Từ Lập Nghiệp Đến Hôn Nhân Xưa Và Nay

13 Tháng Mười Một 20151:13 SA(Xem: 1055)
Đặt vấn đề: Từ ngàn xưa, ông cha ta đã coi trọng và rất thận trọng trong việc lập nghiệp cũng như dựng vợ gả chồng cho con cháu. Chính vì thế, các ngài đã để lại những trải nghiệm, những lời khuyên bảo quí báu qua những câu ca dao, tục ngữ thật ý nghĩa và sâu sắc:
lang_que_-_12-content

 “Tậu trâu, cưới vợ, làm nhà.

Trong ba việc đó thật là khó thay”.

 

Tìm hiểu việc lập nghiệp, dựng vợ gả chồng xưa và nay nó khó ra sao? Nó quan trọng thế nào? Chọn quan điểm nào trong hôn nhân? Tìm hiểu kỹ những vấn đề đó, sẽ giúp ta góp được một phần nhỏ trong việc tạo dựng hạnh phúc bền vững cho con cháu trong gia đình. Thiết nghĩ, đó là điều cần thiết.

 

Lập nghiệp ngày xưa, con trâu với người nông dân

 

Theo các nhà nghiên cứu cổ sinh vật học, dựa vào các mẫu hóa thạnh đã tìm thấy, thì con trâu đã được người nông dân thuần hóa thành gia súc, hết hoang dã, đã có khoảng từ 5000 đến 6000 năm trước đây. Hình ảnh con trâu đã gắn liền với đời sống người nông dân từ bao đời nay: “Trên đồng cạn, dưới đồng sâu/ Chồng cầy, vợ cấy, con trâu đi bừa” (Cadao). Con trâu, với người nông dân đã trở thành đôi bạn thân thiết giúp đỡ lẫn nhau: “Trâu ơi ta bảo trâu này/ Trâu ra ngoài ruộng, trâu cày với ta/ Cấy cầy vốn nghiệp nông gia/ Ta đây, trâu đấy ai mà quản công/ Bao giờ cây lúa còn bông/ Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn (Cadao).  Như thế, ngày xưa, trong nền kinh tế gần như hoàn toàn nông nghiệp, thì con trâu đã góp một phần quan trọng cho nhà nông: “Con trâu là đầu cơ nghiệp”, dù xã hội đó cũng đã phân chia ra các thành phần: Sĩ , nông, công , thương, nhưng nông dân vẫn là thành phần then chốt và đa số trong xã hội.

 

Vậy, vấn đề khó khăn ngày đó là phải chọn lựa được con trâu thật tốt mới có thể giúp nhà nông làm ăn khấm khá hơn. Để chọn được con trâu tốt, mang lại hiệu quả kinh tế cao cho gia đình, qua kinh nghiệm lâu đời trong cuộc sống, người xưa đã đưa ra được các tiêu chuẩn lựa trâu tốt, xấu: “Trâu cổ cò, bò cổ giải (tốt); đốm đầu thì nuôi, đốm đuôi thì thịt; trâu trắng đến đâu, mất mùa đến đấy; trâu tốt thì: dạ bình vôi, mắt ốc nhồi, mồm gầu dai, tai lá mít, đít lồng bàn…”. Mua trâu phải chọn ngày tháng và nơi có trâu tốt: “Tháng hai (tư) đi tậu trâu bò/ Cầy cho đất ải mạ mùa ta gieo; Cống làng Tô, Trâu bò làng Hệ (Thái Binh)…

 

Lập nghiệp ngày nay: Vốn kiến thức, nghề nghiệp

 

Ngày nay, những nước công nghiệp thì thành phần nông dân chỉ còn chiếm khoảng từ 10% đến 20% dân số. Nhân loại đang bước vào giai đoạn nền kinh tế tri thức. Chính những thông tin quan trọng khi nắm bắt được, nó đã trở thành hàng hóa vô cùng giá trị. Sự lập nghiệp hôm nay, không còn nhất thiết phải là con trâu, hay đàn trâu năm ba trăm con nữa, mà là vốn kiến thức, là nghề nghiệp. Vốn kiến thức chỉ có thể có được qua con đường duy nhất là học tập, không có con đường khác. Học tập, nếu không có điều kiện tới trường, ta có thể tự học, học nơi sách vở, học nơi bạn bè, học nơi xã hội, và trường đời là đại học lớn nhất của nhân loại…Nhiều người đã thành công từ con đường tự học…

