Thế Giới Sau Năm 2001

15 Tháng Chín 20155:29 CH(Xem: 1193)

Trong lịch sử thế giới đương đại, cuộc tấn công của những người Hồi giáo cực đoan nhắm vào nước Mỹ vào ngày 11 tháng 9 năm 2001 có thể được xem là biến cố quan trọng nhất làm thay đổi diện mạo của cả thế giới.

blank

Chỉ cách đó đúng 10 năm, cả thế giới vui mừng chứng kiến sự sụp đổ của khối xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu, đánh dấu sự cáo chung của cuộc chiến tranh lạnh vốn kéo dài gần nửa thế kỷ. Trong cảm giác vui mừng ấy, mọi người đều nghĩ thế giới từ nay sẽ được sống trong hoà bình, mỗi nước chỉ lo tập trung vào việc phát triển kinh tế và hoàn thiện dần nền dân chủ trong nước mình để dân chúng được sống một cách êm ấm, tự do và dân chủ. Biến cố 11 tháng 9 làm tan vỡ những ảo tưởng ấy. Mọi người giật mình ngơ ngác nhận ra thế giới họ đang sống vẫn đầy những bất an. Người ta phát hiện ra một kẻ thù mới lúc nào cũng tìm cách khủng bố họ: những người Hồi giáo cực đoan.

Thật ra, không phải đến năm 2001, những người Hồi giáo cực đoan mới tìm cách tấn công Mỹ. Trong bài viết tưởng niệm 14 năm cuộc tấn công khủng bố nhắm vào Trung tâm Thương mại Quốc tế tại New York, ông Rudolph W. Giuliani, cựu Thị trưởng thành phố New York nhắc: những âm mưu khủng bố nhắm vào Mỹ của những lực lượng Hồi giáo đã bắt đầu từ lâu, từ những năm cuối thập niên 1970 với việc chính quyền Hồi giáo Iran bắt giữ người Mỹ làm con tin trong suốt 444 ngày, những vụ nổ bom nhắm vào toà Đại sứ Mỹ ở Kenya và Tanzania năm 1998 (làm 213 người chết, trong đó có 12 người Mỹ) hay ngay tại Trung tâm Thương mại Thế giới vào năm 1993 (làm 6 người chết và trên 1000 người bị thương). Có điều, tác hại của các cuộc khủng bố ấy được cho là không quá nghiêm trọng khiến mọi người, một mặt, không quá lo sợ; mặt khác, chỉ xem đó như những hành động quá khích của một số cá nhân điên khùng.

Cuộc tấn công ngày 11 tháng 9 năm 2001 khác hẳn. Khác ở quy mô: Nó khiến đến 3000 người bị thiệt mạng. Khác ở biểu tượng: hai toà nhà cao ngất tượng trưng cho sự giàu có và sự tự do của thế giới tư bản bị sụp đổ. Và khác ở tính chất: đằng sau vụ tấn công ấy là một tổ chức gắn liền với một tôn giáo có tính toàn cầu.

Chính những sự khác biệt ấy đã khiến chính phủ Mỹ phản ứng quyết liệt bằng hai cuộc chiến tranh họ khởi sự ở Afghanistan và ở Iraq cho đến bây giờ vẫn chưa kết thúc. Ngoài ra, chính phủ Mỹ cũng góp phần làm sụp đổ một chính quyền Hồi giáo cực đoan khác ở Libya. Song song với các cuộc chiến tranh ấy là một làn sóng dân chủ ồ ạt nổi lên ở một số nước Trung Đông và Bắc Phi, lật đổ bốn chính quyền độc tài ở Tunisia, Ai Cập, Libya và Yemen và làm lung lay nhiều quốc gia khác, từ Bahran, Algeria đến Syria, Jordan, Kuwait, Morocco và Sudan. Tuy nhiên, tất cả các biến động dữ dội ấy đều không mang lại an bình cho thế giới. Hết nhóm Hồi giáo cực đoan này bị tiêu diệt thì có một số nhóm cực đoan khác nổi dậy, có khi còn cực đoan và nguy hiểm hơn cả các nhóm trước. Thành ra khủng bố và chiến tranh vẫn treo lơ lửng trên đầu mọi người.

