Giáo Hoàng Trước Chủ Nghĩa Khủng Bố Hồi Giáo

21 Tháng Bảy 20169:06 SA(Xem: 766)

Giáo Hoàng trước chủ nghĩa khủng bố Hồi Giáo

GNsP – Đây là những phản ứng và lời nói của người tiền nhiệm Đức Giáo Hoàng (ĐGH) Phanxicô trước sự xuất hiện của chủ nghĩa thánh chiến man rợ trong mười lăm năm qua.

foto 11settembre-kAPH-U10801316442805dk-1024x576@LaStampa.it

Thế giới đã thay đổi kể từ sự kiện ngày 11 tháng 9 năm 2001, sau những cuộc tấn công tàn khốc vào Hoa Kỳ do Al Qaede, một tổ chức khủng bố do Osama Bin Laden đứng đầu chịu trách nhiệm. Chắc chắn không phải vì những cuộc tấn công khủng bố, tàn sát đẫm máu và những nạn nhân vô tội không hiện diện trước đó tại nhiều nơi trên trái đất này, nhưng bởi vì bốn cuộc tấn công tự sát được thực hiện bằng cách biến những chiếc máy bay chở khách thành những quả bom, đã tàn sát ba ngàn người –đã cho thấy bước ngoặc theo lẽ trái nhanh chóng của chủ nghĩa toàn thống Hồi Giáo, đánh vào đầu não của Phương Tây.

Dĩ nhiên, trong mười lăm năm qua, dường như người ta đã không phản ánh thực tế và mức độ nghiêm trọng của những nguyên nhân gây ra hiện tượng trên. Vẫn chưa có đến một lần tự xét nghiêm túc nào về những phương thức buôn bán vũ khí và ủng hộ tài chính khác nhau, cũng như hậu quả thảm khốc của một số chính sách mà phương Tây ủng hộ và trang bị vũ khí cho các nhóm nổi dậy có tổ chức để lật đổ chế độ này hay chế độ kia, rồi sau đó mới phát hiện ra họ không thể nào đối phó được những người mà họ đã tài trợ hay trang bị vũ khí. Đây là trường hợp của Al Qaeda, và cũng là trường hợp của ISIS, và của chủ nghĩa toàn thống Hồi Giáo được tài trợ bởi những nước mà Châu Âu và Mỹ tiếp tục xem là đối tác và đồng minh, với những chuyển biến nhanh chóng và rõ ràng về định nghĩa của dân chủ: giá trị của “xuất ngoại” là một cái cớ để tiến hành chiến tranh với những hậu quả nghiêm trọng (giống trường hợp của Iraq và Libya), nhưng đồng thời cũng là giá trị hơn cả “có thể đàm phán” với các nước được xem là “bạn hữu”.

Thú vị biết bao khi nhớ lại thời Thánh giáo hoàng Gioan Phaolô II – khi những năm cuối đời ngài là khoảng thời gian chuyển giao và sụp đổ của chủ nghĩa khủng bố toàn thống trên phạm vi toàn cầu – và người kế nhiệm ngài, ĐGH Benedict XVI, đã phản ứng trước một số vụ tấn công nghiêm trọng và kinh hoàng của những người theo đạo Hồi.

Về những hậu quả của những cuộc tấn công ngày 11 tháng 9, hôm đó là thứ tư, Đức Wojtyla đã tổ chức cuộc Tiếp kiến Chung tại Quảng trường thánh Phêrô. Ngài nói rằng, “Tôi không thể bắt đầu mà không thể hiện nỗi buồn đau sâu sắc trước những vụ tấn công khủng bố thấm đẫm máu vào người dân Mỹ ngày hôm qua, khiến hàng ngàn người chết và bị thương. Tôi xin bày tỏ sự chia buồn sâu sắc nhất đến Tổng thống Hoa Kỳ và toàn thể người dân Mỹ. Trước những sự kiện đau thương không nói lên lời như thế, ta không thể giúp nhưng có thể chia sẻ nỗi buồn. Tôi cùng với tất cả mọi người trong giây phút này hoàn toàn lên ánnhững hành động đáng phẫn nộ, tái xác nhận một cách mạnh mẽ rằng những hành vi bạo lực không bao giờ đưa đến những giải pháp thực sự cho các vấn đề của nhân loại”.