 

Cái khó khăn ở đây là kho tàng kiến thức của loài người đến hôm nay hầu như vô tận. Việc còn lại là ta có đủ sáng suốt, nghị lực, ý chí, bản lãnh để chọn lựa nhà trường, ông thầy, sách, kiến thức…để chiếm lĩnh một phần tri thức khoa học giá trị chân chính, không mang tính ngụy biện, áp đặt của nhân loại hôm nay hay không? Đồng thời vận dụng những kiến thức khoa học chân chính đó như thế nào trong cuộc sống để đem lại hạnh phúc cho ta và đồng loại? Vua Salômon, vị vua thông thái đã có câu nói trứ danh để giúp ta hiểu biết rõ hơn trong việc lựa chọn những kiến thức cần phải học: “Vấn đề nào cũng có thời gian của nó”. Lịch sử của nhân loại đã chứng minh bao tà thuyết, ngụy biện, áp đặt… đã dần bị tàn lụi và đi vào quá khứ, Sự thật chính là chân lý mãi mãi tồn tại. Như thế, lập nghiệp hôm nay, trong một thế giới đang trong chiều hướng hội nhập sâu, thì cần đến vốn kiến thức chuyên sâu trong từng lãnh vực,  tạo được nghề nghiệp ổn định và phát triển. Điều đó cần có cái tâm trong sáng, cái tầm hiểu biết sâu rộng…

 

Quả thực, con đường lập nghiệp ngày nay rộng thênh thang, nhưng cũng khó khăn vô vàn, so với cách lập nghiệp xưa kia. Bởi lẽ, xà hội hôm nay trập trùng bóng tối và ánh sáng; thiện dữ lẫn lộn; trung thực thẳng thắn và gian dối đan xen. Người đời đã nói: Thẳng thắn thường thua thiệt; lươn lẹo lại lên lương…

 

Thông thường, sau khi đã có nghề nghiệp ổn định, sự nghiệp vững vàng, người ta mới nghĩ đến việc hôn nhân. Vì thế, người xưa đã nói: Đai đăng khoa rồi đến tiểu đăng khoa, có nghĩa là sau khi đã đỗ đạt, có danh phận, có nghề nghiệp, mới tiến tới việc hôn nhân. Ta cùng tìm hiểu việc hôn nhân xưa và nay khác nhau ra sao.

 

Khái quát những khác biệt giữa hôn nhân xưa và nay

 

Nhìn chung, vấn đề hôn nhân ngày nay đã có nhiều tiến bộ hơn thời xưa: Tuổi đính hôn ngày xưa chỉ là: “gái thập tam, nam thập lục”. Vì thế, xã hội thời đó đã có: “Lấy chồng từ thuở mười ba/ Đến khi mười tám thiếp đà năm con/ Ra đường thiếp hãy còn son/ Về nhà thiếp đã năm con cùng chàng” (Cadao). Đôi khi, tôi được biết ngày nay vẫn có những cuộc tình trong sáng và đẹp hơn pha lê, thánh thiện như thiên thần ở tuổi 13, 16, khi họ chỉ mới trao nhau ánh mắt yêu thương, chưa hề nắm tay và hôn nhau, thế mà, vấn vương cả đời…!!! Trong khi, luật hôn nhân của xà hội hôm nay, đòi buộc nữ phải đủ mười tám tuổi, nam đủ hai mươi tuổi. Ngày xưa, theo chế độ đa thê, thì ngày nay nhiều nơi đã theo chế độ một vợ một chồng. Xưa kia, con cái gần như không có tự do lựa chọn người phối ngẫu: “Cha mẹ đặt đâu, con cái ngồi đó”. Ngày nay quyền tự do lựa chọn của con cái được tôn trọng…

