Tại Sao Đức Tin Không Có Việc Làm Là Đức Tin Chết?

01 Tháng Tám 20165:26 CH(Xem: 1794)
Hỏi: xin cha giải thích rõ thêm thế nào là có đức tin và phải sống đức tin ấy ra sao trong thực tế để mưu phần rỗi cho mình ?


Trả lời :

Đức tin là quà tặng nhưng không
( gratuitous gift) mà Thiên Chúa ban cho con người để giúp con người nhận biết và tôn thờ Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa toàn năng, là Cha đầy lòng yêu thương, tha thứ và cứu chuộc con người nhờ Chúa Cứu Thế Giê-su-Kitô
duc_tin_1
Nhưng có đức tin thì phải sống đức tin ấy cách xứng hợp,  thì mới mong hưởng nhờ những ơn ich thiêng liêng của đức tin.Sống xứng hợp có nghĩa phải thể hiện hay chứng minh  đức tin bằng hành động cụ thể trong đời sống của mỗi người tín hữu, căn cứ theo lời dạy sau đây của  Thánh Giacôbê Tông Đồ : " đức tin không có việc làm là đức tin chết" ( Gc2: 17)

Thật vậy, đức tin phải được chứng minh cụ thể bằng việc làm, chứ không thể nói suông ngoài môi miệng được. Ông Abraham, Tổ Phụ của dân Do Thái, đã nêu gương sáng chói về đức tin qua việc làm cụ thể  của ông.. Ông chỉ có một người con trai duy nhất là Ísaac. Vậy mà một ngày kia Thiên Chúa đã thử thách đức tin và lòng mến Chúa của ông bằng cách đòi ông hiến dâng con mình làm lễ tòan thiêu dâng lên Chúa. Chắc ông phải buồn lòng lắm, vì ông chỉ có một con trai duy nhất trong tuổi già. Nhưng đức tin và lòng mến Chúa của ông còn lớn hơn lòng thương yêu con một của mình. Nên ông đã quyết định hy sinh con mình cho Chúa để chứng minh lòng tin và yêu mến Chúa của ông.

Để thực hiện lòng vâng phục Thiên Chúa, ông đã dẫn con mình lên núi, thiếp lập bàn thờ và trói con lại, đặt lên bàn đó và giơ dao lên định chém cổ con mình, thì Thiên Thần Chúa đã kip thời can thiệp, sai Sứ Thần đến để cứu mang sống của Isaac. Sau đó Thiên Chúa  đã phán bảo ông qua miệng Sứ Thần như sau:

 :"bởi  vì ngươi dám làm điều đó, đã không tiếc con của ngươi, con một của ngươi,  nên Ta sẽ thi ân giáng phúc cho ngươi, sẽ làm cho dòng dõi ngươi nên đông, nên nhiều như sao trên bầu trời , như cát ngoài bãi biển ...mọi dân tộc trên mặt đất sẽ cầu chúc cho nhau được phúc như dòng dõi ngươi, chính bởi vì ngươi đã vâng lời Ta." ( St 22: 15-18)

Abraham đã đẹp lòng Chúa vì dám hy sinh con mình cho Chúa. Vì thế ông đã trở thành cha của những kẻ có niêm tin Chúa bằng hành động cụ thể. Các Thánh tử Đạo từ xưa đến nay cũng là những người dám hy sinh mạng sống mình để tuyên xưng đức tin vào Chúa Kitô, dù phải chịu muôn vàn khốn khó và cực hình bởi tay  những kẻ bách hai đức tin Ki tô Giáo.

Chúng ta không được phúc chết cho niềm tin như  các anh hủng tử đạo, nhưng vẫn có thể sống đức tin bằng hành động tuân giữ các giới răn của Chúa căn cứ  trên lời dạy của Thánh Gioan Tông Đồ như sau:

           " Nếu ai giữ các giới răn của Thiên Chúa 
            thì đó là dấu chỉ chúng ta đã nhận biết Thiên Chúa

            Ai nói rằng mình biết Chúa mà không giữ các điều  răn của Chúa

           đó  là kẻ nói dối, và chân lý không có trong kẻ ấy." ( 1Ga 2: 3-4)  

Điều răn của Chúa là những điều gì ?

