Võ Phiến, Một Tài Năng Lớn, Đã Ra Đi

29 Tháng Chín 201511:55 CH(Xem: 1432)

Nhà văn Võ Phiến (Đoàn Thế Nhơn) đã qua đời vào lúc 7 giờ tối Thứ Hai 28 tháng 9 năm 2015, thọ 90 tuổi.

Đó là một cái tang lớn không những đối với gia đình của ông mà còn đối với văn học Việt Nam nói chung: Một tài năng lớn đã ra đi.

Nhà văn Võ Phiến.

Nhà văn Võ Phiến.

Nếu hiểu nhà văn chuyên nghiệp là người dành toàn bộ thì giờ lao động cho việc viết lách và sống nhờ hẳn vào việc viết lách, tức là người coi việc viết lách như một nghề nghiệp theo cái nghĩa kinh tế học chúng ta thường dùng thì Võ Phiến chưa bao giờ là nhà văn chuyên nghiệp: suốt đời ông là công chức. Ở Việt Nam, ông làm công chức; sang Mỹ, ông cũng lại làm công chức. Viết lách, với ông, chỉ là nghề tay trái, đúng nghĩa tay trái: ông viết trong những ngày lễ, ngày nghỉ, viết giữa hai công việc trong sở, v.v... Vậy mà, nhìn lại số tác phẩm ông đã xuất bản, chúng ta không thể không kinh ngạc: hơn 40 đầu sách. Không phải ít. Chưa nói về chất lượng, chỉ kể số lượng, với hơn 40 đầu sách ấy, Võ Phiến rõ ràng là một trong những nhà văn có năng suất cao ở Việt Nam, không thua gì những người suốt đời sống bằng nghề cầm bút hay gần gũi với nghề cầm bút như dạy học hay quản lý các sinh hoạt văn học nghệ thuật, chẳng hạn.

Một đặc điểm nữa cũng cần chú ý: hơn 40 đầu sách ấy phân bố khá đều trong cuộc đời của Võ Phiến. Nghĩa là không có giai đoạn nào ông hoàn toàn bế tắc. Trong nước, ông viết khá đều. Di tản sang Mỹ, giữa lúc mọi người đang rã rời tuyệt vọng hoặc “qui ẩn” hẳn hoặc chỉ viết cầm chừng, uể oải, ông, một mặt hì hục đi làm kiếm sống, mặt khác vẫn viết, hết Thư gửi bạn (1976) đến Lại thư gửi bạn (1979), hết Ly hương (1977) lại đến Nguyên vẹn (1978). Nếu Thư gửi bạn là tập tuỳ bút đầu tiên thì Nguyên vẹn lại là quyển tiểu thuyết đầu tiên của Việt Nam ở hải ngoại sau cuộc đổi đời 1975.

Chưa hết. Từ năm 1990 trở lại đây, thời kỳ rất nhiều người coi là “khủng hoảng” của nền văn học Việt Nam tại hải ngoại với hiện tượng nổi bật là hầu hết những cây bút chủ lực, cả cũ lẫn mới, đều đâm ra mệt mỏi, ngọn lửa nhiệt tình cứ hiu hiu nguội dần, sức sáng tác ngày một thưa thớt, thì Võ Phiến, một trong những nhà văn cao niên nhất, sức khoẻ kém nhất, ngược lại, cứ lặng lẽ viết và in đều đều: năm 1991 hai quyển; năm 1992 hai quyển; năm 1993 ba quyển; năm 1994 nghỉ để năm 1995 in một lần bốn quyển kể cả một quyển vốn là tái bản nhưng có bổ sung bài viết mới: Truyện thật ngắn. Dường như Võ Phiến không hề bị ảnh hưởng bởi những dao động từ xung quanh. Ai cụt hứng: mặc; ai nghĩ là nhà văn mà rời khỏi đất nước tức là chấm dấu chấm hết cho sự nghiệp sáng tạo của mình: mặc; Võ Phiến cứ viết. Ngòi bút ông vẫn miệt mài, vẫn thuỷ chung với trang giấy.

Có thể nói, tại Việt Nam, Võ Phiến là một trong vài người hiếm hoi mà sự nghiệp cầm bút kéo dài cả đời. Thường, chỉ có một thời, thời hoa, sau đó là lá, có khi lá cũng héo quắt. Sau 1954, ở cả hai miền Nam và Bắc, hiếm có nhà văn, nhà thơ nào nổi tiếng trước 1945 còn giữ được nhịp độ và chất lượng sáng tác như cũ. Sau 1975, trong nền văn học tại hải ngoại, trừ Mai Thảo quay sang làm thơ và khá thành công trong lãnh vực thơ ca, và trừ Võ Phiến, tất cả những “đại thụ” tại Miền Nam lúc trước đều chỉ còn là vang bóng của một thời. Phần lớn họ tồn tại như những ông/bà thành hoàng trong đình, trong miễu chứ không phải như một nhà văn, nhà thơ đang cầm bút thực sự.