Chỉ có điều chiến tranh hiện nay khác hẳn các cuốc chiến tranh trước đó. Trước, trong nửa đầu thế kỷ 20, chiến tranh chủ yếu xuất phát từ xung đột về lãnh thổ, kinh tế và quyền lực giữa các quốc gia với hai đỉnh cao là chiến tranh thế giới lần thứ nhất và chiến tranh thế giới lần thứ hai. Từ năm 1945 trở về sau, trong cuộc chiến tranh lạnh, yếu tố chính gây ra xung đột là ý thức hệ với hai luồng chính: chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản. Từ năm 1990 trở đi, theo Samuel P. Hungtington, trong cuốn “Clash of Civilization” (1996), nguyên nhân chính gây ra chiến tranh trên thế giới là các xung đột về văn hoá, trong đó, quan trọng nhất là tôn giáo. Hungtington chia thế giới ra thành nhiều nền văn minh khác nhau, tuy nhiên, theo ông, mâu thuẫn gay gắt nhất là sự xung đột giữa văn minh Tây phương và văn minh ngoài Tây phương. Trong cái gọi là văn minh ngoài Tây phương ấy, nổi bật lên hẳn là văn minh Hồi giáo. Nói một cách tóm tắt, mâu thuẫn chính hiện nay là mâu thuẫn giữa Tây phương và Hồi giáo.

Lý thuyết của Hungtington bị nhiều người phê phán một cách gay gắt. Nhiều người cho Hungtington đơn giản hoá vấn đề: Trên thế giới hiện nay không có các nền văn hoá thuần nhất, tất cả đều tương tác, pha trộn và lai ghép lẫn nhau. Hầu hết các nền văn minh ngoài Tây phương, với những mức độ khác nhau, đều Tây phương hoá. Nhiều người đi xa hơn, cho đằng sau các luận điểm của Hungtington là chủ nghĩa kỳ thị chủng tộc, không khác thời thực dân trước đó: Xem Tây phương như là phần văn minh nhất trên thế giới, có nhiệm vụ khai sáng các nền văn minh phi-Tây phương khác.

Phê phán thì phê phán, nhưng càng ngày người ta càng thấy Hungtington nói đúng: Mâu thuẫn chính của thế giới hiện nay là mâu thuẫn giữa Tây phương và Hồi giáo, ít nhất là những thành phần Hồi giáo cực đoan. Mà những người theo Hồi giáo cực đoan cũng không hề giấu giếm điều đó: Họ tìm cách phá huỷ văn minh Tây phương càng nhiều càng tốt, giết hại người Tây phương càng nhiều càng tốt. Với họ, Tây phương, tiêu biểu nhất là Mỹ, là đối tượng chính để trả thù.

Cuộc chiến tranh dựa trên tôn giáo ít nhiều giống với các cuộc chiến tranh dựa trên ý thức hệ: Cả hai đều có tính cực đoan. Nhưng mức độ cực đoan trong tôn giáo sâu đậm hơn hẳn mức độ cực đoan trong ý thức hệ. Hình thức nổ bom tự sát để giết hại chính mình và những người chung quanh là hình ảnh tiêu biểu nhất của tính chất cực đoan ấy: Người ta không sợ chết vì tin tưởng sẽ nhận được một phần thưởng lớn lao nào đó ở thế giới bên kia.

