Thánh Phêrô NGUYỄN KHẮC TỰ, Thày giảng (1808-1840)

15 Tháng Mười Một 201510:09 SA(Xem: 2792)
Thánh Phêrô NGUYỄN KHẮC TỰ, Thày giảng (1808-1840)

Ngày 10 tháng 07

  PheroTu.jpg

Chiếc khăn tình nghĩa

 

Cuộc tử đạo của thánh Phêrô Tự là một biểu hiện sâu xa mối tình thày trò, mối tình cha con tinh thầntrong giáo hội. Ngày 31.07.1838, sau khi quân lính bắt được linh mục thừa sai Borie Cao, các tín hữu sợ liên lụy nên làm ngơ như không quen  biết. Nhưng thày giảng Tự lẽo đẽo theo đám lính, vừa khóc lóc vừa xin đi theo gót thày mình. Quân lính thấy thế sinh nghi, bắt thày đưa đến trước mặt vị thừa sai. Cha Cao vì không muốn thày bị liên lụy, liền giả bộ không hề biết “người thanh niên” này là ai, sau tình nguyện bỏ tiền ra để chuộc tự do cho anh ta.

 

Nhưng thày Tự đã quyết tâm thực hiện ý định của mình khi làm điều đó. Thấy tuyên bố thẳng, mình là đệ tử của người bị bắt, và năn nỉ với ngài: “Xin cha cho con theo cha đến cùng”. Trước thái độ chí tình, vị linh mục xúc động, xé chiếc khăn quàng  làm hai, trao một phần cho người môn sinh, cũng là cộng tác viên đắc lực nhiều năm qua và nói: “Cầm lấy, hãy cầm lấy nó làm bằng chứng cho lời thày đã hứa”. Và thày Tự đã giữ miếng vải đó suốt hai năm trời cho đến ngày tử đạo, trong đó gần bốn tháng cùng giam với người cha linh hồn. Thày đã ghi lại cuộc tử đạo anh hùng của người cha yêu quý, để cùng với ngài theo chân Đức Kitô, vị Tôn sư duy nhất đến đỉnh đồi can -vê của mình.

 

Xin theo cha đến cùng

 

Phêrô Nguyễn Khắc Tự  sinh năm 1808 tại Ninh Bình thời vua Gia Long. Từ nhỏ cậu Tự  đã được vào nhà Đức Chúa Trời, rồi trở thành thày giảng theo giúp cha già Quế. Khi cha già qua đời, thày được cử đến giúp linh mục  Dumoulin Borie Cao. Trong bốn năm giúp cha Cao, thày tỏ ra rất nhiệt tình, hiền từ  và tận tuỵ. Bốn năm cùng làm việc tuy chẳng lâu, nhưng đã phát sinh  một mối tình thân thiết đặc biệt giữa hai người. Chính sự gắn bó đó đã đưa thày Tự vào vòng lao lý khi muốn theo vị linh mục đến cùng.

 

Sau khi áp giải cha Cao và thày Tự từ bố chính về Đồng Hới, quan cho nhốt hai người riêng. Nhưng nhiều lần cả hai cùng với linh mục Khoa, Điểm và ông năm Quỳnh  bị đưa ra tra khảo chung. Lần đầu tiên thày bị đánh 20 roi vì tội không chịu quá khoá. Hôm sau quan cho điệu riêng thày ra tra khảo: “Ngươi gặp đạo trưởng đã lâu chưa?”. Thày đáp: “Được bốn năm”. Quan hỏi tiếp: “Vậy ngươi gặp đạo trưởng ở đâu?”. Để tránh liên lụy đếm mọi người thày Tự nói: “Tôi gặp ông ấy ở trên thuyền, và rồi chúng tôi ở chung với nhau”. Quan tức giận quát lớn: “Nói dối, tên này dám khai man. Lính đâu cho nó 30 roi”. Thày Tự đã nhẫn nhục chịu đòn, không hề kêu ca một lời.