Đó là không được gian tham, trộm cắp, căm thù, giết người,giết thai nhi, li dị, gian dâm, thay vợ đổi chồng, ham mê của cải vật chất, làm chứng gian, bóc lột người khác, dâm ô thác loan, và dửng dưng trước sự nghèo đói, đau khổ của anh chị em đồng loại..

Cứ nhìn vào thực trạng sống của con người trên khắp thế gian tục hóa ngày nay thì đủ biết  ai đang tuân giứ các Điều  răn của Chúa và ai đang ngoảnh mặt làm ngơ  và chà đạp lên  những gì Thiên Chúa muốn con người phải làm   để mặc sức sống theo ý muốn của riêng mình, chay theo thế gian vô luân, vô đao, và làm nô lệ cho ma quỷ khiến mất hy vọng được cứu rỗi, nhờ công nghiệp cứu chuộc cực trọng của Chúa Kitô " Đấng đã hy sinh mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn người." ( Mt 20:28)

Chúa Kitô đến trần gian như ánh sáng để đánh tan bóng đen của tội lỗi và mọi sự dữ, và soi sáng cho những ai đang ngồi trong đêm tối của tử thần để giúp họ thoát ra khỏi bóng đen của sự chết như Chúa đã nói với các môn đệ Người và dân Do Thái xưa kia:

Ta là ánh Sáng đến thế gian 
Để bất cứ ai tin vào Ta
Thì không ở lại trong bóng tối.”
 (Ga 12: 46)

Nhờ đức tin  soi dẫn để đưa chúng ta ra khỏi  bóng tối,  trước hết có nghĩa là phải  đoạn tuyệt với tội lỗi vìtội lỗi gây nên sự chết, như thế sự chết đã lan tràn tới mọi người vì một người đã phạm tội”  như Thánh Phaolô đã quả quyết. (Rm  5: 12).  Bóng tối là  nơi trú ẩn của mọi sự dữ, sự gian tà, dâm đãng  ô uế;  và  ma quỷ, kẻ thù của chúng ta,  đang ẩn mình ở nơi đây để  không ngừng lôi kéo con người  ra khỏi tình thương của Chúa  để làm nô lệ cho chúng  khiến mất ơn nghĩa với Chúa và mất  hy vọng được sống đời đời với Chúa trên Nước Trời mai sau.

Ánh sáng đức tin là chính Chúa Kitô  soi đường cho người có niềm tin  bước đi theo Chúa là " Con Đường, là sự Thật và là sự Sống" ( Ga 14:6)Ánh Sáng đó  hướng dẫn con người  đi trong chân lý, trong đường  ngay lành, lương thiện, để không làm  những gì trái nghịch với đường lối  của Thiên Chúa  khiến mất hy vọng được cứu rỗi. Nói khác đi, phải  quyết tâm sống theo đường lối của Chúa, xa tránh mọi sự dữ, sự tội để sống xứng đáng là người có niềm tin và thể hiện niềm tin ấy từ trong tâm hồn ra ngoài hành động cụ thể trước mặt bao người không có hay chưa có đức tin để:

 “
họ thấy những việc tốt đẹp anh  em làm mà tôn vinh Cha của anh  em, Đấng ngự trên trời.” (Mt 5: 16).

Thật vậy, cứ nhìn vào thực trạng con người đang sống ở khắp nơi trên thế giới ngày nay cũng đủ cho ta thấy lằn ranh của ánh sáng đức tin và bóng tối của sự dữ, sự chết đang bao phủ biết bao người sống trong đó.