Trong chiến tranh lạnh, kẻ thù của Tây phương là những quốc gia có biên giới và có chính phủ hẳn hòi; trong cuộc chiến hiện nay, phần lớn cái gọi là Hồi giáo cực đoan ấy không gắn liền với lãnh thổ nào cả: Họ ở khắp nơi, ngay trong chính các nước Tây phương. Bởi vậy, hầu như ở đâu cũng cảm nhận được sự đe doạ của họ. Mỹ bị đe doạ. Các quốc gia Âu châu cũng bị đe doạ. Ngay ở Úc, xa khuất và chơi vơi giữa đại dương mênh mông, cũng bị đe doạ.

Tuy nhiên, những đe doạ ấy không đủ làm bùng nổ chiến tranh lớn. Hoạt động của các nhóm Hồi giáo cực đoan chỉ tạo nên sự bất ổn trong xã hội Tây phương nhưng không đủ sức uy hiếp chủ quyền của bất cứ quốc gia nào ở Tây phương. Bởi vậy, một số nhà bình luận cho nguy cơ từ các lực lương Hồi giáo cực đoan ít nhiều bị phóng đại. Theo họ, nguy cơ thực sự đối với Tây phương đến từ một đối tượng khác: chủ nghĩa dân tộc. Trong cái gọi là chủ nghĩa dân tộc ấy, hai quốc gia tiềm ẩn nhiều nguy hiểm nhất là Nga và Trung Quốc. Trong khi Nga chỉ nguy hiểm đối với châu Âu, những nguy cơ đến từ Trung Quốc sẽ tác động, trước hết, đến Biển Đông, và ở Biển Đông, quốc gia bị ảnh hưởng trực tiếp nhất chính là Việt Nam.

Nói cách khác, nếu chủ nghĩa dân tộc tại Trung Quốc sẽ làm thay đổi bàn cờ chính trị trên thế giới, ít nhất là ở châu Á, nó sẽ làm thay đổi, trước hết, đến sự an nguy của Việt Nam. Bàn về chính trị thế giới cũng như Việt Nam trong hiện tại cũng như trong những năm sắp tới, không thể không lưu ý đến điều đó.

* Blog của Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Đài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.