 

Có điều, từ ngàn xưa, hôn nhân vẫn mang mục đích là sinh con cái để “nối dõi tông đường” và giống nòi. Đó là điều thật chính đáng. Nhưng tiếc thay, ngày nay, đã có nhiều nước trên thế giới, cho phép thực hiện hôn nhân đồng tính, làm mất hết ý nghĩa, và mục đích chính đáng cao đẹp của hôn nhân. Tôi nghĩ đó là khác biệt lớn nhất và buồn nhất cho nhân loại hôm nay, mặc dù thế giới đang có một nền văn minh vượt bực so với thời ông cha chúng ta…

 

Hiện, có quá nhiều quan điểm khác nhau về hôn nhân đang được nhiều quốc gia trên thế giới cho phép, dẫn đến biết bao tệ nạn xã hội như: nạn phá thai qúa nhiều, coi thường sự sống của các thai nhi; Việc ly di diễn ra tràn lan trên khắp thế giới (xã hội cho phép); hôn nhân đồng tính làm mất mục đích và ý nghĩa của hôn nhân chân chính (hơn  20 quốc gia cho phép)…Gia đình chưa bao giờ khủng khoảng như hiện nay. Với những quan điểm về hôn nhân khác nhau và lệch lạc như thế, ta cùng tìm hiểu khái quát quan điểm, đặc tính hôn nhân Công Giáo với hy vọng cứu vãn được sự băng hoại về hôn nhân của nhân loại hôm nay.

 

Những nét cơ bản trong hôn nhân Công Giáo

 

Có thể nói, nguồn gốc, ý nghĩa, mục đích, đặc tính của hôn nhân Công Giáo đều bắt nguồn từ Kinh Thánh, mà Kính Thánh chính là lời của Thiên Chúa dạy bảo con người. Lời dạy bảo đó đã có ngay từ thuở tạo thiên lập địa, được mô tả trong phần Cựu Ước, và trở nên trọn vẹn trong phần Tân Ước khi Chúa Giêsu nhập thế cứu chuộc loài người.

 

Từ cội nguồn trong Cựu Ước Thiên Chúa đã phán: “Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình, Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa, Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ” (St 1,27) Tiếp đến Chúa phán: “Con người ở một mình thì không tốt. ta sẽ làm cho nó một trợ tá tương xứng với nó ….. Đức Chúa là Thiên Chúa lấy cái xương sườn đã rút từ con người ra, làm thành một người đàn bà và dẫn đến với con người…Bởi thế, người đàn ông lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một xương một thịt” (St 2, 18-24). Khởi đầu Thiên Chúa chỉ dựng một Adam và một Eva. Chính vì thế, Hôn nhân Công Giáo có đặc tính là: đơn hôn và vĩnh hôn (Một nam, một nữ; và ở với nhau suốt đời). Thú thực, mỗi lần tổ chức đám cưới cho con cháu, hay đi dự đám cưới tôi thường bị cuốn hút bởi đoạn Kinh Thánh trên đây. Vì chính đoạn Kinh Thánh này đã giúp tôi ngộ ra sự kỳ diệu lạ lùng giữa tình yêu nam nữ đến nỗi đôi trai gái đã bỏ cha bỏ mẹ mình, bỏ tổ ấm gia đình mình, mà họ đã sống bao năm êm đềm để tạo một gia đình mới, vì một tình yêu mới, tình yêu nam nữ, họ sống với nhau …!!!

 

Mục đích của hôn nhân Công Giáo là vợ chồng trọn đời yêu nhau, sinh sản và giáo dục con cái để nối dõi tông đường, giúp nhau nên thánh: “Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều cho đầy mặt đất, và thống trị mặt đất. Hãy làm bá chủ cá biển, chim trời và mọi giống vật bò trên mặt đất” (St 1, 28). Chính vì thế, luật hôn nhân bên Giáo hội Công Giáo không cho phép phá thai, không chấp nhận hôn nhân đồng tính vì không sinh con để cái. Ngay cả vấn đề ngừa thai Giáo hội chỉ cho phép sử dụng các phương pháp điều hòa sinh sản theo chu kỳ tự nhiên (Ogino- Knauss), đo thân nhiệt (Ferin), tự quan sát (Billings).

