Tu Trì: Ơn Gọi Huyền Nhiệm

10 Tháng Năm 201612:29 SA(Xem: 1380)

Tu trì: Ơn gọi huyền nhiệm


Trong quan điểm cổ truyền của văn hóa Việt Nam, đi tu có nghĩa là từ bỏ trần thế và nhân duyên trần thế.
nutu tuyen khan

Rộng hơn là quan điểm về tu của khu vực Á Đông, tùy từng nền văn hóa của mỗi nước, quan niệm về tu có những đặc trưng riêng. Tuy nhiên, các nước khu vực Á Đông trong quan niệm tu lại chung một sự ảnh hưởng không nhỏ của Phật giáo. Đối với Giáo hội Công giáo lại có những nét khác biệt, thay vì bỏ đời, lánh đời, trốn tránh đời, người tu sĩ Công giáo lại chủ trương vào đời, hay hơn nữa là yêu đời, yêu đời trong đời sống độc thân với Tình Yêu của Thiên Chúa. Ơn gọi tu trì, thực sự là một huyền nhiệm đối với con người.

Thế kỷ XXI, thế kỷ của toàn cầu hóa, thế kỷ của trí tuệ và sự phát triển siêu việt trong lĩnh vực khoa học công nghệ, đã nâng cao mạnh mẽ đời sống của con người. Nó đáp ứng hầu hết nhu cầu căn bản về đời sống vật chất của con người. Từ những thành quả mà thời đại mang tới, con người đã chầm chậm tạo ra những trào lưu hưởng thụ vô bờ, có khi quên đi những giá trị căn bản nền móng cho một xã hội văn minh. Nhiều bạn trẻ lao mình vào những cuộc chơi trác táng với lý lẽ con người chỉ sống một lần, cứ thả ga hưởng thụ để rồi khi chết đi không phải hối tiếc. Với lối suy nghĩ đó, đối với họ, đi tu là cả một điều khủng khiếp, thậm chí đó là một “từ mới” đối với một số người. Tại sao phải từ bỏ một cuộc sống tự do phóng khoáng, những quan hệ xã hội tuyệt vời để sống một môi trường gò bó, giờ giấc nghiêm ngặt với những câu kinh lặp đi lặp lại chán ngắt? Tại sao ở ngoài đời lập gia đình, anh chị cũng có thể cống hiến và phục vụ xã hội, có khi mạnh mẽ và thiết thực hơn mà anh chị lại đi tu, sống cô quạnh độc thân, trong tu viện tĩnh lặng đến đáng sợ như vậy để làm gì ? …

Có hàng ngàn câu hỏi tại sao, tại sao, để chất vấn một tu sĩ nhằm cố gắng giải thích bằng được, theo lý lẽ lập luận của con người. Nhưng không, đáp lại những câu hỏi oái ăm, những triết lý con người, người tu sĩ giải đáp bằng hai chữ Tình Yêu. Đơn giản đến thế sao ?

Nhà thơ Nguyễn Phước Tiến trong bài thơ Tình Yêu đã lặp đi lặp lại hai câu thơ để xuyên suốt bài thơ ba khổ của mình:

“Tình yêu là gì hở nhỏ?
Anh không định nghĩa được đâu”

Tình yêu khác giới là một đề tài muôn thủa, mà con người đã chi dùng không biết bao nhiêu giấy mực để viết về nó. Trong thơ văn, tình yêu được bay bổng và lý tưởng hóa như những câu chuyện cổ tích đẹp tuyệt vời khiến người ta phải trầm trồ thán phục. Trong phim ảnh, tình yêu đó lại càng được thăng hoa bởi nó được cảm nhận bằng cả tâm hồn. Trong nghệ thuật, tình yêu giữa con người với con người đã được xây dựng đa dạng, phong phú và đầy đủ cung bậc cảm xúc. Trong cuộc sống, tình yêu con người với con người có lẽ cho ta nhìn đa chiều và gần nó hơn. Một mối tình có thể xuất hiện một loạt cảm xúc tích cực cũng như tiêu cực: chán, ghét, yêu, thích, tức giận, hung phấn,… trong suốt quãng thời gian hữu hạn mà cuộc tình đó tồn tại. Hai người yêu nhau, nói chuyện với nhau mỗi ngày, có khi là mỗi giờ, nhìn nhau mỗi ngày, bên nhau mỗi ngày, bằng cách này hay cách khác. Họ có thể trao cho nhau hơi ấm vật lý trực tiếp và những lời nói hành động để động viên nhau, cùng nắm tay nhau để vượt qua những khó khăn trong đời sống hôn nhân. Vậy mà, có đôi khi hay có thể là nhiều khi, hai người, hai vợ chồng vẫn mâu thuẫn và tranh cãi, gây lộn với nhau. Ơn gọi tu trì xuất phát từ tiếng gọi của Thiên Chúa, một âm thanh vô hình mà không một nhà khoa học vĩ đại nào có thể đo được tần số. Tiếng gọi vô hình đó đã là động lực cho hàng triệu người dấn thân dâng mình cho Chúa bằng nhiều phương cách khác nhau. Hai người bằng xương bằng thịt yêu nhau, có khi những chênh lệch về nhiều mặt đôi khi còn là điều lạ và bí ẩn cho nhiều người. Thì ở đây, ơn gọi tu trì là mối liên kết mật thiết giữa một con người bằng xương, bằng thịt, bằng sự lưu thông máu trong cơ thể để sống, với một Thiên Chúa toàn năng, Đấng Vô Hình và Hiện Hữu mọi nơi. Tự bản chất Thiên Chúa vô hình đã là một mầu nhiệm cao siêu, một bí ẩn không có lời giải thích rõ ràng, thì tình yêu giữa một con người và Đấng Vô Hình đó lại trở nên điên dại và ảo tưởng trong suy nghĩ của nhiều người. Càng cố gắng giải thích thì các rối và đi vào ngõ cụt của những câu hỏi tại sao.

