Thánh Ignatiô DELGADO Y, Giám mục dòng Đaminh (1762-1838)

15 Tháng Mười Một 20157:29 SA(Xem: 1935)

Thánh Ignatiô DELGADO Y, Giám mục dòng Đaminh (1762-1838)

Ignatio-DELGADO-Y.jpgNgày 12 tháng 07

  

Chiến sĩ truyền giáo

 

Với gần nửa thế kỷ hăng say trong việc truyền giáo tại Việt Nam và 43 năm giám mục cuộc đời thánh Ignatiô Y gắn liền với giáo phận Đông Đàng Ngoài, nay là năm giáo phận Hải Phòng, Bùi Chu, Bắc Ninh, Lạng Sơn và Thái Bình. Hoạt động của ngài trải dài trên ba triều đại: Thời Cảnh Thịnh với nhiều khó khăn từng khu vực giúp ngài nhận định được nhu cầu, để đến thời Gia Long ngài phát triển giáo phận Đông với mức cực thịnh, đủ sức đương đầu với những cơn giông tố bách hại thời Minh Mạng, và đó cũng là mùa gặt phong phú “các Thánh tử đạo” của giáo phận.  Số linh mục bản xứ, số tu sĩ nam nữ, số giáo dân tăng nhanh mỗi năm đã là những chứng cớ hùng hồn  nhất cho chúng ta thấy nhiệt tình  và tài lãnh đạo của ngài.

 

Ý chúa nhiệm mầu

 

Ignatiô Y Delgado sinh ngày 23.11.1762 tại làng Villafeliche, tỉnh Saragozza, miền Aragon, Tây Ban Nha. Từ thuở niên thiếu, Ignatiô Ychịu  ảnh hưởng nhiều của các nữ tu Xitô. Say mê đọc sách cậu nghiền ngẫm tối ngày những truyện tích của các dì, hơn nữa ngôi làng của cậu từ núi đồi đến đồng cỏ, đất đai đến cây rừng đều ghi dấu những nữ tu áo trắng, con cái thánh Bernadô này. Do đó cậu đã nuôi chí dấn thân phục vụ Chúa trong đan viện.

 

Thế nhưng Chúa lại an bài cách khác. Ngày kia có một người bạn có ý định đi tu dòng Đaminh rủ cậu cùng đi, Ignatiô Y liền nhận lời. Sau đó cả hai đến gõ cửa tu viện  Thánh Phêrô tử đạo ở Cata laydud, thuộc tỉnh dòng Aragon. Cậu vào nhà tập khi 18 tuổi và khấn năm 1781. đang khi theo học tại đại học Orihuela, Delgado được biết việc truyền giáo của dòng tại Đông Nam Á. Trong thư ngày 25.06.1780, cha chính Alonsô Phê ở Việt Nam báo cáo số người và công việc, đã xin gởi thêm nhiều nhà truyền giáo “nhân đức, thông thái và can đảm”. Delgado thấy lòng mình sôi sục ý muốn truyền giáo. Năm 1785,sau khi bàn hỏi các bề trên, thày Delgado xin chuyển qua tỉnh dòng Nữ Vương Rất Thánh Mân Côi và được gởi tới Manila Phi Lật Tân để tiếp tục học tập.

 

Vị giám mục trẻ trung

 

Năm 1787, thày Delgado được thụ phong linh mục. Năm sau trong số 15 tu sĩ tình nguyện  đến Việt Nam, bề trên chọn Delgado và một người nữa. Thế nhưng nước Việt khi đó đang có nội chiến, nên hai vị thừa sai phải lưu lạc đến Macao, đến Malacca rồi lại trở về Macao. Cuối cùng, năm 1790 cha mới đến được đất truyền giáo cùng với ba thừa sai khác, trong đó có cha Henares Minh.