 

Những cuộc tra khảo, đòn vọt và ép buộc quá khóa như thế cứ tái diễn nhiều lần trong bốn tháng. Một hôm để ép buộc cha Cao  khai những nhà đã cho trú ẩn, quan lôi thày ra đánh trước mặt ngài, cũng may là người linh mục cũng nhanh trí khai tên những người đã chết, để thày bớt bị đòn vọt. Thày Tự luôn kiên vững với niềm tin. Thày vẫn khuyên nhủ các tín hữu đến thăm hãy chấp nhận thánh ý Chúa, trung thành vì đạo và cầu nguyện cho nhau đủ sức chịu đựng đến cùng. Khi có thể thày tận dụng hoàn cảnh để dạy giáo lý và cắt nghĩa  về đạo cho những bạn tù và những lính canh ngoại giáo. Thêm vào đó, thày siêng năng cầu nguyện, xin Chúa cho mình can đảm hy sinh vì Chúa. Hai lần cha Ngôn đã khéo léo cải trang  vào ngục thăm viếng và cho thày rước lễ.

 

Ngày 24.11.1838, thừa sai Dumoulin Cao (bấy giờ đã nhận được sắc phong giáo mục) cùng hai cha Điểm và Khoa  bị điệu đem ra xử tử. Cũng trong bản án đó, thày Tự và một tù nhân  khác, ông năm Quỳnh được vua Minh Mạng phê như sau: “Tuy không phải là đạo trưởng, nhưng hai kẻ này là mù quáng cố chấp không kém, nên cũng thuộc vào số những kẻ đáng cho trẫm ghét bỏ. Do đó cả hai đều kết án xử giảo (xiết cổ cho chết), nhưng chưa xử ngay”.

 

Theo thừa sai Miche Mịch, nhà vua trì hoãn việc xử vì muốn chờ ông Quỳnh, một người có uy tín lớn, nản lòng bỏ đạo. Ba bốn bận các quan gởi sớ vào xin thi hành bản án, nhưng vua Minh mạng viết thư yêu cầu  nhẫn nại chờ đợi.

 

Lãnh phúc trên mảnh đất thấm máu người cha

 

Thấm thoát gần hai năm trôi qua, thày Tự và ông năm Quỳnh  vẫn vững vàng giữ trọn niềm tin của mình. Nhiều lần được đưa ra trước công đường và bị tra tấn, cà hai người đều không thay đổi lập trường. Cuối cùng vào tháng 07.1840, nhà vua cho lệnh thi hành bản án. Khoảng 100 binh lính áp giải chứng nhân Chúa Kitô ra pháp trường Đồng Hới. Rất nhiều tín hữu cũng như lương dân đi theo. Đến nơi thày Tự hỏi cho biết chính xác chỗ trước đây đã xử Đức Cha Cao, rồi vui vẻ quỳ ngay xuống đó để cầu nguyện. Hai người con ông Quỳnh đến chào giã biệt thày, thày hứa sẽ cầu nguyện cho họ, và nhắn lời chào giả biệt đến các tín hữu.

 

Giờ hành quyết đã điểm. Thày Tự nằm xuống cho lính thòng dây qua cổ. Được lệnh hai người lính cầm hai đầu dây  cùng xiết mạnh, đưa thày giảng 32 tuổi về hưởng phúc với Chúa Kitô, tại chinh nơi đầu người cha tinh thần thày rơi xuống. Ông Quỳnh cũng bị xử giảo (xiết cổ) như vậy. Hôm đó là ngày 10.07.1840.

 

Gần 60 năm sau, Đức Lêo XIII đã suy tôn thày giảng  Phêrô Nguyễn Khắc Tự lên hàng chân phước ngày 27.05.1900. Ngày 19-06-1988, Đức Gioan Phaolô II suy tôn ngài lên bậc Hiển thánh.