Nếu ánh sáng đức tin đã soi dẫn cho những nhà truyền giáo quên thân mình để hy sinh đi mở mang Nước Chúa  ở các nơi xa xôi  và nguy hiểm bên Phi  Châu, Nam Mỹ và A Châu, thì ngược lại bóng đen của sự dữ đang che mắt  và lèo lái biết bao người khiến họ mù lòa không còn nhìn rõ lan ranh giữa sự thiện và sự dữ, giữa sự sống và sự chết 

Đó là những kẻ đang giết người vì tiền, vì  cuồng tín ( bọn cuồng tín Hồi Giáo ISIS đang gây thánh chiến Jihad để tiêu diệt các tôn giáo khác nhân danh Thượng Đế của chúng), hay  vì muốn bám lấy địa vi cai trị độc ác của mình nên đã  ra tay sát hại bao trăm ngàn người  đòi  hỏi công  lý, dân chủ và tự do.ở nhiều nơi trên thế giới.

Đó là những kẻ đang giết chết hàng triệu thai nhi mỗi ngày trên khắp thế giới, đặc biệt là ở Trung Hoa lục địa, nơi trẻ nữ đã bị sát hại từ bao thế kỷ trước kia vì quan niệm trọng nam khinh nữ và nay vì chính sách “một  hay con cho mỗi gia đình” của nhà cầm quyền cộng sản.

Đó là những kẻ đang buôn bán phụ nữ và bắt cóc  trẻ gái để bán cho bọn bất lương hành nghề mãi dâm và ấu dâm   rất khốn nạn và tội lỗi ở khắp nơi trên thế giới tục hóa ngày nay. Sau cùng, đó là những kẻ gian manh, trộm cướp, mở sòng cờ bạc,  nhà điếm, sản xuất phim ảnh khiêu dâm đồi trụy, trồng và  bán các loại cần sa ma túy để làm giầu nhờ buôn bán  các sản phẩm nguy hại cho thể xác và đồi trụy  tinh thần con người, đặc biệt là giới trẻ ở khắp nơi.

Tất cả những loại người trên đây đã và đang sống trong bóng đêm của sự chết, sự hư mất đời đời nên cần được ánh sáng đức tin và Tin Mừng cứu độ của Chúa Kitô soi chiếu và giải thoát cho ra  khỏi bóng đêm đáng ghê sợ đó.. 

Nhưng   bằng cách nào?

Đây là câu hỏi đặt ra cho mỗi người tín hữu chúng ta, những người có diễm phúc đã được biết Chúa Kitô là chính Tin Mừng và là Ánh Sáng  chiếu soi,  nên có bổn phận và  trách nhiệm đem ánh sáng ấy chiếu vào những nơi tối tăm, sình lầy, nhơ uế của tục hóa, vô thần và vô luân đang bao phủ và mê hoặc biết bao triệu người ở khắp nơi trên thế giới ngày nay.

Đây chính là trách nhiệm “phúc âm hóa môi trường sống” của người tín hữu Chúa Kitô bằng đời sống chứng nhân của mình ở giữa những người chưa biết Chúa và đang bị bóng đêm của sự chết bao phủ.

Thi hành vai trò chứng nhân nói trên đòi hỏi mọi tín hữu trong Giáo Hội – từ hàng Giáo Phẩm, giáo sí, tu sĩ và giáo dân – trước hết  phải thực sự sống Tin Mừng Cứu Độ của Chúa Kitô, để minh chứng  đức tin thực sự của mình. Đặc biết, hàng giáo sĩ- giám  mục và linh mục- phải nêu gương khó nghèo của Phúc Âm để không đôn đáo chay ra nước ngoài kiếm tiền cho nhưng nhu cầu bất tận, trong đó có lòng tham mê tiền của của chính mình. Đặc biệt, không được tự hạ mình để xưng "con hay em"  khi tiếp xúc với giáo dân ở ngoại quốc để mong họ cho nhiều tiền  như có người đã làm ở Mỹ và ÚC. 