 

Tuy mới tới Việt Nam, nhưng mọi người đã nghe đồn về tài năng và nhân đức  của cha Delgado khi còn ở Manila, nên đã quý mến cha cách đặc biệt . Sau vài tháng học tiếng cha được cử coi sóc chủng viện hai năm. Làm cha chính giáo phận hai năm, kiêm chức đại diện coi sóc các cha dòng Đaminh. Sự khôn ngoan nhân đức của cha được xác nhận  khi Đức Cha Alonsô Phê đệ trình lên Toà Thánh xin đặc cha làm giám mục phó có quyền kế vị. Đức Piô VI đã chính thức công nhận trong đoản sắc ngày 11.02.1794, nhưng mãi tháng 09 năm sau nghi lễ tấn phong mới được cử hành trong niềm vui của toàn giáo phận. Vị Tân giám mục khi đó mới 33 tuổi.

 

Các sử gia ghi nhận Đức cha Ignatô Y đã thích ứng được với miền truyền giáo ngay từ những ngày đầu, từ khí hậu, ngôn ngữ đến phong tục và những món ăn địa phương. Bốn năm coi chủng viện  và làm cha chính, giúp ngài hiểu rõ về tình hình địa phương cũng như các giáo sĩ. Giờ đây với chức vụ mới, ngài là vị cộng tác đắc lực vả hữu hiệu của Đức Cha Alonsô Phê trong việc quản trị và truyền giáo. Tháng 8-1798, khi vua Cảnh Thịnh ra sắc chỉ cấm đạo, triệt hạ các nhà thờ bắt bớ các thừa sai linh mục và thày giảng, ép buộc các tín hữu bỏ đạo, Đức Cha Delgado liền viết thư luân lưu cho các gíao sĩ thu cất các đồ thờ, nếu phải ẩn trốn thì đừng đi quá xa, để có thể tiếp tục phục vụ các giáo hữu. Đặc biệt Đức Cha tin tưởng vào sức mạnh từ trời cao khi kêu gọi các tín hữu ăn chay những ngày thứ tư, và đọc kinh cầu các thánh  mỗi ngày cầu xin ơn bình an.

 

Trong báo cáo gởi về cho tỉnh dòng Mẹ, Đức cha viết: “.Các giáo sĩ phải ẩn trong hầm hố, trong rừng sâu hay trên đồng vắng, nhưng vẫn lén lút cải trang về thăm các giáo hữu”. Riêng hai vị giám mục vẫn tiếp tục đi thăm viếng hết xứ này đến xứ khác trong giáo phận vẫn tiếp tục đi thăm viếng hết xứ này đến xứ khác trong giáo phận. Một hôm Đức Cha Phê đi kinh lý  tại khu vực trấn kinh Bắc (Bắc Ninh) thì sốt rét và qua đời tại Lai Ổn ngày 02.02.1799, trút hết gánh nặng Giáo phận cho Đức cha Y. trong bài giảng lễ an táng. Đức Cha Y nhắc lại mẫu gương và lời kinh vị tiền nhiệm thường đọc là: “Lạy Chúa xin hãy nung đốt con, cưa cắt con đừng tha thứ cho con ở đời này, để con được thứ tha muôn đời”. Đức Cha Y đã nối tiếp truyền thống và mẫu gương đó, suốt đời chấp nhận gian khổ và không quản ngại để phục vụ Chúa trong tha nhân.

 

Khôn ngoan và can đảm

 

Công việc Đức Cha quan tâm nhất là đến thăm tất cả các họ đạo dù đường xá xa xôi trace trở đến đâu. Từ đầu năm 1803, công tác này được san sẻ cho vị Tân giám mục Henares Minh (thụ phong ngày 09.01.1803). Lúc đó, đường xá miền Bắc không được như bây giờ, hai vị giám mục đã phải đi hàng ngàn cây số đường mòn bờ đê, phải xuyên rừng leo núi . thế mà không họ lẻ nhỏ nhất nào không được các vị đến thăm nhiều lần. Tại mỗi nơi các ngài đưa ra chỉ thị cụ thể, sửa lại những lạm dụng, trừ diệt những thói dị đoan và xoá bỏ tệ nạn cho vay nặng lãi.