ĐGH Gioan Phaolô II tiếp tục nói, “Hôm qua là một ngày đen tối trong lịch sử nhân loại, một sự sỉ nhục đối với phẩm giá con người. Sau khi nghe được tin đó, tôi đã lo lắng theo dõi diễn biến của sự kiện, hết lòng cầu nguyện với Chúa Cha. Làm sao mà những hành động tàn ác man rợ như vậy có thể xảy ra? Tâm tính con người là một vực thẳm mà đôi khi hình thành lên những kiểu vô nhân đạo chưa từng thấy, một lúc nào đó có khả năng gây xáo trộn đời sống yên ấm bình thường của một quốc gia trong một khoảnh khắc”. ĐGH đã cầu nguyện cho các nạn nhân và thể hiện sự thân thương với người thân của họ, khẳng định rằng không nên nuôi dưỡng “lòng hận thù và bạo lực”. Ngài đã không hề đề cập đến nguồn gốc Hồi Giáo của những cuộc tấn công này.

Vài ngày sau, ĐGH Wojtyla đã đến Kazakhstan, một quốc gia có phần đông người dân theo đạo Hồi. Và vào ngày 23 tháng 9, khi Kinh Truyền Tin kết thúc Thánh lễ, ngài đã “lớn tiếng kêu gọi tất cả mọi người, tín hữu Công Giáo và những tín hữu thuộc các giáo phái khác, cùng nhau xây dựng một thế giới không có bạo lực, một thế giới yêu thương sự sống và một thế giới được xây dựng trên công lý và đoàn kết. Chúng ta không được cho phép những hành động gây chia rẽ sâu nặng hơn. Tôn giáo không bao giờ được dùng như một lý do để xung đột”. Ngài kêu gọi “cả tín hữu Công Giáo lẫn Hồi Giáo đều cùng nhau cầu nguyện với Thiên Chúa Toàn Năng, người đã tạo dựng lên tất cả chúng ta, vì vậy nền tảng hòa khí thiện hảo có thể ngự trị trên toàn thế giới. Người dân ở tất cả mọi nơi, được sự khôn ngoan của Thiên Chúa thúc đẩy, đang xây dựng một nền văn minh của tình thương, mà ở đó không có chỗ cho lòng thù hận, phân biệt đối xử và bạo lực”.

Khi giảng kinh tại thánh lễ được tổ chức tại quảng trường Thánh Phêrô ngày 1 tháng 1 năm 2002, nhân ngày Thế giới vì hòa bình, ĐGH Gioan Phaolô II tiếp tục chân thành kêu gọi “tất cả mọi người, các tín hữu và những người vô thần, bởi vì mối liên kết giữa ‘công lý và khoan dung’ luôn ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa con người với con người, giữa các nhóm xã hội và các quốc gia. Đây chính là điểm thu hút đầu tiên và là cốt lõi đối với những người tin theo Thiên Chúa, đặc biệt là ba tôn giáo của Abraham, Do Thái Giáo, Ki-tô Giáo và Hồi Giáo, tất cả đều được kêu gọi công bố chối bỏ bạo lực một cách kiên quyết và mạnh mẽ nhất. Không một ai, vì bất cứ lý do gì, có thể giết người nhân danh Thiên Chúa, đấng duy nhất và giàu tình thương. Thiên Chúa là Sự Sống và là nguồn mạch sự sống.Tin theo Ngài tức là phải làm chứng cho lòng thương xót và tha thứ, không được phép bôi nhọ danh thánh của Ngài”.

Vài ngày sau nữa, tại buổi tiếp kiến các phái đoàn ngoại giao tại Tòa Thánh, ĐGH Wojtyla đã nói rằng, “khi đối mặt với sự gây hấn và giết chóc dã man, người ta không chỉ đặt vấn đề về sự tự vệ chính đáng mà còn về những phương tiện tiêu diệt tận gốc chủ nghĩa khủng bố một cách hiệu quả nhất, cũng như tìm kiếm những yếu tố ẩn giấu đằng sau những hành vi đó, và những biện pháp cần thực hiện để tạo ra quá trình ‘chữa lành’, để vượt qua nỗi sợ hãi và tránh dùng sự dữ đáp trả sự dữ, bạo lực đáp trả bạo lực”.