Nếu sống phản chứng hay mâu thuẫn với niềm tin,  thì  sẽ không thuyết phục được ai tin những gì  mình muốn rao giảng cho họ, vì không ai có thể cho người khác cái mà chính mình không có.

Cụ thể, nếu mình rao giảng tinh thần nghèo khó, và khinh chê hư danh trần thế của Phúc Âm, nhưng chính bản thân mình lại chạy theo thế quyền, ham mê tiền của, hơn là hăng say rao giảng  và làm chứng cho Tin Mừng  thì làm sao có thể thuyết phục được ai  tin và sống điều mình giảng dạy nữa?

Nếu lời nói không đi đôi với việc làm thì không thể làm nhân chứng cho bất cứ điều gì được, vì


    “Ai tin vào Con Thiên Chúa, thì có lời chứng ấy nơi mình 
      Ai không tin Chúa, thì coi  Chúa là kẻ nói dối

      Vì kẻ ấy không tin vào lời Thiên Chúa

       Để làm chứng tá về Con của Người.”  (1 Ga: 5: 10)

Như thế, thật vô cùng cần thiết phải sống đức tin cách cụ thể  để mời gọi  người chưa có đức tin  được nhận biết có Chúa Kitô đang sống và hoạt động  nơi mình  để từ đó đời sống và  lời rao giảng của mình  sẽ  có sức thuyết phục người khác.

Cụ thể, nếu người Công giáo, người Tin hữu Chúa Kitô mà cũng ăn gian nói dối, lường đảo, hận thù, thay chồng đổi vợ, bất công và thờ ơ với người nghèo khó, thì làm sao có thể thuyết phục được ai tin có Chúa là Đấng  nhân từ, công chính, yêu thương, nhịn nhục  và tha thứ?  Đó là lý do tại sao Thánh Gia-cô-bê Tông Đồ đã khuyên dạy như sau:

Thưa anh  em, ai bảo rằng mình có đức tin mà không hành động thì nào có ích gì?….Thật thế, một thân xác không hơi thở là một  xác chết. Cũng vậy, đức tin không có hành động là đức tin chết.’ (Gc  2:  14, 26)

Hành động mà thánh Gia-cô-bê nói trên đây  là chính đời sống nhân chứng của  người có niềm tin nơi Chúa trước mặt ngưởi khác để họ thấy  chiếu sáng qua đời sống của mình những giá trị của  Tin Mừng về  công bằng, nhân ái, lương thiện,  nhịn nhục  và  tha thứ đối nghịch với  bất công, gian ác, bất lương, dâm ô, thù hận, vô nhân đạo, vô luân vô đạo của  thế gian tục hóa, trống vắng niềm tin.

Trong bối cảnh ấy, nếu người có niềm tin vững mạnh và sống niềm tin của mình cách  cụ thể  trước mặt người đời, thì “anh  em sẽ trở nên những con người  vẹn toàn của Thiên Chúa, giữa một thế hệ gian  tà sa đọa. Giữa thế hệ đó, anh  em phải chiếu sáng như những vì sao  trên vòm trời.”  như Thánh Phaolô đã dạy cho các   tín hữu Phi-lip-Phê (Pl 2: 15) 

Mặt khác, sống trong ánh sáng đức tin, người tín hữu không thể coi nhẹ việc cầu nguyện, lãnh nhận các bí tích tối cần như Thánh Thể và hòa giải, và tuân giữ những giới răn của Thiên Chúa như  Đức Thánh Cha Phanxicô đã viết trong Tông Thư “Ánh Sáng Đức Tin, số 40-46”.