 

Và quan trọng hơn hết, Hôn nhân Công Giáo được gọi là Bí Tích Hôn nhân. Đây là một trong bảy Bí Tích do chính Thiên Chúa lập nên, vì thế, loài người không thể phá vỡ. Chính Đức Giêsu đã phán: “Vậy, sự gì Thiên Chúa đã kết hợp, loài người không được phân ly” (Mc 10, 9). Hai bên nam, nữ  thật tự do, thong dong không bị ép buộc được sự chứng giám của hai người chứng, và tuyên hứa sống chung thủy với nhau suốt đời, lúc đó một vị linh mục mới làm phép cho đôi bạn thành vợ, thành chông. Chính nhờ sự suy nghĩ thấu đáo, sự học hỏi căn kẽ, cùng những ràng buộc chặt chẽ như thế, nên hôn nhân Công Giáo ít bị đổ vỡ.

 

Với người Công Giáo để được đón nhận bí tích hôn phối, họ cần học hỏi giáo lý hôn nhân từ ba đến sáu tháng, có khi tới một năm. Vì thế phần trình bầy trên chỉ mang tính căn bản và khái quát.

 

Phần kết:

 

Thánh Công Đồng Vaticano II báo động cách đây 50 năm trong Hiến Chế Mục Vụ về Giáo hội trong thế giới ngày nay (Gaudium et spes) phần phẩm giá cao quí của hôn nhân gia đinh: “Phẩm giá của định chế hôn nhân không phải ở đâu cũng tỏa sáng, nhưng đã bị lu mờ bởi chế độ đa thê, nạn ly dị, bởi thứ tình yêu mà người ta gọi là tự do luyến ái và những hình thức lệch lạc khác. Hơn nữa tinh yêu hôn nhân rất thường bị hoen ố bởi tính ích kỷ, chủ trương duy khoái lạc và những lạm dụng bất hợp pháp trong việc hạn chế sinh sản. Ngoài ra các hoàn cảnh hiện tại về kinh tế, xã hội, tâm lý và chính trị đang gây ra những xáo trộn trầm trọng nơi gia đinh” (Công Đồng Vaticano II, Hiến Chế Mục Vụ về Giáo Hội)

 

Hiện tại, đã có nhiều nơi mà đạo đức suy thoái nghiêm trọng, bậc thang giá trị đang bị đảo lộn; nhiều nơi mà người ta quá chú tâm, đề cao, vật chất, sống thực dụng, bằng mọi thủ đoạn để có nhiều tiền bạc, có địa vị, có bằng cấp, mà bỏ qua hay coi nhẹ những giá trị tinh thần, nhân bản cao quí của con người; nhiều nơi mà đời sống gia đình đang có vấn đề lớn như ly dị, phá thai, hôn nhân đồng tính….Việc tìm hiểu để có một quan điểm đúng đắn trong vấn đề hôn nhân đã trở nên rất cần thiết hơn lúc nào hết cho mọi gia đinh, xã hội và nhân loại.

                                                                             