Một lần nữa, vào ngày 24 tháng 1, tại Assisi, nơi ngài tổ chức một cuộc họp mới và đặc biệt giữa các tôn giáo để cầu cho hòa bình và phản đối bạo lực, ĐTC người Ba Lan đã nói, “Thực sự rất đúng đắn khi con người và cộng đồng các tôn giáo nên, một cách rõ ràng và triệt để, từ chối bạo lực, mọi loại bạo lực, hãy bắt đầu từ kiểu bạo lực được che đậy bằng vỏ bọc tôn giáo, thậm chí là dùng danh xưng thánh thiêng của Thiên Chúa để chống lại loài người. Hành vi phạm tội của con người cuối cùng cũng là chống lại Thiên Chúa. Không một mục tiêu tôn giáo nào có thể biện minh cho hành động dùng bạo lực chống lại loài người”.

Ngày 11 tháng 3 năm 2004 tại Madrid, một loạt vụ tấn công khủng bố vào các đoàn xe lửa khiến 191 người tử vong và hơn 2000 người bị thương. ĐGH Gioan Phaolô II, lúc đó bệnh tình đã ngày càng nặng hơn và là “tù nhân” của căn bệnh Parkinson, khi đọc Kinh Truyền Tin vào hôm chúa nhật ngày 14 tháng 3 đã nói, “Khi đối mặt với sự độc ác dã man đó, ta vẫn hoàn toàn bị sốc, và ta đã tự hỏi làm sao tâm hồn con người có thể đón nhận lỗi lầm tàn ác đó. Tôi nhắc lại tôi hoàn toàn lên án những hành vi vô nhân đạo như vậy.Tôi một lần nữa bày tỏ lòng cảm thương đến gia đình của các nạn nhân và tôi sẽ cùng cầu nguyện cho những người bị thương và thân nhân của họ”. Một lần nữa, ngài đã không đề cập đến nguồn gốc Hồi Giáo của những cuộc tấn công.

Sau khi ĐGH Wojtyla qua đời, người kế nhiệm ngài ĐGH Benedict XVI đã thể hiện mình trong những tháng đầu đảm nhiệm ngôi vị giáo hoàng khi đối mặt với sự bùng nổ của chủ nghĩa khủng bố tại Châu Âu. Ngày 7 tháng 7 năm 2005 tại London, một loạt vụ nổ do những kẻ đánh bom tự sát vào các tuyến giao thông công cộng của thủ đô nước Anh vào giờ cao điểm, khiến 56 người tử vong và khoảng 700 người bị thương. Ba ngày sau, khi đọc Kinh Truyền Tin, ĐGH nói, “Chúng ta đều cảm thấy nỗi buồn sâu sắc trước những cuộc tấn công khủng bố tàn bạo vào London. Chúng ta cầu cho những người đã tử vong, những người bị thương và thân nhân của họ. Nhưng chúng ta cũng cầu cho những kẻ tấn công: cầu cho Thiên Chúa có thể chạm tới trái tim của họ. Cầu cho những ai đang nuôi dưỡng lòng thù hận và cho những ai thực hiện hành vi khủng bố ghê sợ như vậy, tôi nói cho các bạn nghe: Thiên Chúa yêu thương sự sống mà Ngài đã tạo ra, chứ không phải là cái chết. Nhân danh Thiên Chúa, dừng lại đi!” ĐGH đã thay đổi, nhưng vẫn không một lời nhắc tới nguồn gốc Hồi Giáo của các cuộc tấn công.