Cần cầu nguyện để nói lên niềm tin có Chúa và tin thác vào ơn Chúa để có đủ sức vươn lên trong mọi chiều kích của đức tin và lòng mến yêu Chúa. Cầu nguyện cũng đem ta đến gần Chúa là nguồn ban phát mọi ơn cần thiết giúp ta luôn sống trong tình yêu của Chúa và có đủ sức để chống lại mọi cám dỗ của ma quỷ tinh quái, xác thịt yêu đuối và gương xấu, dịp tội đầy rẫy trong mọi môi trường sống ngày nay.

Mặt khác, tuân giữ các Giới Răn của Chúa trong Bản Thâp Điều (Decaloque) cũng mạnh  mẽ nói lên niềm tin và mến yêu Chúa cách cụ thể, như lời Chúa Giêsu đã nói với các Tông Đồ xưa: 

          Ai yêu mến Thầy  thì sẽ giữ lời Thầy
             Cha của Thầy sẽ yêu mến người ấy

           Cha của Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với  người ấy(Ga 14: 23)

Mười  điều Răn của Chúa không phải là những đòi hỏi có tính tiêu cực mà là những chỉ dẫn cụ thể  để giúp ta  đáp trả tình yêu  vô biên của Thiên Chúa, thể hiện qua Chúa Kitô, Đấng cũng vì yêu thương mà
hiến mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn người. (Mt 20 : 8).

Nói khác đi, thực thi Mười Điều Răn của Chúa, được đúc kết trong hai điều răn quan trọng nhất mà Chúa Kitô đã nói với một kinh sư kia (Mc 12:  29-31) là cách biểu lộ cụ thể niềm tin và biết ơn của chúng ta đối với Chúa, là Đấng đã tạo dựng  và cứu độ chúng ta, chỉ vì Người  yêu thương chúng ta  quá vô vị lợi, chứ tuyệt đối  Người không  được lợi lộc  gì mà phải làm như vậy. Do đó, yêu mến Chúa và tuân thủ các giới răn của Người chỉ có lợi cho chúng ta mà thôi, đúng như lời ông Mô-sê đã nói với dân Do Thái xưa:

     “Anh  em hãy lo thực hành như ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của anh  em đã truyền cho anh em, không đi trệch bên phải, bên trái. Anh  em hãy đi đúng con đường mà ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của anh  em đã truyền cho anh  em, để anh  em được sống, được hạnh phúc và được sống lâu trên mặt đất mà anh  em sẽ chiếm hữu.” (Đnl  5: 32-33)

Mặt đất mà dân Do Thái sẽ chiếm hữu , sau khi thoát khỏi ách nô lệ bên Ai Cập, là đât "Canaan đầy sữa và mật", còn đối với dân Tân Ước được tái sinh qua Phép Rửa, thì Đất Hứa là Nước Trời nơi Thiên Chúa đã dọn sẳn hạnh phúc mà  mắt chưa  hề  thấy, tai chưa hề nghe, lòng người chưa  chưa hề nghĩ tới., Đó là điều Thiên Chúa đã dọn sẵn cho những ai yêu mến  Người. bao lâu còn sống trên trần gian này, như Thánh Phaolô đã nói với  tín hữu Cô-rin-tô.(1Cor 2:9)

Tóm lại, nhờ ánh sáng đức tin chiếu soi, chúng ta được thấy Chúa và tin có Người, dù chưa từng trông thấy Người bằng con mắt xác thịt. Lai nữa, nhờ ánh sáng đức tin, ta  được nhìn rõ lằn ranh giữa sự thiện và sự dữ, giữa sự gian tà, nhơ uế  và sự trong sạch thánh thiện,  để từ đó quyết tâm chọn lựa con đường dẫn đến gặp Chúa, là nguồn an vui, hạnh phúc bất diet.

Tuy nhiên, chúng ta phải có thiện chí muốn cho ánh sáng đức tin soi dẫn và có can đảm để bước đi trong ánh sáng đó thì mới mong tới được cùng đích hay chính đối tượng của đức tin là Thiên Chúa, Cha  rất nhân từ đang ngự trên trời cao và muốn “đến cư ngụ trong những ai
 yêu mến và tuân giữ lời Chúa”, như Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ  trong diễn từ cáo biệt trước khi thọ nạn thập giá. (x Ga  14:  23)

Ước mong những lời giải thích trên thỏa mãn câu hỏi đặt ra.