 

Suốt thời đại Gia Long và những năm đầu thời Minh Mạng, tuy còn một vài vụ bắt bớ ở địa phương, nhưng nói chung đây là thời tương đối bình an nhất. Đức cha Y đã tận dụng giai đoạn này để tổ chức giáo phận vững chắc hơn. Ngài quan tâm nhiều đến việc đào tạo linh mục bản xứ, củng cố chủng viện nhất là tại Ninh Cường, Lục Thuỷ, Tiên Chu và Ngọc Đồng. Số linh mục chỉ 10 năm sau đã tăng gấp đôi (năm 1810 có 54 linh mục Tây và Việt). Là thành phần dòng Đaminh, đức cha được sự hộ trợ tích cực của tỉnh dòng Mẹ về nhân sự trong giáo phận, thế nhưng chủ yếu ngài đào tạo linh mục triều, rồi sau khi đã làm linh mục, nếu ai muốn rồi mới xin chuyển qua dòng. Ngoài 16 cha dòng Việt cũ, thời Đức  Cha Y có thêm 66 cha dòng người Việt, hỗ trợ công tác mục vụ và truyền giáo, sát cánh với linh mục triều.

 

Suốt 20 năm thái bình, các tín hữu được tự do tham dự kinh lễ mỗi ngày, nên được học hỏi về giáo lý kỹ lượng hơn và sống đạo tốt hơn. Nhiều nơi tổ chức ghi lễ công khai  và long trọng, lôi cuốn các anh em lương dân đến dự rồi tìm hiểu và bỏ những thành kiến nghi kỵ với đạo. Thí dụ trước đây họ thường trách người theo đạo là bỏ cha mẹ tổ tiên, nay mới hiểu được trong đạo có những ghi lễ chôn cất, giỗ chạp cũng trang nghiêm và đầy ý nghĩa. Dần dần số người xin theo đạo ngày càng đông. Chỉ trong 10 năm có hơn 10.000 người lớn xin rửa tội. Con số 114.000 tín hữu khi Đức Cha Y nhận quyền giáo phận  đã tăng lên 160.000 vào năm 1815, với gần 800 họ đạo.

 

Ý thức trách nhiệm mình đối với tiền nhân, đức cha cho ủy nhiệm một số người và đích thân điều hành việc nghiên cứu cuộc đời sự nghiệp hai linh mục tử đạo  tại Hà Nội năm 1773 là cha Castanõeda Gia và Vinh Sơn Liêm. Năm 1818, Đức Cha hoàn tất hồ sơ xin phong thánh gởi về Rôma.

 

Những năm đầu thời Minh Mạng, ôn dịch hoành hành khắp nơi, có tỉnh chết hàng chục ngàn người, kinh tế kiệt quệ, mọi người khiếp sợ, lương dân cũng như giáo hữu chạy vào nhà thờ xin nước thánh, nhà vua không dám ra khỏi cung điện. Tiếp đến là mất mùa hạn hán và đói khổ. Nhân cơ hội này Đức Cha Y cổ động các thừa sai và tín hữu  thể hiện long bác ái, săn sóc các bệnh nhân cứu trợ người túng thiếu. khiến mọi người kính nể.

 

Giông tố mở màn

 

Những chiếu chỉ cấm đạo 1825 và 1833 không được thi hành triệt để ở giáo phận Đông Đàng Ngoài, các quan có thiện cảm với đạo, lại phò Lê hơn phò Nguyễn, nên báo cáo với vua cho có hình thức. Bất ngờ ngày 17.04.1838, thày Vũ Văn Lân, thày giảng của cha Viên, về tòa giám mục lãnh dầu thánh, mang theo sáu lá thư (cho hai Đức cha, hai linh mục thừa sai và hai linh mục người Việt), bị phát hiện và bị bắt. Tổng Đốc Trịnh Quang Khanh hí hửng đưa sáu lá thư về khoe với vua. Tuần phủ Hưng Yên liền bị cách chức, Trịnh Quang Khanh bị triều về kinh khiển trách. Tướng Lê Văn Đức dẫn thêm hai ngàn lính kinh đô ra hỗ trợ việc bắt đạo, bão tố bắt đầu bùng lên trên đất Nam Định. Nhiều mật thám đã phái đi len lỏi khắp nơi. Hai chủng viện Ninh Cường, Lục Thủy và nhiều nhà chung nhà phước tự rỡ xuống để tránh sự dòm ngó, các chủng sinh phải giải tán, các nữ tu phải trở về gia đình, giáo hữu phải tự tìm chỗ ẩn. Hai Đức Cha và hai thừa sai đến náu thân tại làng Kiên Lao.