Nguyễn Hưng Quốc

Nhà phê bình văn học, nguyên chủ bút tạp chí Việt (1998-2001) và đồng chủ bút tờ báo mạng Tiền Vệ (http://tienve.org). Hiện là chủ nhiệm Ban Việt Học tại trường Đại Học Victoria, Úc. Đã xuất bản trên mười cuốn sách về văn học Việt Nam.
Theo VOA
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Tốc độ tàu cao tốc 200-350 km/h trên toàn mạng lưới đường sắt cao tốc của Trung Quốc đã mang lại ấn tượng về sự phát triển đáng kinh ngạc trong vài thập kỷ qua. Tuy nhiên, mạng lưới đường sắt này không thành công như quảng cáo, nó đã trở thành ác mộng của nền kinh tế. Đáng tiếc là Trung Quốc đã kịp xuất khẩu ác mộng này sang Việt Nam 10 năm trước. Global Times đưa tin, mạng lưới đường sắt cao tốc của Trung Quốc có phạm vi khoảng 38.000 km và Bắc Kinh có kế hoạch sẽ mở rộng mạng lưới này lên quy mô 7 triệu km đến năm 2035. Năm 2008, chuyến tàu cao tốc đầu tiên đã xuất phát từ ga đường sắt Nam Bắc Kinh, ngày nay sau 13 năm, Trung Quốc đã thiết lập mạng lưới đường sắt cao tốc lớn nhất thế giới.
Cuộc diệt chủng của ĐCSTQ đối với Tây Tạng là lời cảnh tỉnh cho tất cả chúng ta Trong bài phát biểu đánh dấu 70 năm ĐCSTQ tiến quân vào và kiểm soát Tây Tạng, dù ông Uông Dương đã hết lời ca ngợi những thành tựu huy hoàng của ĐCSTQ tại Tây Tạng, ông Anders Corr lại nhận thấy những bằng chứng hiển nhiên về tội ác diệt chủng và nỗi ám ảnh của ĐCSTQ đối với việc phải hủy diệt tín ngưỡng và tôn giáo. Ở bài bình luận này, tác giả Corr sẽ phân tích và chỉ rõ ra những dấu hiệu và bằng chứng về tội ác của ĐCSTQ, thông qua phát biểu của ông Uông Dương.
Thống đốc bang California (Mỹ) vừa ban hành đạo luật gây xôn xao dư luận: ‘Cho phép trẻ vị thành niên phẫu thuật chuyển đổi giới tính hoặc phá thai mà không cần thông báo cho phụ huynh’. Liệu đây là một đạo luật cấp tiến, tự do hay sẽ tiếp tay cho tội ác và sự suy đồi về đạo đức? Trẻ được phá thai hoặc chuyển giới mà không cần thông báo cho phụ huynh Ngày 22/9 vừa qua, Thống đốc bang California, ông Gavin Newsom đã ban hành hai đạo luật cho phép trẻ vị thành niên có thể thực hiện một số thủ tục y tế như phẫu thuật chuyển đổi giới tính và phá thai mà không cần thông báo với phụ huynh. Một trong hai điều luật là AB-1184, trong đó cấm các công ty bảo hiểm sức khỏe yêu cầu có sự ủy quyền của cha mẹ, trước khi những đứa trẻ bắt đầu làm thủ tục cho các dịch vụ y tế.
Trong bối cảnh chính phủ Afghanistan sụp đổ, người Mỹ và những người Afghanistan làm việc cho Hoa Kỳ buộc phải sơ tán, người ta không khỏi băn khoăn rằng: Liệu điều tương tự có thể xảy ra ở những quốc gia mà Mỹ đang bảo trợ? Và có tác động như thế nào đối với Đài Loan và các đồng minh khác của Mỹ ở khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương?
Gần đây, dư luận dậy sóng trước tuyên bố của một vị giáo sư rằng học phí cấp đại học nên được coi là rào cản kỹ thuật cho đầu vào. Tư tưởng học phí giống như một khoản đầu tư [ở một số ngành nghề] vốn là tư tưởng được chấp thuận ở các nước có nền giáo dục tiến bộ, nhưng áp dụng tại Việt Nam thì dường như chưa hợp lý lắm. Tăng, giảm hay miễn phí giáo dục? Phát biểu tại diễn đàn Quốc hội sáng 25/7 vừa qua, GS Lê Quân (đại biểu Cà Mau) nói: “Chúng ta cũng phải đảm bảo rằng học phí cũng là một rào cản kỹ thuật để tránh việc học sinh lao vào học đại học và trở thành "học đại"", phải coi học phí đối với người học là nguồn đầu tư, thông lệ quốc tế học phí bao giờ cũng bằng gần hai năm tiền lương sau khi tốt nghiệp.