Ngược dòng lịch sử về những năm cuối của thể kỷ XII – đầu thế kỷ XIII, ở nước Ý, cậu thanh niên Phanxico từ con của một quý tộc giàu có nhất nhì thành Assisi đã bác bỏ quyền làm cha của chính cha mình và chúc thư thừa kế gia sản kếch xù để ra đi lên đường theo tiếng gọi của Thiên Chúa phục vụ người nghèo. Sự ngăn cản kịch liệt của người cha cũng không đủ để xoay dời khao khát dấn thân của Thánh Nhân.

Ngày nay, hàng triệu nữ tu xinh đẹp, trong sáng, trình độ cao,… đã hằng ngày, hằng giờ yêu mến và gọi Chúa Giê-su là phu quân, là người bạn đời trong suốt cuộc đời của mình. Qua hơn hai ngàn năm, vô vàn trang sách đã ghi lại sự phản đối của gia đình và xã hội đối với chọn lựa dâng hiến cuộc đời cho Thiên Chúa của biết bao tu sĩ. Đây chắc chắn là chủ đề lớn và cũng là mê cung lớn cho khoa học vô thần, càng gỡ càng rối, càng đi càng lạc lối và kết luận chỉ là một dấu hỏi to đùng trong tâm trí khi nghĩ tới đời sống và ơn gọi tu trì.

Trong sứ điệp nhân ngày thế giới cầu cho ơn thiên triệu lần thứ 46, Đức Thánh Cha Benedicto XVI viết: “Đời sống thánh hiến là một ân huệ đặc biệt của Thiên Chúa nằm trong kế hoạch tình yêu và cứu độ bao la của Thiên Chúa đối với mỗi người và toàn thể nhân loại.” Với con mắt và suy nghĩ duy lý biện chứng thì tuyệt nhiên không thể nhận ra và hiểu được “ân huệ đặc biệt” đó, nhưng qua con mắt đức tin và các biến cố của cuộc đời mà Thiên Chúa ấn định. Tự bản thân cá nhân được chọn lựa đáp lại tiếng gọi vô hình đó và dấn thân vào ơn gọi tu trì, dâng mình cho Thiên Chúa. Có lẽ bằng ngôn từ có hạn, suy tư nông cạn của mình, thì tôi không đủ kiến thức và lập luận để đi sâu hơn nữa vào ơn gọi tu trì, tiếng gọi thiêng liêng và vĩ đại, một huyền nhiệm sâu xa khó hiểu nhưng hiện hữu sừng sững giữa xã hội bằng đời sống thánh hiến của biết bao cuộc đời, biết bao trái tim đang thao thức, bền bỉ, chung nhịp đập với Đức Ki-tô là người bạn đời tuyệt vời của các tu sĩ.

Tin chắc rằng, Thiên Chúa là Vua Tình Yêu luôn có cách để “tỏ tình” với những người trẻ đang quan tâm đến Ngài qua việc cầu nguyện, hy sinh, siêng năng kinh nguyện sớm hôm và các sinh hoạt giáo xứ cũng như cố gắng mài giũa nhân cách của mình trong mọi môi trường sống. Để rồi từ đó, Ngài quyến rũ triệu hồi họ trở thành bạn, thành môn đệ kiên trung, bước đi vững vàng trong ơn gọi huyền nhiệm, ơn gọi tu trì.