 

Con đường Thập Giá

 

Kiên Lao là một làng lớn, nguyên số tín hữu cũng lên đến 5.000 người. Các kỳ mục trong xứ thu xếp cho hai Đức cha và hai thừa sai ở bốn nhà khác nhau. Gần chỗ Đức cha Ignatiô Y trốn có thày đồ Hy, các kỳ mục cẩn thận đến điều đình xin ông tạm thời dời chỗ dạy học. Thấy lạ thày đồ gạn hỏi các học sinh và biết được có người Âu Châu núp, liền đi báo với các quan. Ngày 27.05.1838, khoảng 200 lính đến bao vây làng Kiên Lao dưới sự chỉ huy của quan Lê văn Thế. Họ kiểm tra qua loa rồi bỏ đi. Các thừa sai tưởng yên ổn nên sinh hoạt bình thường. Không ngờ ngay sáng hôm sau, quân lính trở lại và bao vây đùng  nhà các ngài đang ở ẩn.

 

Cha Jimenô Lâm và cha Hermosilla Vong nhanh chân trà trộn vào đám đông chạy thoát. Đức Cha Henares Minh được đưa đi trốn ở nhà khác (một tuần sau mới bị bắt). Còn Đức cha Y đã 76 tuổi, được anh em tín hữu khiêng đi trên võng bị lính nhận ra, đuổi theo và bắt tại chỗ. Họ trói Đức Cha nằm trong võng và cáng về đình làng, vừa đi vừa reo hò mừng rỡ, quên cả việc bắt các thừa sai còn lại.

 

Viên quan hỏi Đức  cha “Ông từ đâu đến?”. Ngài đáp: “Tôi ở nơi khác mới đến làng này, họ chẳng liên hệ gì đến tôi”. Quan nói: “Ông đã bị bắt, ông có thể tự vẫn như những người dũng cảm khác thường làm”. Đức Cha trả lời: “Chúng tôi không được tự vẫn, vì đó là trọng tội. Nhưng nếu vì đạo, quan truyền giết tôi thì tôi hết sức vui mừng”.

 

Chiều đến, đức cha được đưa về phủ Xuân Trường. Đêm đó quan Lê Văn Thế truyền nhốt Đức Cha vào cũi gỗ, bốn phía có các hàng song như cũi giam thú dữ, các song gỗ được đóng liền sát với nhau không thể thò tay ra ngoài, trên nóc ông cho trổ một cửa nhỏ để đưa cơm nước cho tù nhân. Chiếc cũi thấp tè, khiến người bị giam không bao giờ đứng thẳng được, đó sẽ là căn nhà của đức cha từ nay cho đến chết.

 

Về phần Tổng Đốc Trịnh Quang Khanh, khi nghe tin liền gởi 100 lính đến hỗ trợ, áp giải tử phủ về tỉnh Nam Định 11 giờ trưa, ngày 30.05, tất cả các quan tỉnh cùng 2000 lính đón chờ “con mồi vĩ đại” mới bắt được. Cờ  xí rợp trời, trống cái trống con, chiêng la vang dội. thế là họ vô tình đón rước người anh hùng đức tin với nghi thức một quân vương. Còn vị anh hùng, ngài quỳ gối cầu nguyện trong cũi, tay không rời cuốn sách vẫn đem theo từ lúc bị bắt, có lẽ là cuốn sách nguyện.

 

Không thể kể cho xiết những nỗi khốn cực đức cha phải chịu suốt 43 ngày bị giam trong cũi. Ăn uống thì thiếu thốn, rồi những buổi tra hỏi, những lời sỉ nhục chửi bới, có người còn nhổ nước miếng vào mặt. Sau những buổi hỏi cung, quân lính khiêng cũi ra bỏ ở cửa Tây của thành. Mình ngài lúc nào cũng nhễ nhãi mồ hôi dưới sức nóng mặt trời hoặc lạnh cóng vì sương đêm lạnh lẽo. Thế nhưng ngoài những lời khai về lý lịch bản thân, đức cha không tiết lộ một người nào hay một vùng nào liên hệ.