Một năm sau đó, khi sự kiện này được nhắc lại, ĐTC Benedict XVI lần thứ hai quay trở lại Đức trong vai trò Đức Giáo Hoàng, đồng thời trở lại thăm quê hương Bavaria của ngài. Tại Regensburg, trường đại học nơi ngài đã từng theo học trước khi trở thành giáo hoàng – lúc đó gần năm mươi tuổi, là tổng giám mục giáo phận Monaco – đã mời ngài làm khách mời thuyết giảng. Một câu trích dẫn rất khó nghe từ Hoàng Đế Emmanuel Paleologos về Muhammad và bạo lực, bị đưa ra khỏi ngữ cảnh và chủ yếu bị các đài truyền hình thế giới Ả Rập xuyên tạc, đã khiêu khích những phản ứng, phản đối thái quá và cả nhiều sự việc khác. Người ta nhanh chóng quên đi rằng bài phát biểu trước hết và quan trọng nhất là phê phán Châu Âu: ĐGH Ratzinger nói, “Ở phương Tây, nhìn chung chỉ có lý do thực chứng và những dạng triết lý dựa trên đó là được chấp nhận rộng rãi. Nhưng các nền văn hóa tôn giáo xa xưa của thế giới xem việc loại trừ tính thần thánh ra khỏi cách giải thích các sự kiện là sự công kích niềm xác tín sâu xa nhất của họ.Những lý luận không đề cập đến tính chất thần thánh và loại tôn giáo ra khỏi nhóm tiểu văn hóa thì không thể bước vào đối thoại giữa các nền văn hóa”.

Ngày 25 tháng 9 năm 2006, chỉ vài ngày sau bài phát biểu quan trọng– tại Castel Gandolfo, ĐGH Benedict XVI đã đón tiếp các đại sứ đến từ các quốc gia phần đông là người theo Đạo Hồi và đại diện của nhiều cộng đồng người Hồi Giáo. Nhân dịp đó, ngài đã diễn giải lại bài phát biểu tại Regensburg. Ngài nhắc lại những khẳng định của Công Đồng Vatican II “dành cho Giáo Hội Công Giáo, đã tạo thành Đại Hiến Chương về đối thoại giữa Hồi Giáo và Ki-tô Giáo: ‘Giáo Hội cũng coi trọng những người Hồi Giáo thờ cùng một Chúa, người hằng sống, thương xót và toàn năng, đấng tác tạo trời đất, đã mặc khải cho con người. Những điều này nhằm vươn tới những thông điệp bí ẩn của Thiên Chúa, như Abraham đã tự nộp mình, cách mà như người theo đạo Hồi dễ dàng liên tưởng đến bản thân họ”.

ĐGH Benedict XVI đã nhắc lại rằng “cuộc đối thoại liên tôn và liên văn hóa giữa người Công Giáo và người Hồi Giáo không thể bị biến thành một quyết định chớp nhoáng. Thực ra đây là một nhu cầu bức bách mà trên phạm vi rộng lớn, tương lai của chúng ta phụ thuộc vào đó. Trong một thế giới chi phối bởi thuyết tương đối, và quá thường xuyên loại bỏ tính siêu việt của lý trí thì chúng ta đang rất cần đến sự đối thoại chân thành giữa các tôn giáo và các nền văn hóa”.

ĐGH Ratzinger kết luận rằng, “Các bạn thân mến, tôi hoàn toàn tin tưởng rằng, đối với tình hình thế giới ngày hôm nay, bắt buộc các Ki-tô hữu và người Hồi Giáo cùng đương đầu với nhiều thách thức để thể hiện chính họ trước nhân loại, đặc biệt là liên quan đến vấn đề tự vệ và nâng cao phẩm giá con người, từ đó tạo ra quyền lợi cho chính họ”.

Minh Trâm (theo vaticaninsider)
Theo http://www.tinmungchonguoingheo.com/blog/2016/07/22/giao-hoang-truoc-chu-nghia-khung-bo-hoi-giao/