 

Lm. Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn
Theo Conggiao.info

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
– Vào thứ Ba 8-12-2020, Đức Giáo hoàng Phanxicô đã công bố Năm Thánh Giuse, để kỷ niệm 150 năm ngày thánh nhân được công bố là người bảo trợ Giáo hội hoàn vũ. Đức Giáo hoàng Phanxicô cho biết ngài thiết lập Năm Thánh này để “mọi tín hữu theo gương Thánh Giuse, củng cố đời sống đức tin bằng cách hằng ngày thực hiện trọn vẹn ý muốn của Chúa.” Dưới đây là những điều bạn cần biết về Năm Thánh Giuse: Tại sao lại có những năm được mang các chủ đề cụ thể (từ Giáo hội)? Giáo hội cử hành diễn trình của thời gian qua lịch phụng vụ - bao gồm các lễ như Phục sinh và Giáng sinh, và các mùa như Mùa Chay và Mùa Vọng. Ngoài ra, các vị Giáo hoàng còn có thể dành riêng những khoảng thời gian nào đó để Giáo hội suy ngẫm sâu sắc hơn về một khía cạnh cụ thể của giáo huấn hoặc niềm tin Công giáo. Một số năm trước đây đã được các vị giáo hoàng gần đây chọn lựa như thế, bao gồm Năm Đức Tin, Năm Thánh Thể và Năm Thánh Lòng Thương Xót.
Tại Việt Nam, ít ai biết được rằng 150 năm trước khi thi hào Nguyễn Du qua đời (1820), văn chương Công giáo đã có một tác phẩm lục bát bằng chữ Nôm đạt mức tuyệt tác: Tác phẩm Sấm Truyền Ca (1670), diễn ca 5 quyển đầu của Cựu Ước, do cha Lữ Y Đoan, một trong những linh mục thế hệ đầu của địa phận Đàng Trong. Cũng chính năm 1820 tác phẩm được phiên âm sang chữ quốc ngữ. Sau một vận mệnh hẩm hiu suốt hơn ba trăm năm, cuối thế kỷ XX chỉ còn hơn 1/5 tác phẩm sống sót: Sách Sáng Thế Ký (Tạo đoan kinh) và 21 chương đầu của sách Xuất Hành (Lập quốc kinh). Năm 1993 một số trí thức Công giáo đã thực hiện hồ sơ “Về các tác giả Công giáo thế kỷ XVII-XIX”, do Khoa Ngữ Văn, Đại học Tổng hợp Tp HCM ấn hành. Quyển sách đã giới thiệu tác phẩm Sấm Truyền Ca đến công chúng.
Từ ngữ: tuyên thánh đúng hơn là phong thánh: Từ phong thánh quen dùng trong tiếng Việt, nguyên ngữ từ tiếng Hy Lạp “Kanon” có nghĩa là thước đo hay tiêu chuẩn hay được nhìn nhận là có giá trị. Ý nghĩa nầy được tìm thấy trong động từ canonizare của tiếng La tinh, rồi canoniser trong tiếng Pháp và Canonize trong tiếng Anh. DHYThuan-ChaDiep.jpg Những tín hữu trong thế kỷ đầu đã phong thánh cho các Tông Đồ khi gọi các Ngài là Thánh. Những vị tử đạo cũng được gọi là thánh. Rồi những thế kỷ kế tiếp, những giáo dân có đời sống thánh thiện, nêu gương sáng và thành mực thước cho người đời cũng được tuyên bố “đang ở trên thiên đàng” tức là thánh. Như vậy theo từ Kanon và theo truyền thống, Giáo Hội không hề phong thánh hay không hề làm cho ai thành thánh cả. Giáo Hội, qua thời gian cầu nguyện lâu dài và qua những phép lạ được thực hiện nhờ lời chuyển cầu của ...