 

Thỉnh thoảng đức cha lại nói với quan và lính rằng: “Các ngài chưa biết về đạo Chúa Giêsu, nếu các ngài biết, hẳn các ngài sẽ theo đạo”.

 

Ngày 14.06, Trịnh Quang Khanh gởi bản án về hoàng cung, nhưng vua Minh mạng không châu phê, vì vua muốn vị thừa sai nhận tội “làm mật thám”. Dĩ nhiên ngài không thể nhận điều vu cáo ấy được. Một hôm ngài nói với quan: “Tôi ở An Nam đã 48 năm, tôi có giấy tờ của Tiên Đế (Gia Long) cho phép giảng đạo. Xin quan cứ dẫn tôi về triều đình, nếu vua muốn nướng thịt tôi mà ăn thì tôi cũng chịu.Xin đừng để lâu kẻo quân lính trông coi vất vả làm gì”.

 

Dẫn đến vinh quang

 

Án xử lần thứ hai gởi vào kinh được vua châu phê ngay, nhưng bản án chưa kịp về đến nam Định thì đức cha đáng kính đã từ trần. Với tuổi già 76, cộng với sức yếu vì bệnh tật, một tháng rưỡi trong cũi đã làm đức cha kiệt lực và an nghỉ trong Chúa ngày 12.07.1838, sau 43 năm làm Giám Mục. Quân lính thấm dầu vào vải, quấn quanh ngón chân, đốt thử xem chết thật chưa, rồi báo cho quan tổng đốc hay. Quan quyết định: “Cứ thi hành mọi sự như án đã đề ra, để mọi người biết tội y nặng nề dường nào.”

 

Quân lính liền khiêng cũi đức cha ra pháp trường Bảy Mẫu, đưa thi thể ra ngoài, rồi chém đầu trước sự hiện diện của quan giám sát và một vài tín hữu. Thi hài vị tử đạo được các tín hữu đem về an táng tại nhà thờ  một thánh đường đã bị phá hủy ở Bùi Chu. Thủ cấp đức cha được treo nơi công cộng ba ngày, rồi ném xuống sông Vị Hoàng. Hơn ba tháng sau một người đánh cá vớt được, đưa về an táng chung với thi hài của ngài.

 

Ngày 27.05.1900 Đức Lêo XIII suy tôn vị giám mục dòng thuyết giáo  Ignatiô Y lên bậc chân phước. Ngày 19-06-1988, Đức Gioan Phaolô II suy tôn ngài lên bậc Hiển thánh.