Lm. Đào Trung Hiệu, OP 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Thuật ngữ communio sanctorum đã được đưa vào “Tín biểu các thánh tông đồ”, và dịch sang tiếng Việt là “các thánh thông công”. Trong việc giải thích tín điều này, các tác giả cổ điển nói sự thông hiệp giữa ba “tình trạng của Giáo hội” (tres status Ecclesiae): Giáo hội chiến đấu, Giáo hội đau khổ, Giáo hội khải hoàn. Công đồng Vaticanô II (LG 48) đã đổi danh xưng thành “Giáo hội lữ hành – thanh luyện – hiển vinh”. Đây không phải là ba Giáo hội nhưng là ba chặng của một Giáo hội duy nhất, với Chúa Kitô là nguyên thủ. Cả ba đều chung một niềm mong đợi, đó là sự quang lâm của Chúa Kitô. Sách Giáo lý Hội thánh Công giáo (số 954) viết như sau (trích lại LG 49):
Do đại dịch Covid-19, để đảm bảo các điều kiện an toàn sức khoẻ, Toà Ân giải Tối cao đã ban hành một sắc lệch cho phép việc lãnh nhận Ơn Toàn Xá cầu nguyện cho các tín hữu đã qua đời có thể được thực hiện trong suốt tháng 11. - Sắc lệnh giải thích, Toà Ân giải Tối cao đã nhận được nhiều thỉnh nguyện của các mục tử xin cho việc thực hành đạo đức “cầu nguyện cho các tín hữu đã qua đời” được thực hiện phù hợp với bối cảnh đại dịch, Toà Ân giải Tối cao đã quyết định: “Ơn Toàn Xá được ban cho những ai viếng nghĩa trang và cầu nguyện cho các tín hữu đã qua đời, thông thường chỉ trong những ngày từ 1-8/11, có thể chuyển sang các ngày khác đến hết tháng 11. Những ngày này, do mỗi tín hữu tự chọn, có thể tách biệt nhau” (không cần các ngày liên tiếp).
Bình Hòa Theo lịch phụng vụ, ngày 8 tháng 9 kính lễ Sinh nhựt Đức Mẹ; và ngày 12 tháng 9 kính tên Mẹ Maria. Lễ kính tên Đức Mẹ Maria có ý nghĩa gì? Khi phân tích các lễ kính Đức Mẹ Maria trong năm phụng vụ, chúng ta thấy lòng đạo đức bình dân muốn mừng một lễ dành cho Đức Mẹ tương tự như lễ dành cho Chúa Giêsu. Chẳng hạn như có lễ kính việc thụ thai Chúa Giêsu trong lòng đức Maria (quen gọi là lễ truyền tin), thì cũng có lễ kính việc thụ thai đức Maria trong lòng bà thánh Anna (gốc tích của lễ đức Mẹ vô nhiễm nguyên tội); nếu đã có lễ sinh nhật Chúa Giêsu thì cũng có lễ sinh nhật Đức Mẹ. Nếu có lễ Chúa Phục sinh và Lên trời, thì cũng có lễ Đức Mẹ hồn xác lên trời. Nếu có lễ kính trái tim rất thánh của Chúa Giêsu, thì cũng có lễ kính trái tim vô nhiễm của Mẹ Maria.
WHĐ (20.8.2020) – Rodney Stark là tác giả của Rise of Christianity, quyển sách thuộc loại best-selling (Harper, San Francisco, 1977). Hiện nay, ông là giáo sư Khoa học xã hội và đồng giám đốc Viện nghiên cứu tôn giáo tại đại học Baylor, đại học lớn nhất của Tin Lành Baptist tại Hoa Kỳ. Ông cũng là giáo sư danh dự của đại học Bắc Kinh, Trung Quốc. Năm 2016, ông cho ra mắt quyển Bearing False Witness: Debunking Centuries of Anti-Catholic History, Templeton Press – (Làm chứng gian: Vạch trần lịch sử chống Công giáo trong nhiều thế kỷ). Trong quyển sách này, tác giả xem xét và đánh giá lại những tội ác được gán cho Giáo Hội Công giáo liên quan đến các sự kiện lớn trong lịch sử, từ các cuộc thánh chiến, rồi sự đàn áp các nhà khoa học, đến Giáo Hội và chủ trương bài Do Thái.
Trong lịch sử Giáo hội Công giáo Việt Nam, ước tính có đến hàng trăm ngàn người đã làm chứng đức tin Kitô Giáo, trong số đó có 118 Thánh Tử đạo, với 117 vị được Giáo hoàng Gioan Phaolô II phong Thánh ngày 19 tháng 6 năm 1988 và Á Thánh An-rê Phú Yên, phong Chân phước ngày 5 tháng 3 năm 2000./post 15 Tháng Mười Một 2015 (Xem: 2652)/