I. Nữ vương các thánh tử đạo 1) Tại sao Đức Maria được gọi là Nữ vương các thánh tử đạo? 2) Tại sao chọn Nữ vương các thánh tử đạo làm bổn mạng tỉnh dòng? 3) Tỉnh dòng có tình cảm gì đối với Nữ vương các thánh tử đạo? II. Nữ vương các chứng nhân 1) Tân ước có nền tảng cho tước hiệu Đức Maria “Nữ vương các chứng nhân” không? 2) Đức Maria đã sống đời chứng nhân đức tin như thế nào? 3) Tước hiệu “Nữ vương các chứng nhân” có ý nghĩa gì đối với chúng ta? ————- Đây không phải là lần đầu tiên tôi được mời chia sẻ với anh em nhân dịp bổn mạng tỉnh dòng. Vì không muốn lặp lại những điều đã trình bày cho nên năm nay tôi muốn tìm một lối tiếp cận mới liên quan đến danh hiệu bổn mạng tỉnh dòng, qua tựa đề: “Nữ Vương các tử đạo hay Nữ vương các chứng nhân?” Xin anh em hãy kiên nhẫn chịu tử đạo khi nghe bài suy niệm hơi dài, và có thể gây nhiều cú sốc.
Phan Tấn Thành Tại một số nhà thờ mới cất bên Việt Nam, người ta thấy trên Thập giá thay vì tượng Chúa chịu nạn lại có tượng Chúa Phục sinh hay Linh mục Thượng phẩm. Tại sao lại có sự thay đổi ấy? Từ sau công đồng Vaticanô II, người ta chứng kiến một số thay đổi trong lãnh vực phụng vụ. Thoạt tiên xem ra có vẻ mới, và khiến cho có người băn khoăn: phải chăng công đồng Vaticanô II đã thay đổi đức tin của Giáo hội? Thế nhưng nếu xét kỹ ra, thì nhiều sự thay đổi không hoàn toàn mới nhưng lấy lại truyền thống từ lâu đời của Giáo hội mà thôi. Tỉ như ngôn ngữ dùng trong phụng vụ: vào những thế kỷ đầu, phụng vụ được cử hành bằng tiếng địa phương, và thậm chí tại Rôma ngôn ngữ của phụng vụ là tiếng Hy-lạp, tức là tiếng giao thông thương mại thời đó, chứ không phải là tiếng La-tinh. Ta cũng có thể nói một cách tương tự như vậy về việc thay đổi tượng Chúa chịu nạn bằng tượng Chúa Phục sinh: đây không phải là sự canh tân, song là trở về nguồn.
Trả lời: Vâng, quả thật hộp sọ xuất hiện rất thường xuyên trong nghệ thuật Ki-tô Giáo và ngay cả ngày nay. Tôi có thể hiểu câu hỏi của bạn về thực hành này; bởi vì việc đặt hộp sọ ở khắp mọi nơi có vẻ như là một cái gì đó không lành mạnh – đặc biệt đối với những người đang sống trong một xã hội tiêu dùng và thế tục, nơi người ta thường lảng tránh suy nghĩ về những điều sâu sắc chẳng hạn như cái chết và những gì xảy ra sau đó. Một hộp sọ lành mạnh Khi nghệ thuật Ki-tô Giáo miêu tả những hộp sọ ở gần các vị thánh, nó tượng trưng cho sự khôn ngoan và thận trọng của các ngài. Hộp sọ là hình ảnh đại diện một cách sống động và hấp dẫn về cái chết của con người.