Lm. Đào Trung Hiệu, OP 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Thuật ngữ communio sanctorum đã được đưa vào “Tín biểu các thánh tông đồ”, và dịch sang tiếng Việt là “các thánh thông công”. Trong việc giải thích tín điều này, các tác giả cổ điển nói sự thông hiệp giữa ba “tình trạng của Giáo hội” (tres status Ecclesiae): Giáo hội chiến đấu, Giáo hội đau khổ, Giáo hội khải hoàn. Công đồng Vaticanô II (LG 48) đã đổi danh xưng thành “Giáo hội lữ hành – thanh luyện – hiển vinh”. Đây không phải là ba Giáo hội nhưng là ba chặng của một Giáo hội duy nhất, với Chúa Kitô là nguyên thủ. Cả ba đều chung một niềm mong đợi, đó là sự quang lâm của Chúa Kitô. Sách Giáo lý Hội thánh Công giáo (số 954) viết như sau (trích lại LG 49):
Do đại dịch Covid-19, để đảm bảo các điều kiện an toàn sức khoẻ, Toà Ân giải Tối cao đã ban hành một sắc lệch cho phép việc lãnh nhận Ơn Toàn Xá cầu nguyện cho các tín hữu đã qua đời có thể được thực hiện trong suốt tháng 11. - Sắc lệnh giải thích, Toà Ân giải Tối cao đã nhận được nhiều thỉnh nguyện của các mục tử xin cho việc thực hành đạo đức “cầu nguyện cho các tín hữu đã qua đời” được thực hiện phù hợp với bối cảnh đại dịch, Toà Ân giải Tối cao đã quyết định: “Ơn Toàn Xá được ban cho những ai viếng nghĩa trang và cầu nguyện cho các tín hữu đã qua đời, thông thường chỉ trong những ngày từ 1-8/11, có thể chuyển sang các ngày khác đến hết tháng 11. Những ngày này, do mỗi tín hữu tự chọn, có thể tách biệt nhau” (không cần các ngày liên tiếp).
Bình Hòa Theo lịch phụng vụ, ngày 8 tháng 9 kính lễ Sinh nhựt Đức Mẹ; và ngày 12 tháng 9 kính tên Mẹ Maria. Lễ kính tên Đức Mẹ Maria có ý nghĩa gì? Khi phân tích các lễ kính Đức Mẹ Maria trong năm phụng vụ, chúng ta thấy lòng đạo đức bình dân muốn mừng một lễ dành cho Đức Mẹ tương tự như lễ dành cho Chúa Giêsu. Chẳng hạn như có lễ kính việc thụ thai Chúa Giêsu trong lòng đức Maria (quen gọi là lễ truyền tin), thì cũng có lễ kính việc thụ thai đức Maria trong lòng bà thánh Anna (gốc tích của lễ đức Mẹ vô nhiễm nguyên tội); nếu đã có lễ sinh nhật Chúa Giêsu thì cũng có lễ sinh nhật Đức Mẹ. Nếu có lễ Chúa Phục sinh và Lên trời, thì cũng có lễ Đức Mẹ hồn xác lên trời. Nếu có lễ kính trái tim rất thánh của Chúa Giêsu, thì cũng có lễ kính trái tim vô nhiễm của Mẹ Maria.
WHĐ (20.8.2020) – Rodney Stark là tác giả của Rise of Christianity, quyển sách thuộc loại best-selling (Harper, San Francisco, 1977). Hiện nay, ông là giáo sư Khoa học xã hội và đồng giám đốc Viện nghiên cứu tôn giáo tại đại học Baylor, đại học lớn nhất của Tin Lành Baptist tại Hoa Kỳ. Ông cũng là giáo sư danh dự của đại học Bắc Kinh, Trung Quốc. Năm 2016, ông cho ra mắt quyển Bearing False Witness: Debunking Centuries of Anti-Catholic History, Templeton Press – (Làm chứng gian: Vạch trần lịch sử chống Công giáo trong nhiều thế kỷ). Trong quyển sách này, tác giả xem xét và đánh giá lại những tội ác được gán cho Giáo Hội Công giáo liên quan đến các sự kiện lớn trong lịch sử, từ các cuộc thánh chiến, rồi sự đàn áp các nhà khoa học, đến Giáo Hội và chủ trương bài Do Thái.
Trong lịch sử Giáo hội Công giáo Việt Nam, ước tính có đến hàng trăm ngàn người đã làm chứng đức tin Kitô Giáo, trong số đó có 118 Thánh Tử đạo, với 117 vị được Giáo hoàng Gioan Phaolô II phong Thánh ngày 19 tháng 6 năm 1988 và Á Thánh An-rê Phú Yên, phong Chân phước ngày 5 tháng 3 năm 2000./post 15 Tháng Mười Một 2015 (Xem: 2652)/