G.B Tin Nguyen – Đệ tử SVD.
Theo Conggiaoinfo

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Xin gửi bài này đặc biệt đến các Bà Mẹ trong Hội các Bà Mẹ Công Giáo mà Thánh Nữ Monica là Thánh Bổn Mạng, nhất là các Bà Mẹ đang đau khổ trong nước mắt để cầu nguyện cho chồng và cho con.../25 Tháng Tám 2012(Xem: 8569) Lm. Anphong Trần Đức Phương - Tinmungnet /
Phan Tấn Thành Dẫn nhập Trong các tín biểu, lời tuyên xưng về Giáo hội (Ecclesia) thường được kèm theo vài tính từ, với con số thay đổi. Tín biểu Epistula Apostolorum (khoảng năm 170) chỉ gồm năm mệnh đề, và mệnh đề thứ bốn là: “et in sanctam Ecclesiam” (Denz-Sch 1). “Thánh thiện” là đặc điểm cổ nhất, nói lên sự thuộc về Thiên Chúa. Trong “Tín biểu các thánh tông đồ”, ngoài “sancta” khi thêm “catholica” (sanctam Ecclesiam catholicam); bên Đông phương, tín biểu của Cyrillô Giêrusalem (khoảng năm 348) viết «una santa Chiesa catholica» (Denz-Sch 41) và của Epiphaniô năm 374 “una sola sancta Ecclesia catholica et apostolica” (Denz-Sch 42), đưa đến công thức của công đồng Constantinopolis năm 381 « unam sanctam catholicam et apostolicam Ecclesiam». Trong lịch sử thần học, đã có những quan niệm khác nhau về bản chất của bốn đặc tính này cũng như công dụng của chúng.
Nhiều sách về Đức Mẹ đã được các học giả Tin lành viết, nhiều cuốn cổ vũ người Tin lành nhìn sát hơn vào Đức Mẹ. Nhiều câu chuyện về các Phật tử và những người ngoài Công giáo đã đến viếng Đền Đức Mẹ Lộ Đức. Mặt khác, các tín đồ Hồi giáo cũng rất tôn trọng Đức Mẹ. Thật vậy, Đức Mẹ được nói đến nhiều lần trong kinh Koran, sách thánh của Hồi giáo, nhiều hơn cả trong Kinh thánh!/17 Tháng Bảy 2014 (Xem: 4787) /
NHỮNG SAI PHẠM CỦA SỨ ĐIỆP TỪ TRỜI 5. Các vấn đề liên hệ đến Hội Thánh. ▶5.1. Chối bỏ Huấn quyền của Hội Thánh. *SỨ ĐIỆP 06-04-2011. "...không một ai trong các con xứng đáng để phán xét hoặc tra xét về người khác. Không ai có quyền hạn hoặc hiểu biết thiêng liêng để đưa ra bất cứ sự đánh giá nào về đạo đức nơi người khác" NHẬN ĐỊNH. Nói như thế bà Maria Divine Mercy rõ ràng đã phủ nhận Huấn quyền của Hội Thánh. ▶5.2. Phủ nhận vai trò của Chúa Thánh Thần trong Hội Thánh. *SỨ ĐIỆP 12-04-2012. "Cơ mật viện Hồng Y bầu Giáo hoàng mới là những người theo bè Tam điểm, là tổ chức độc ác của Satan." NHẬN ĐỊNH. Rõ ràng bà Maria Divine Mercy không tin rằng Thánh Thần của Đức Kitô vẫn đang hiện diện và hoạt động trong Hội Thánh, không ngừng hướng dẫn Hội Thánh đạt đến chân lý toàn vẹn của Đức Kitô.
Nguồn gốc của mọi thiên chức linh mục Chủ đề linh mục là đề tài rất được quan tâm và mang tính thời sự trong thế kỷ qua. Công Đồng Vaticanô II đã dành trọn một tài liệu cho chủ đề này với sắc lệnh Presbyterorum Ordinis; năm 1992, thánh Gioan Phaolô II đã gửi tới toàn thể Hội Thánh tông huấn hậu thượng hội đồng Pastores Dabo Vobis, về việc huấn luyện các linh mục trong bối cảnh hiện nay; tiếp đến, khi công bố năm thánh linh mục 2009-2010, Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI đã phác thảo cách vắn gọn nhưng rất sâu sắc dung mạo linh mục dưới ánh sáng cuộc đời của Cha Sở xứ Ars. Cùng với đó là vô số những suy tư của nhiều tác giả trên thế giới được thực hiện và nhiều cuốn sách viết về chân dung và sứ vụ của linh mục qua dòng thời gian, trong đó rất nhiều tác phẩm có giá trị.