Vấn đề không phải là viết nhiều, viết đều. Vấn đề còn là ở chỗ: Võ Phiến bao giờ cũng song hành với thời đại. Về phương diện nghệ thuật, không lúc nào người ta coi ông là “mới”, thế nhưng, ngược lại, có điều oái oăm là: không lúc nào người ta thấy ông “cũ” cả. Văn chương Võ Phiến như đứng ngoài thời gian, bất chấp những trào lưu, những thị hiếu thời thượng của xã hội. Rồi cũng lại thú vị nữa hiện tượng: gần 70 tuổi, trong cảnh hưu trí, với Truyện thật ngắn (1991 và 1995) và Viết (1993), Võ Phiến lại là người tiên phong trong việc đặt ra vấn đề tìm tòi một cách viết mới cho... thế kỷ 21.

Hơn nữa, nhìn lại sự nghiệp của Võ Phiến như một tổng thể, chúng ta dễ phát hiện ra một điều: tính chất đa dạng. Lâu nay, nghĩ đến sự đa dạng trong tài năng của những người cầm bút, chúng ta thường chỉ nghĩ đến những người như Nguyễn Đình Thi ở Miền Bắc và Thanh Tâm Tuyền ở Miền Nam, những người vừa làm thơ hay vừa viết truyện hay, viết kịch hay, thỉnh thoảng viết lý luận, viết phê bình: cũng hay nữa. Chúng ta quên mất Võ Phiến: trừ kịch, ông tung hoành ngang dọc trong rất nhiều thể tài khác nhau, và trừ thơ, ở thể tài nào ông cũng đạt được những thành tựu xuất sắc, có khi hơn hẳn hai người vừa được nhắc.

Trong cuốn chuyên khảo Võ Phiến, xuất bản năm 1996, để nhấn mạnh vào đặc điểm nổi bật ấy của Võ Phiến, để xoá tan cái ngộ nhận phổ biến lâu nay chỉ quen nhìn Võ Phiến như một nhà tiểu thuyết hoặc một nhà tuỳ bút cũng như, quan trọng hơn, để cố gắng phác hoạ diện mạo văn học của Võ Phiến một cách tương đối đầy đủ, ít nhất trên những nét lớn, tôi đã giới thiệu Võ Phiến trong nhiều kích thước khác nhau: một nhà lý luận văn học, một nhà phê bình văn học, một nhà tạp luận, một nhà tuỳ bút, một người viết truyện (cả truyện dài lẫn truyện ngắn), và bao trùm lên tất cả là một phong cách văn học độc đáo, một niềm trăn trở không nguôi, lúc nào cũng khắc khoải đổi mới để theo kịp thời đại, người phần nào vượt qua những giới hạn của chủ nghĩa hiện đại để đối diện với những yếu tố mới trong thời hậu hiện đại.

Nhìn Võ Phiến từ nhiều khía cạnh khác nhau như vậy, tôi bỗng phát hiện một điều: một nhà văn lớn không những lớn mà còn giàu vô tận; mà không những giàu, họ còn có thể san sẻ sự giàu có của mình cho nhà phê bình: viết về họ thật thích, ngỡ như không bao giờ hết chuyện.

***

Chú thích: Đây nguyên là lời Dẫn nhập in trong cuốn Võ Phiến của tôi được nhà xuất bản Văn Nghệ tại California ấn hành vào năm 1996. Có sửa lại một ít.

* Blog của Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Đài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.


