệnh viện Từ Tế Đài Trung) ngày 01 tháng 02 năm 2020. Người dịch Tô Duy Tiệp *** Hôm qua rất lạnh, toàn Đài Loan có khoảng 50 người bị đột tử, nếu cứ tiếp tục lạnh nữa e rằng sẽ có hàng trăm người bị đột tử. Mọi người chắc sẽ rất hiếu kỳ muốn biết rằng với những người đang khỏe mạnh, tại sao lại đột nhiên qua đời? Đặc biệt với những người không có tiền sử bệnh về máu, lại luôn uống thuốc đúng giờ, cũng không hút thuốc, không thức đêm, không uống rượu, trước khi đột tử đều không có hiện tượng bất thường? Trong điều trị lâm sàng thì những vấn đề này thường được đề cập tới, thì đúng rõ ràng là đã mặc áo ấm rồi, vậy tại sao vẫn bị đột tử?
Bảo Trợ