  Cursillista Inhaxio Đặng Phúc Minh

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Ngày còn bé, mỗi lần về quê ghé thăm ông cậu thì cảnh tượng quen thuộc đầu tiên đập vào mắt tôi là hai cái lồng chim cu treo lủng lẳng ở mái hiên nhà. Lồng bằng tre vót nhỏ rứt, bo tròn vành như quả bí, bọc vải bên ngoài kín đáo. Cứ một con gù gù, con lồng bên lại cất tiếng gáy như để hòa điệu, âm thanh trầm buồn. Buổi trưa vắng lặng, chợt nghe tiếng cu gáy êm êm dìu dặt, ai mà không cảm nhận lòng mình xuyến xao gợi nhớ mơ hồ đâu đâu, càng thêm yêu thương sự phóng khoáng, yên bình của đồng nội, hương quê… Người nuôi chim rành rẻ kinh nghiệm cho biết con nào có bộ lông xám thường gáy giọng thổ trầm, con lông nâu thì gáy giọng kim cao. Theo tập tính, chim cu trống cất giọng gáy hay để quyến rũ bạn tình hoặc khoe mẻ, thách thức với con trống khác.
Lúc ấu thơ, khi còn chưa biết rét là gì, tôi thường đi chơi trên những cánh đồng mùa đông. Lúa tháng mười vừa gặt xong, thửa ruộng cạn chỉ còn những gốc rạ trơ trụi. Từ gốc rạ ấy, những mầm lúa lại mọc lên xanh non, nếu để lâu chúng cũng kết bông trổ hạt, người ta gọi đó là lúa trau, có thể lùa trâu bò xuống ăn. Ngoài đồng, phân trâu bò được đắp thành những đụn tròn cao dần lên trên chừng nửa thước. Phân ủ trong đó rất ấm tỏa ra làn khói mờ. Đi cắt rạ lâu trên đồng, những ngón chân lạnh cóng đến mức không còn cảm giác gì, người ta phải hong chân trên nóc đống phân đó. Vài nhà nông tranh thủ cầy ải. Họ xới đất lật lên thành luống, để cho gió bấc hong khô đất, đợi sang xuân có nước về lùa những luống đất đó tan ra như bùn. Đôi khi người ta dùng vồ đập cho đất vỡ tan trước.
Tưởng nhớ người cha thân yêu Chính Thầy là sự sống và là sự sống, ai tin vào Thầy thì dù có chết cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào thấy thì sẽ không phải chết. (Gn 11, 25-26) Ngày 1-11 là ngày giỗ 4 năm của thầy (cha) chúng con là Linh hồn Phêrô Nguyễn Quang Đồng từ giã mọi người về với Chúa ngày 1-11-2016 . Kính xin Mẹ, anh chị em, cháu chắt bạn bè xa gần hiệp ý cầu nguyện cho Linh hồn Phê rô mau dược hưởng hạnh phúc trên nước trới. Amen. Thầy đã ra đi 4 năm rồi mà con không về được, con ao ước và mong muốn được về bên thầy thắp nén hương trầm. Con nhớ thầy nhiều lắm. Nguyễn Thị Đức
Trước khi dùng xú-chiêng như người phụ nữ Tây Phương, người phụ nữ Việt Nam đã biết dùng cái yếm để che kín bộ nhũ hoa. Nói như thế không có nghĩa là cái yếm chỉ có công dụng như cái xú-chiêng của người Tây Phương mà thực sự công dụng của nó còn rộng rãi hơn nhiều. Trong lúc cái xú-chiêng chỉ dùng để che kín và nâng đỡ bộ nhũ hoa thì cái yếm của người phụ nữ Việt Nam đôi khi còn có thể dùng thay thế cho cái áo cụt “ra đường đi đâu gần gần mà chỉ bận yếm thì cũng chẳng ai rầy” hoặc, hơn thế nữa, “mùa nóng nực những người làm việc khó nhọc chỉ mặc yếm che ngực, đủ kín đáo, không mặc áo”. Theo Lê Văn Đức và Lê Ngọc Trụ trong Tự Điển Việt Nam (q.I, trang 669) chiếc yếm được định nghĩa như sau: “Yếm: Miếng vải hình tam giác dùng che ngực" Cô kia mặc yếm hoa tằm, Chồng cô đi lính cô nằm với ai.