Nguyễn Hưng Quốc

Nhà phê bình văn học, nguyên chủ bút tạp chí Việt (1998-2001) và đồng chủ bút tờ báo mạng Tiền Vệ (http://tienve.org). Hiện là chủ nhiệm Ban Việt Học tại trường Đại Học Victoria, Úc. Đã xuất bản trên mười cuốn sách về văn học Việt Nam.
Theo VOA
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Trên cõi đời này, chắc hẳn không ai được sinh ra mà không do sự mang nặng đẻ đau của một bà Mẹ, người Mẹ thực sự là hiện thân của tình yêu thương, người Mẹ như là một tổ ấm, như là một cái nôi từ khi bào thai mới tượng hình trong lòng Mẹ./22 Tháng Tám 2013(Xem: 6491)/
Tôi lặng đứng trước ngôi mộ đơn sơ của một người thầy cũ, đúng ra là Linh mục Hiệu trưởng, nhưng bây giờ cái cảm tưởng một vị thầy, một vị Hiệu trưởng để lại ấn tượng trong lòng tôi nhiều hơn cả chức năng mục vụ Linh mục của thầy./10 Tháng Mười Một 2012(Xem: 4010)/
Lời nói “Ta yêu con” cứ vang mãi trong những bước chân nhịp nhàng đầy hy vọng. Hai bên đường những cánh đồng lúa chín vàng, mùa gặt đến! Hồn nhỏ với tâm tình yêu mến người chết trên giá gỗ, đã hòa nhập với dòng người lên đường gặt hái những vụ mùa trên đồng lúa bao la!/18 Tháng Tư 2014(Xem: 3873)/
Trong các cha xứ về ở làng Ba, Vinh Trung lâu nhất là Cha Phêrô Trần Đình Trọng, khoảng mười tám năm, từ năm 1967 cho đến khi ngài qua đời vào năm 1985. Lâu như vậy cũng có thể vì thời cuộc vào thời điểm đó, và cũng nhờ đó Cha Trần Đình Trọng đã để lại nhiều ký ức, nhiều kỷ niệm trong lòng giáo dân Vinh Trung cho đến tận bây giờ./05 Tháng Chín 2014(Xem: 5563) Đặng Xuân Hường/
Năm 1954, Duyên Anh di cư vào Nam. Để kiếm sống, ông đã làm mọi công việc của một thanh niên hè phố, chẳng có nghề ngỗng nào nhất định. Khi thì theo một nhóm sơn đông mãi võ, khi tháp tùng đoàn cải lương lưu diễn đây, mai đó./17 Tháng Năm 2012(Xem: 5357) Đoàn Thạch Hãn/
Nói đến ngôi trường làng, lớp trẻ bây giờ và có lẽ lớp tuổi trên dưới năm mươi ở Bình Giã mấy mươi năm trước, không ai là không một thời cắp sách đến ngôi trường làng. Cái tuổi hồn nhiên, ngây thơ được đến trường ê a học vài chữ thấy sao nhớ thương chi lạ! blank Có một bài hát ngắn của những năm đầu tiên đi học, chắc chẳng mấy ai quên : "A b c là ba chữ đầu. Ô ê kia đầu có nón che. Học cho chăm đừng có khóc nhè”! Cái thuở mà học trò cắp sách đến trường chỉ vỏn vẹn cuốn tập, lọ mực tím, cây bút. Cặp sách, bút pilot, alpha...hồi đó còn là một xa-xí phẩm đối với học trò. Cha mẹ lo cày cấy, thu hoạch chẳng được bao nhiêu, làm sao có thể có đủ tiền bạc để mua sắm những thứ tốn tiền đó. Có sách vở bút mực là đã tương đối đầy đủ rồi. Đi học trường Tiểu học, tay ôm mấy cuốn tập, tay xách lọ mực tím, và đi chân đất! Bây giờ mỗi lần nghe đến "mực tím" tưởng tượng thấy dễ thương, hồn nhiên và rất gợi nhớ tuổi học trò.
Tôi vừa đọc bài " Những đức tính Tốt và Xấu của người Việt " trên trang mạng tiengnoigiaodan.net của Ông Đào Văn Bình. Tôi rất vui và đắc ý vì ông Bình đã có cái nhìn " quy tư " về con Người chính mình và đồng bào mình./12 Tháng Năm 2012(Xem: 6195) Nguyễn Quang/
Mỗi lần về thăm quê cũ, tôi thường gặp lại những người quen với nhiều kỷ niệm xa xưa trong ký ức, trong quá khứ. Năm nay, trong chuyến về quê thêm một lần nữa, tôi chợt thấy xao động trong lòng khi gặp lại một người bạn thân quen từ hồi còn nhỏ xíu, nhưng cái kỷ niệm khó quên thuở ngày xưa vẫn nằm im trong tiềm thức tôi từ ngày ấy./18 Tháng Bảy 2012(Xem: 8720) /
Khi nói về lịch sử Việt Nam, người ta thường hay nhắc đến cụm từ “Việt Nam có bốn nghìn năm văn hiến” mà văn hiến là truyển thống văn hóa lâu đời. Người ta cũng nói đến hai chữ văn vật vốn là truyền thống văn hóa biểu hiện ở nhiều nhân tài và nhiều di tích lịch sử.../09 Tháng Sáu 20122:00 CH(Xem: 4568)/
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh ("Tây tiến", thơ Quang Dũng) Xa nhìn thấp thoáng trong mây muôn bóng quân Nam chập chùng... (1) Câu hát ấy, từ bao năm nay vẫn cứ theo tôi, theo tôi mãi. Câu chuyện bắt đầu tư những ngày xa xưa, thuở tôi còn là cậu học trò nhỏ vừa bước vào năm học đầu tiên của một trường trung học ở thành phố cao nguyên có cái biệt danh nghe buồn buồn là "Buồn-muôn-thuở". Cậu học trò ấy, vào mỗi sáng thứ Hai, cùng chúng bạn đứng xếp hàng ngay ngắn trước sân cờ nao nức chờ đợi phút giây được tham dự vào nghi thức thượng kỳ đầu tuần trong bầu không khí thật trang nghiêm giữa sân trường thuở ấy.
Bảo Trợ