Giải đáp của Cha Edward McNamara, Dòng Đạo Binh Chúa Kitô (LC), giáo sư phụng vụ của Đại học Regina Apostolorum (Nữ Vương các Thánh Tông Đồ), Rôma. Hỏi: Thưa cha, liệu Thánh lễ cầu cho người khi còn sống là hiệu lực hơn (mạnh hơn) so với Thánh lễ cầu nguyện sau khi đã chết không? Thánh Anselmô (Anselm) và ĐGH Biển Đức XV đã nói Thánh lễ cầu cho khi còn sống là hiệu lực hơn. Xin cha bình luận việc này cho nhiểu người biết. - S. T., Chicago, Hoa Kỳ Đáp: Trong khi bạn đọc trên không cung cấp nguồn của các ý kiến này của thánh Anselmô (Anselm) và ĐGH Biển Đức XV, tôi vẫn cho đó là ý riêng của bạn ấy.Bằng cách nào chúng ta có thể nói rằng Thánh Lễ này là "mạnh hơn" (hiệu lực hơn) so với Thánh lễ kia?
Phụng vụ mừng lễ Các Thánh vào ngày đầu tháng 11, và ngày hôm sau, tưởng nhớ các người qua đời. Xét theo nguồn gốc lịch sử, lễ kính nào ra đời trước: việc kính nhớ các người qua đời có trước, hay lễ các thánh có trước? Linh mục Phan Tấn Thành trả lời. Để trả lời câu hỏi này, chúng ta phải phân biệt nhiều vấn đề. Việc kính nhớ các linh hồn qua đời là một chuyện, còn việc dành ra một ngày trong năm để tưởng nhớ tất cả các linh hồn là chuyện khác. Một cách tương tự như vậy, kính nhớ các thánh là một chuyện, còn dành ra một ngày để kính nhớ tất cả các thánh là một chuyện khác. Chúng ta sẽ cố gắng đi từng bước một: chúng ta hãy khởi hành với thực tại ngày nay, rồi chúng ta sẽ đi lùi ngược lại dòng lịch sử. Ngày nay lễ tưởng nhớ các người qua đời diễn ra vào ngày hôm sau lễ các thánh. Từ khi nào lịch phụng vụ ấn định việc cử hành hai ngày lễ đó?
Cùng với lời kinh cầu nguyện với Đức Mẹ đã được Đức Thánh Cha đọc trong video trong Thánh lễ do Đức Hồng y Giám quản Roma cử hành tại đền thánh Đức Mẹ Tình yêu Chúa ngày 11/03 vừa qua, Đức Thánh Cha đề nghị thêm một kinh nguyện để các tín hữu cầu nguyện vào cuối buổi đọc kinh Mân Côi, xin Đức Mẹ bảo vệ thế giới khỏi đại dịch. Hồng Thủy - Vatican
Đây là lời nguyện chính thức của Hội đồng Giám mục Việt Nam để cầu nguyện trong cơn dịch bệnh Covid-19. Lạy Thiên Chúa Ba Ngôi toàn năng chúng con đang họp nhau cầu nguyện, tha thiết nài xin cho cơn dịch bệnh mau chấm dứt. Lạy Chúa Cha giàu lòng thương xót xin nhìn đến nỗi thống khổ của đoàn con trên khắp thế giới, đặc biệt tại những nơi dịch bệnh đang hoành hành. Xin củng cố đức tin của chúng con, cho chúng con hoàn toàn tín thác vào tình yêu quan phòng của Cha. Lạy Chúa Giêsu là Đấng cứu độ duy nhất, là vị lương y đầy quyền năng và lòng thương xót, xin thương cho các bệnh nhân sớm được chữa lành, và an ủi các gia đình đang gặp khó khăn thử thách. Xin cho lời chúng con khiêm tốn cầu nguyện, được chạm tới trái tim nhân lành của Chúa, xin giảm bớt gánh nặng khổ đau, và cho chúng con cảm nhận được bàn tay Chúa đang ân cần nâng đỡ chúng con.
Bảo Trợ