Liệu các cuộc tấn công mạng do Bắc Kinh hậu thuẫn gần đây nhắm vào Mỹ có dẫn đến chiến tranh thật? Đây là câu hỏi mà nhà kinh tế học người Mỹ David P. Goldman đã đặt ra gần đây. Một câu hỏi quan trọng, hiện hữu và rất khó trả lời. Tuy nhiên, vào tháng trước, Tổng thống Joe Biden đã cảnh báo rằng các cuộc tấn công mạng gần đây, bao gồm việc tấn công mạng các cơ quan chính phủ và cơ sở hạ tầng của Hoa Kỳ, rất có thể dẫn đến một “cuộc chiến nổ súng”. Ông Biden tiếp tục: “Tôi nghĩ có nhiều khả năng chúng ta sẽ kết thúc — à, nếu chúng ta có kết cục là một cuộc chiến, một cuộc chiến tranh thực sự với một cường quốc, thì đó sẽ là hậu quả của một tấn công mạng với hậu quả rất lớn”, "cường quốc" đó, tất nhiên, là Trung Quốc. Như ông Goldman lưu ý: "Nận xét của ông Biden được đưa ra trong một văn bản do văn phòng báo chí Tòa Bạch Ốc lưu hành", chúng không phải là sản phẩm của “loạn ngôn tự phát”. Không, họ đã cố tình.
Bệnh dịch lây lan trên toàn quốc là một mối đe dọa tiềm tàng đối với ĐCSTQ. Hiện tại, Delta đang điều khiển nhiều xã hội trên khắp thế giới, nhưng Trung Quốc dường như là nước duy nhất mà biến thể này có thể kết thúc nhiệm kỳ của nhóm cầm quyền. COVID-19 đang tàn phá Trung Quốc Biến thể Delta đang lan nhanh trên khắp đại lục và Bắc Kinh không có giải pháp nào mới ngoài các biện pháp vũ lực tàn bạo, độc tài toàn trị — và đổ lỗi cho người nước ngoài. Hàng triệu người dân Trung Quốc hiện đang bị phong tỏa. Các ca nhiễm gần đây tạo thành đợt bùng phát coronavirus trên diện rộng, thậm chí còn rộng hơn so với đợt bùng phát vào năm ngoái. Đợt bùng phát mới này đã nhanh chóng vượt ra ngoài tầm kiểm soát của các nhà chức trách và phá vỡ kế hoạch tuyên truyền cốt lõi của Đảng cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ).
Và nay nước Mỹ đang dần tiến vào một xã hội tự do cực tả, nơi xấu đã trở thành tốt và tốt đã trở thành xấu. Những điều tưởng chừng vô lý thì nay là hiện thực, ví như người nhập cư bất hợp pháp được ra vào tự do trên đất Mỹ, và được hưởng quyền “ưu đãi” hơn cả một công dân Mỹ “chính cống”... Khi những bậc lão thành vừa nhâm nhi cà phê vừa hồi tưởng lại quãng thời gian yên bình cách đây hơn nửa kỷ bằng câu mở đầu “muôn thuở”: “Hồi ấy, bố/mẹ ….”, thì bạn đừng than vãn: “Biết rồi, khổ lắm nói mãi”. Bởi nếu có cỗ máy thời gian cho phép bạn quay trở lại thời điểm cách nay hơn nửa thế kỷ, bạn có gật đầu không? Hơn nửa thế kỷ trước, sẽ không có Internet, không có smartphone, điện thì chập chờn và tất nhiên nếu nhà nào sở hữu một cái tivi đen trắng thì trở thành trung tâm "chiếu phim" cho cả cộng đồng.
Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) đã dựa vào hàng loạt lời nói dối về kinh tế để làm lung lay nhận thức của nhiều người về tình hình hiện tại. Trong bài viết này, chúng tôi xem xét một số lời nói dối lớn nhất và đưa ra bức tranh thực sự đằng sau những lời nói dối đó.
Trong 4 năm nhiệm kỳ của Tổng thống Trump, Big Media đã chế tạo ra bao nhiêu lời dối trá để bủa vây ông? Đã có bao nhiêu thông tin bị lật tẩy giúp công chúng được giải khai sự thật? Mời quý độc giả cùng NTD Việt Nam điểm lại 8 lời dối trá nổi bật nhất về ông Trump của Big Media, trong lúc chờ đợi các thông tin cập nhật từ các cuộc thanh tra kết quả bầu cử tại các tiểu bang Arizona và Georgia. Trong suốt 4 năm dẫn dắt nước Mỹ, cựu Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump đã đạt được rất nhiều thành tựu. Trong nước, ông Trump không chỉ lấp đầy nền sản xuất rỗng sau nhiều thập kỷ hoang phế, mang lại việc làm và sức tăng trưởng bền hơn cho nền kinh tế, ông còn khôi phục các giá trị truyền thống đang bị bào mòn, xâm lấn triệt để bởi tư tưởng cấp tiến như bảo vệ thai nhi.
Bảo Trợ