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Phong trào mệnh danh là “Sứ điệp từ trời” đã xuất hiện từ tháng 11 năm 2010 tại Châu Âu, và cho đến nay đã được quảng bá hầu như rộng khắp trên toàn thế giới. Chắc hẳn nhiều người trong chúng ta đã nghe nói hoặc đã từng đọc qua các “Sứ điệp từ trời”. Điều đó ít nhất cũng cho thấy tầm ảnh hưởng và tính chất thu hút của phong trào mới này./20 Tháng Năm 2015(Xem: 1618) Lm Giuse Lâm Văn Sỹ OP./
RVA (11.1.2021) – Đức Thánh Cha Phanxicô đã ban hành Tự sắc “Spiritus Domini”, Thần Trí của Chúa, thay đổi khoản Giáo luật, số 230 triệt 1 để cho phụ nữ được lãnh nhận thừa tác vụ đọc sách và giúp lễ. Thánh lễ tại nhà nguyện thánh Marta | Ảnh: Vatican News Khoản này cho đến nay qui định rằng: “Các giáo dân thuộc nam giới có đủ tuổi và điều kiện do nghị định của Hội đồng Giám mục ấn định, có thể lãnh tác vụ đọc sách hoặc giúp lễ, qua một nghi lễ phụng vụ đã qui định. Tuy nhiên, việc trao tác vụ này không cho họ quyền được Giáo Hội trợ cấp hoặc trả lương”. Nay, trong tự sắc “Thần Trí của Chúa”, Đức Thánh Cha thay đổi khoản 230 triệt 1 như sau:
1. Ghi nhận lịch sử - Phụng Vụ Lễ trọng kính Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa, được cử hành vào ngày 01 tháng 01, trùng với ngày bát nhật Giáng Sinh, nhớ đến việc cắt bì và đặt tên cho Chúa Giêsu, khởi đầu năm mới, và cũng là ngày cầu cho hòa bình thế giới. Trước khi canh tân Phụng Vụ, lễ trọng này được phổ biến trên khắp thế giới và được Đức Giáo Hoàng Piô XI xác định vào ngày 11.10.1931, nhân dịp kỷ niệm 1500 năm Công đồng Êphêsô. Trong niên lịch mới, lễ này gợi lại ngày thứ tám sau Giáng Sinh. Đức Giáo Hoàng Phaolô VI viết: “Ngày lễ trọng ấy nay được đặt vào mồng một tháng giêng theo như tập tục xa xưa của Phụng Vụ Rôma. Lễ này được dành riêng ca tụng việc Đức Maria góp phần vào mầu nhiệm cứu độ và tán dương tước vị cao quí đặc biệt do phần đóng góp ấy đem lại cho Người Mẹ rất thánh, Đấng có công giúp chúng ta đón tiếp Tác Giả của sự sống” (Marialis Cultus 5).
Mỗi năm Giáng Sinh về, hình ảnh Ông Già Noel xuất hiện khắp mọi nơi. Ông Già Noel thân thương gần gũi vui vẻ trao quà cho trẻ em. Ông Già Noel thăm viếng và chia sẻ cho những người kém may mắn. Ông Già Noel làm MC trong các chương trình ca nhạc mừng Giáng Sinh… /22 Tháng Mười Hai 2014 (Xem: 2075)/
Bộ Phụng Tự và Kỷ Luật Bí Tích đã ra một Thông Tư vào hôm thứ Bảy 19 tháng 12, khuyến khích các giáo xứ Công Giáo trên khắp thế giới cử hành Chúa Nhật Lời Chúa với sức sống mới. Thông Tư đã gợi ý những cách thức mà người Công Giáo nên chuẩn bị cho ngày dành cho Kinh Thánh. Đức Thánh Cha Phanxicô đã thiết lập Chúa Nhật Lời Chúa qua tông thư “Aperuit illis” (Người mở trí cho các ông) vào ngày 30 tháng 9 năm 2019, nhân kỷ niệm 1,600 năm ngày mất của Thánh Giêrônimô. Chúa Nhật Lời Chúa diễn ra vào Chúa Nhật thứ ba Mùa Quanh Năm, tức là sẽ rơi vào ngày 24 tháng Giêng năm 2021.
Lễ Giáng Sinh ngày nay có thể nói chính xác là ngày lễ nghỉ của toàn thể nhân loại. Đây là mùa của đèn nến và kim tuyến, thánh ca và ca đoàn, hương vị của cây thông và hạt dẻ nướng. Giáng Sinh đến với chúng ta với những bữa ăn ngon, những tiếng cười vui vẻ, và những nụ hôn dưới cây tầm gửi./post20 Tháng Mười Hai 2015(Xem: 1063) Trầm Thiên Thu/