Cứ mỗi cuối Thu là sinh nhật tôi. Lòng chạnh nhớ một mùa Thu dĩ vãng. Sáng nay, sương mù lơ lững giăng giăng một sớm mai lành lạnh với làn gió khẽ lướt qua kéo theo chiếc lá vàng nhẹ rơi, hơi sương hôn lên mặt tôi lạnh giá. Ngày sinh nhật lại đến. Đã bao mùa Thu hạnh phúc. Đã bao mùa Thu lặng lẽ ngang trời. Đã bao mùa Thu đã chết. Bao lần tôi ngắm Thu qua. Từng ngày từng tháng từng năm trôi đi. Tôi đã sống bình yên trong sự an bày của số phận mặc cho lòng ...
Mẹ giờ đã già rồi nên hay lẫn lộn, mỗi lần tôi gọi điện đến, luôn sốt sốt sắng sắng hỏi một câu: Khi nào con về? Không chỉ cách xa hàng ngàn cây số, phải bắt tận 3 tuyến xe, mà công việc của tôi bận rộn đến nỗi có phân thân ra cũng không làm hết việc, còn lấy đâu ra thời gian mà về quê thăm mẹ. Tai của mẹ cũng lơ đễnh lắm rồi, tôi giải thích đi giải thích lại mà mẹ vẫn như không nghe được gì, vẫn hăm hở hỏi đi hỏi lại: “Khi nào con về?” Quá tam ba bận, cuối cùng tôi đã không giữ được kiên nhẫn nên phải nói như hét vào điện thoại, giờ thì mẹ chắc nghe rõ rồi, nên lặng lẽ không nói thêm gì mà cúp điện thoại. Vài ngày sau mẹ lại gọi điện hỏi tôi câu hỏi đó, chỉ là lần này giọng bà có vẻ ngượng ngùng, không còn tự tin nữa. Giống như một đứa trẻ không được giải hòa nên vẫn chưa cam tâm.
Bây giờ là tháng Tám. Tháng Tám là mùa Thu với hoa cúc vàng, với lá đỏ, với gió heo may và với trời se lạnh. Tháng Tám ở đây bây giờ cũng y như thế dù rằng không phải mùa Thu. Nắng đang trải đường đi. Vàng óng và ấm áp. Đây này, em ngồi bên cửa sổ (nhưng không có ai dựa tường hoa vì anh và vài người em yêu mến thì đã đi xa mất rồi) và ngắm nắng vàng trải đường đi này. Em vẫn có cái thú ngồi bên cửa sổ viết lách và ngắm cảnh bên ngoài vì con đường của em rất thanh bình và yên tĩnh anh ạ. Vào mùa hè, con đường rợp hoa phượng tím nữa cơ
Lê Anh Tuấn - Hàng ngày chúng ta vẫn sử dụng những thành ngữ quen thuộc do ông cha để lại trong khi nói chuyện hay viết lách. Tuy nhiên, có nhiều thành ngữ mặc dù thường xuyên sử dụng, nhưng câu gốc hay ý nghĩa của nó lại khác xa so với những gì ta nghĩ. Sau đây là một số những thành ngữ như vậy. Nghèo rớt mùng tơi Nhiều người vẫn nhầm tưởng mùng tơi ở đây là cây mùng tơi mà chúng ta vẫn thường nấu canh hay dậu mùng tơi trong thơ Nguyễn Bính.
"Ngày bố mẹ già đi, con hãy cố gắng kiên nhẫn và hiểu cho bố mẹ. Nếu như bố mẹ ăn uống rớt vung vãi... Nếu như bố mẹ gặp khó khăn ngay cả đến cái ăn cái mặc... Xin con hãy bao dung! Con hãy nhớ những ngày, giờ mà bố mẹ đã trải qua với con, để dạy cho con bao điều lúc thuở bé./post 14 Tháng Sáu 2013(Xem: 2522)/
Giờ đây, chúng đang ở nơi nào ? Trong những căn phòng ấm cúng, có thể chúng cũng lặp lại y hệt những cử chỉ của cha chúng ngày xưa, cũng tung con lên, đùa đùa giỡn giỡn… Hỡi những người con còn có trái tim, hãy đi và hãy đến những nơi gọi là “nhà già”, nơi chỉ có cặp mắt là sáng, còn mọi vật đều tối đen !/post 14 Tháng Sáu 2013(Xem: 2306) Chu tất Tiến/
Bảo Trợ