Chiến tranh tôn giáo thường được hiểu là “chiến tranh giữa các tôn giáo”, hoặc “chiến tranh vì lý do tôn giáo”, nhưng cũng đừng bỏ qua “chiến tranh chống lại tôn giáo”. Trong bài này, tác giả, một ký giả và giảng viên môn Truyền thông xã hội tại đại học Abat Oliba (Barcelona) trình bày kết quả cuộc sưu tầm theo hai nghĩa đầu tiên, dựa trên bộ Encyclopedia of Wars, và cho thấy rằng con số này chỉ chiếm 7% trong tổng số các cuộc chiến tranh trong lịch sử nhân loại. Nguồn: Cuántas guerras han tenido una causa religiosa?
Hồng y Gianfranco Ravasi - Kinh thánh đầy dẫy những trang nói đến bạo lực. Chiến tranh là một đề tài được nhắc tới nhiều nhất trong Cựu ước, còn hơn các đề tài khác của cuộc sống nhân sinh. Cần phải loại bỏ những đoạn văn ấy, vì nó không phù hợp với Tin mừng (quan điểm của Markion)? Hoặc giải thích theo nghĩa thiêng liêng? Theo tác giả, cần đọc các bản văn này trong kế hoạch mặc khải tiệm tiến của Thiên Chúa trong lịch sử, và dụng ý của chúng đôi khi trái ngược với cảm giác khi độc giả mới tiếp xúc. Tác giả hiện nay là Chủ tịch Hội đồng Văn hóa của Tòa Thánh. Nguồn: Ravasi,Gianfranco, la Bibbia e le guerre di Dio, in: García, José Juan (director): Enciclopedia de Bioética, URL: http://enciclopediadebioetica.com/index.php/todas-las-voces/186-la-bibbia-e-le-guerre-di-dio
Việc Huấn Luyện Chủng Sinh Tại Việt Nam Trước Hiện Tượng Tục Hóa VIỆC HUẤN LUYỆN CHỦNG SINH TẠI VIỆT NAM TRƯỚC HIỆN TƯỢNG TỤC HÓA SUY TƯ VÀ KINH NGHIỆM Giám mục Giuse Đinh Đức Đạo Dẫn nhập. I. Ý nghĩa, biểu hiện và nguồn gốc của hiện tượng tục hóa. 1. Ý nghĩa hiện tượng tục hóa. 2. Những biểu hiện của hiện tượng tục hóa. 3. Nguồn gốc của hiện tượng tục hóa và những biểu hiện khác của tục hóa. II. Việc huấn luyện chủng sinh tại Việt Nam đứng trước hiện tượng tục hóa. 1. Hiện tượng tục hóa: nguồn gốc và đặc tính của tục hóa tại Việt Nam. 2. Hiện tượng tục hóa: những vấn đề căn bản. 3. Việc huấn luyện: những yếu tố căn bản và phương pháp. Thay lời kết. WHĐ (12.8.2020) – Trào lưu tục hóa đang gây nhiều khó khăn cho đời sống đức tin của nhiều giáo hữu, đến độ ĐTC Bênêđictô XVI đã phải cho thành lập Hội đồng Giáo hoàng cổ võ việc tân Phúc âm hóa để giúp cho các Giáo Hội địa phương đáp lại những vấn đề do việc tục hóa gây ra.[1]
Chúng ta đã được dạy rất nhiều về việc phải dành giờ cầu nguyện. Các vị thánh đã xác nhận rằng cầu nguyện là hơi thở của đời sống thiêng liêng, giúp chúng ta hướng về Chúa. Tuy vậy, cuộc sống hối hả và vụ lợi thời nay đã khiến người ta nghi ngờ về điều này. Phần vì không có thời gian, phần vì thấy cầu nguyện chẳng mang lại lợi ích gì, người ta đã bỏ đi thói quen tốt lành ấy. Cũng có rất nhiều người cho rằng cầu nguyện là việc của những người đi tu hoặc những ai rảnh rỗi.
Giúp soạn bài giảng – tư liệu giúp soạn một bài giảng tốt. Như một phần sứ vụ của tôi là cung cấp tư liệu cho việc truyền đạt Lời Chúa, tôi sẽ mô tả những nét chính của một chuỗi các đề mục để làm sao chúng ta có thể soạn được một bài giảng tốt. Trong tiến trình các bước, chúng tôi hy vọng không chỉ cung cấp cho đọc giả những bước cần thiết để xây dựng một bài giảng hiệu quả nhưng còn cho thấy ý nghĩa thần học của một bài giảng cũng như vai trò của bài giảng trong phụng vụ. Hướng đến mục tiêu đó, tôi sẽ bắt đầu nói đến mục đích của bài giảng là gì, vai trò của bài giảng trong phụng vụ và chỗ đứng của bài giảng trong việc hình thành dân Chúa.
Bảo Trợ