Cách đây không lâu, tôi nhận được điện thơ của một ca trưởng cho biết giáo xứ của anh có Ban thánh nhạc để tuyển chọn các bài hát cho phụng vụ, nhất là cho thánh lễ các ngày Chúa nhật và lễ trọng. Theo tôi, đây là sáng kiến hay vì quyết định những bài hát dùng trong phụng vụ nên có sự đóng góp ý kiến của nhiều người, không nên tùy thuộc vào quyết định cá nhân của một ca trưởng. Vì như chúng ta đều biết, mục đích của thánh nhạc là 'Tôn vinh Thiên Chúa và thánh hóa tín hữu' nên việc lựa chọn bài hát cho phụng vụ, nhất là cho thánh lễ, có một tầm mức quan trọng trong việc thực hiện mục đích của thánh nhạc.
WGPQN (11.12.2020) – Có sự lo sợ và run rẩy khi ta mạo hiểm thêm lời của mình vào vô số những bản văn nói về Đức Maria. Vì thế, đây không phải là những tìm kiếm về thân thế của người phụ nữ ngoại thường này, mà đơn thuần chỉ để ta được dẫn dắt bởi những bản văn nói về Mẹ. Suốt bài viết, chúng ta khám phá nhiều khuôn mặt của Đức Maria mà không tìm cách làm chúng ăn khớp với nhau. Ta cứ để cho mỗi người tìm thấy sự hài hòa của riêng mình. Một sự hiện diện ngấm ngầm Chúng ta hãy lướt nhanh qua những đề cập cổ xưa nhất về Mẹ của Đức Giêsu. Thật vậy Thánh Phaolô, chỉ nói ít oi bằng câu “người sinh bởi một người nữ” (Gl 4, 4) mà từ nay đưa Con Thiên Chúa đi vào trong nhân loại. Chúng ta cũng đi nhanh về Đức Maria của Tin Mừng Marcô. Trong Tin Mừng thinh lặng về thời thơ ấu của Đức Giêsu này, Mẹ của Ngài hoàn toàn ở về phía nhân loại.
Gọi Giáo hội như là gia đình của Chúa thì đó là chuyện nghe quen tai; gọi giáo xứ như là gia đình của Chúa thì có vẻ ít nghe hơn nhưng cũng có lý. Còn gọi Giáo xứ là gia đình của Chúa… thì có vẻ “khẳng quyết hơn”, nhưng vẫn có lý và rất có tình. Vì “giáo xứ chủ yếu không phải là một cơ cấu, một địa giới hay một toà nhà, nhưng đúng hơn đó là “gia đình của Chúa...”[1], bài viết Giáo xứ là gia đình của Chúa… muốn được trình bày ít nhiều về mối tương quan giữa giáo dân và giáo sĩ, với một số hướng dẫn của Giáo hội, trong khung cảnh của một xứ đạo thấm đượm sự sống nhiệm mầu của Thiên Chúa Ba Ngôi. Một vài ý tưởng dẫn vào… Các tín hữu chuyên cần nghe các tông đồ giảng dạy, luôn luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ bẻ bánh, và cầu nguyện không ngừng.[2]
Thuật ngữ communio sanctorum đã được đưa vào “Tín biểu các thánh tông đồ”, và dịch sang tiếng Việt là “các thánh thông công”. Trong việc giải thích tín điều này, các tác giả cổ điển nói sự thông hiệp giữa ba “tình trạng của Giáo hội” (tres status Ecclesiae): Giáo hội chiến đấu, Giáo hội đau khổ, Giáo hội khải hoàn. Công đồng Vaticanô II (LG 48) đã đổi danh xưng thành “Giáo hội lữ hành – thanh luyện – hiển vinh”. Đây không phải là ba Giáo hội nhưng là ba chặng của một Giáo hội duy nhất, với Chúa Kitô là nguyên thủ. Cả ba đều chung một niềm mong đợi, đó là sự quang lâm của Chúa Kitô. Sách Giáo lý Hội thánh Công giáo (số 954) viết như sau (trích lại LG 49):
Bảo Trợ