Trải qua lịch sử, Chúa nhật sau lễ Phục sinh đã được gọi bằng nhiều danh xưng khác nhau: Chúa nhật tám ngày sau lễ Phục sinh, Chúa nhật “Áo trắng” (in Albis), bởi vì các tân tòng cởi chiếc áo trắng mà họ đã lãnh nhận khi lãnh các bí tích khai tâm vào đêm Vọng Phục sinh, đánh dấu việc kết thúc giai đoạn huấn giáo khai tâm. Tại vài Giáo hội bên Ấn độ (tục truyền do thánh Tôma tông đồ thành lập), Chúa nhật sau lễ Phục sinh được gọi là chúa nhật thánh Tôma, bởi vì bài Phúc âm thuật lại cuộc gặp gỡ của Người với Chúa Kitô. Gần đây, Đức Gioan Phaolô II muốn thêm một danh xưng nữa, đó là “Chúa nhật kính Lòng Chúa Thương Xót”. Trong Năm Thánh 2000, Đức Gioan Phaolô II đã ấn định rằng trong toàn thể Hội thánh, Chúa nhật sau lễ Phục sinh, ngoài danh hiệu Chúa Nhật Áo trắng, sẽ còn được đặt tên là Chúa nhật kính Lòng Chúa Thương Xót.
Hôm thứ Sáu 12 tháng Hai, 2021, Mùng Một Tết Tân Sửu, Phòng Báo Chí Tòa Thánh đã công bố Sứ điệp Mùa Chay Thánh 2021 của Đức Thánh Cha Phanxicô. Nguyên bản tiếng Ý và các ngôn ngữ khác có thể xem tại đây. Dưới đây là bản dịch toàn văn sang Việt Ngữ. Sứ điệp Mùa Chay 2021 của Đức Thánh Cha Phanxicô “Nào chúng ta lên Giêrusalem” (Mt 20:18) Mùa Chay: Thời gian canh tân Niềm tin, Hy vọng và Tình yêu Anh chị em thân mến, Chúa Giêsu đã mặc khải cho các môn đệ ý nghĩa sâu sắc nhất trong sứ vụ của Người khi loan báo cho họ cuộc khổ nạn, cái chết và sự phục sinh của Người để hoàn thành Thánh ý Chúa Cha. Sau đó, Ngài mời gọi họ chia sẻ sứ mạng này để cứu độ thế giới.
WHĐ (15.2.2021) – Nhân kỷ niệm 60 năm thành lập hàng Giáo phẩm Việt Nam (1961 – 2021), chúng tôi xin được đăng bản dịch chính thức của Hội đồng Giám mục Việt Nam về Tông thư thành lập hàng Giáo phẩm Việt Nam – “Jam In Pontificatus” của Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII gửi hàng Giáo phẩm Việt Nam ngày 14.1.1961. * * *
Thứ Tư Lễ Tro năm nay sẽ rơi vào ngày 17 tháng Hai. Hôm thứ Ba, Vatican đã đưa ra hướng dẫn về cách các linh mục có thể xức tro vào Thứ Tư Lễ Tro trong bối cảnh đại dịch coronavirus. Bộ Phụng Tự và Kỷ Luật Bí Tích đã công bố một chỉ dẫn vào ngày 12 tháng Giêng, hướng dẫn các linh mục đọc công thức xức tro một lần cho tất cả mọi người có mặt, thay vì cho từng người. Nguyên bản tiếng Anh có thể xem tại đây. Dưới đây là bản dịch toàn văn sang Việt Ngữ. Bộ Phụng Tự và Kỷ Luật Bí Tích Công văn số 17/21 Chỉ dẫn cho ngày Thứ Tư Lễ Tro Việc xức tro trong thời gian xảy ra đại dịch Vị Linh mục đọc lời nguyện làm phép tro. Ngài rảy nước thánh lên tro, không nói gì cả. Sau đó, ngài nói với tất cả những người hiện diện chỉ một lần duy nhất công thức như được ghi trong Sách Lễ Rôma, áp dụng công thức ấy cho tất cả mọi người nói chung:
Ngày 1 tháng 10 năm 2010, Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hòa bình đã ra thông báo về án phong chân phước cho ĐHY Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận. Thông báo viết: “Ngày 22 tháng 10 tới, tức 3 năm sau khi loan báo việc mở Án phong chân phước, sẽ có phiên họp trọng thể mở cuộc điều tra ở cấp giáo phận về đời sống, các nhân đức và đời sống thánh thiện của Đấng Đáng Kính, ĐHY Việt Nam Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, người đã là Phó Chủ Tịch Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hòa bình từ năm 1994 và là Chủ tịch Ủy Ban này từ ngày 24 tháng 6 năm 1998 đến ngày 16 tháng 9 năm 2002”. Theo thông báo của Tòa Tổng Giám mục Tổng Giáo phận Tp. Hồ Chí Minh về việc điều tra án phong chân phước và phong thánh cho Đức Cố Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, do Đức Hồng Y GB Phạm Minh Mẫn ký ngày 1 tháng 1 năm 2012, chúng ta cùng tìm hiểu đôi nét về cuộc đời của Đấng Đáng Kính, Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận.
Bảo Trợ