Chiến tranh tôn giáo thường được hiểu là “chiến tranh giữa các tôn giáo”, hoặc “chiến tranh vì lý do tôn giáo”, nhưng cũng đừng bỏ qua “chiến tranh chống lại tôn giáo”. Trong bài này, tác giả, một ký giả và giảng viên môn Truyền thông xã hội tại đại học Abat Oliba (Barcelona) trình bày kết quả cuộc sưu tầm theo hai nghĩa đầu tiên, dựa trên bộ Encyclopedia of Wars, và cho thấy rằng con số này chỉ chiếm 7% trong tổng số các cuộc chiến tranh trong lịch sử nhân loại. Nguồn: Cuántas guerras han tenido una causa religiosa?
Hồng y Gianfranco Ravasi - Kinh thánh đầy dẫy những trang nói đến bạo lực. Chiến tranh là một đề tài được nhắc tới nhiều nhất trong Cựu ước, còn hơn các đề tài khác của cuộc sống nhân sinh. Cần phải loại bỏ những đoạn văn ấy, vì nó không phù hợp với Tin mừng (quan điểm của Markion)? Hoặc giải thích theo nghĩa thiêng liêng? Theo tác giả, cần đọc các bản văn này trong kế hoạch mặc khải tiệm tiến của Thiên Chúa trong lịch sử, và dụng ý của chúng đôi khi trái ngược với cảm giác khi độc giả mới tiếp xúc. Tác giả hiện nay là Chủ tịch Hội đồng Văn hóa của Tòa Thánh. Nguồn: Ravasi,Gianfranco, la Bibbia e le guerre di Dio, in: García, José Juan (director): Enciclopedia de Bioética, URL: http://enciclopediadebioetica.com/index.php/todas-las-voces/186-la-bibbia-e-le-guerre-di-dio
Việc Huấn Luyện Chủng Sinh Tại Việt Nam Trước Hiện Tượng Tục Hóa VIỆC HUẤN LUYỆN CHỦNG SINH TẠI VIỆT NAM TRƯỚC HIỆN TƯỢNG TỤC HÓA SUY TƯ VÀ KINH NGHIỆM Giám mục Giuse Đinh Đức Đạo Dẫn nhập. I. Ý nghĩa, biểu hiện và nguồn gốc của hiện tượng tục hóa. 1. Ý nghĩa hiện tượng tục hóa. 2. Những biểu hiện của hiện tượng tục hóa. 3. Nguồn gốc của hiện tượng tục hóa và những biểu hiện khác của tục hóa. II. Việc huấn luyện chủng sinh tại Việt Nam đứng trước hiện tượng tục hóa. 1. Hiện tượng tục hóa: nguồn gốc và đặc tính của tục hóa tại Việt Nam. 2. Hiện tượng tục hóa: những vấn đề căn bản. 3. Việc huấn luyện: những yếu tố căn bản và phương pháp. Thay lời kết. WHĐ (12.8.2020) – Trào lưu tục hóa đang gây nhiều khó khăn cho đời sống đức tin của nhiều giáo hữu, đến độ ĐTC Bênêđictô XVI đã phải cho thành lập Hội đồng Giáo hoàng cổ võ việc tân Phúc âm hóa để giúp cho các Giáo Hội địa phương đáp lại những vấn đề do việc tục hóa gây ra.[1]
Chúng ta đã được dạy rất nhiều về việc phải dành giờ cầu nguyện. Các vị thánh đã xác nhận rằng cầu nguyện là hơi thở của đời sống thiêng liêng, giúp chúng ta hướng về Chúa. Tuy vậy, cuộc sống hối hả và vụ lợi thời nay đã khiến người ta nghi ngờ về điều này. Phần vì không có thời gian, phần vì thấy cầu nguyện chẳng mang lại lợi ích gì, người ta đã bỏ đi thói quen tốt lành ấy. Cũng có rất nhiều người cho rằng cầu nguyện là việc của những người đi tu hoặc những ai rảnh rỗi.
Giúp soạn bài giảng – tư liệu giúp soạn một bài giảng tốt. Như một phần sứ vụ của tôi là cung cấp tư liệu cho việc truyền đạt Lời Chúa, tôi sẽ mô tả những nét chính của một chuỗi các đề mục để làm sao chúng ta có thể soạn được một bài giảng tốt. Trong tiến trình các bước, chúng tôi hy vọng không chỉ cung cấp cho đọc giả những bước cần thiết để xây dựng một bài giảng hiệu quả nhưng còn cho thấy ý nghĩa thần học của một bài giảng cũng như vai trò của bài giảng trong phụng vụ. Hướng đến mục tiêu đó, tôi sẽ bắt đầu nói đến mục đích của bài giảng là gì, vai trò của bài giảng trong phụng vụ và chỗ đứng của bài giảng trong việc hình thành dân Chúa.
Bảo Trợ