Trẻ Mồ Côi Việt Nam: Đói Nghèo Và Hy Vọng

09 Tháng Chín 201511:02 SA(Xem: 831)

Cuộc sống ở một trong những trại trẻ mồ côi ở vùng cao Việt Nam thường là khởi đầu chu kỳ luẩn quẩn của cái đói, cái nghèo, nhà báo tự do Matthew Clayfield viết.



Chúng tôi đi một chặng đường núi dài và hiểm trở đầy sương mù để tới Tây Nguyên,Việt Nam, và đột nhiên cảm thấy hoa mắt, chóng mặt khi ở độ cao hơn 600 mét.

Chỉ khoảng một lúc trước, chúng tôi ở vùng đồng bằng ven biển với cái nóng ngột ngạt và những cánh đồng lúa bất tận.

Nhìn ra ngoài cửa sổ chiếc xe taxi thuê được với giá rẻ bất ngờ, chúng tôi thấy xung quanh mình là những đám mây.

Một đàn trâu xuất hiện trong sương mờ và nhìn chúng tôi với ánh mắt thờ ơ.

Chúng tôi đang trên đường đến thị trấn Kon Tum, một tỉnh lỵ Việt Nam giáp với Lào và Campuchia, nơi trong hai ngày tiếp theo, chúng tôi sẽ thăm trại Mồ côi Vĩnh Sơn 4, một trong sáu cô nhi viện ở khu vực này.

Trại Mồ côi  Vĩnh Sơn dành riêng cho người dân tộc thiểu số Ba-na, dân tộc có dân số lớn thứ thứ ba trong sáu nhóm dân tộc của vùng cao nguyên.

Cô nhi viện là nơi sinh sống của 157 trẻ em và được điều hành bởi năm bà xơ cùng một số  tình nguyện viên luân phiên hỗ trợ.

Chúng tôi mang đến cho lũ trẻ một vài túi quần áo cũ và 100 kg gạo.

Số gạo chỉ đủ cho bọn trẻ ăn trong một vài ngày, nghĩa là không thể đủ trong thời gian dài.

Người dân miền núi Việt Nam được gọi bằng nhiều tên khác nhau.

Người Pháp gọi họ là người Thượng, hoặc người leo núi, một thuật ngữ vẫn được sử dụng phổ biến hiện nay.

Họ tự gọi mình là Degar, nghĩa là con của núi rừng.

Trong cuốn sách ‘A Dragon Apparent: Travels in Cambodia, Laos and Vietnam’ xuất bản năm 1951, tác giả Norman Lewis vô tình gọi họ lạ 'mọi', hay man rợ, một từ có ý miệt thị trong tiếng Việt,  - một sai lầm tôi đã may mắn chỉ mắc phải khi quá cảnh, rất lâu trước khi chúng tôi gặp những người đón tiếp chúng tôi ở đây.

Khi tôi hỏi các bạn đồng hành người Việt và người Mỹ liệu người Ba-na có phải là một nhóm nhỏ của tộc người 'mọi', họ nhìn tôi như thể tôi là một kẻ phân biệt chủng tộc thâm căn cố đế và kiên nhẫn giải thích lời nói hớ hênh của tôi.

Với những người đã trải qua rất nhiều khó khăn - bị đẩy vào sống trong núi sau những cuộc xâm lược liên tiếp của người Chăm và người Việt, bị bắt bớ vì đứng về phía Hoa Kỳ trong chiến tranh Việt Nam, và bây giờ, đối với nhiều người, bị bỏ rơi bởi gia đình do kinh tế eo hẹp – chúng ta không nên xúc phạm họ.

Chúng tôi đến trại trẻ mồ côi trong khi giờ học đang diễn ra, hoặc ít nhất bề ngoài là như vậy.

Với mỗi em ngồi tựa tay trên một cuốn sách giáo khoa toán học thì có tới vài em đang chạy bên ngoài. Trường của Việt Nam đang trong thời gian nghỉ hè và giáo viên địa phương làm tình nguyện trong thời gian chuyển tiếp năm học.

Các lớp học rất thô sơ, giống như các trường học ở các nước đang phát triển và bán phát triển khác.

Sân chơi không phải là sân đất mà được lát bê tông.

Lớp sơn trước đây sáng sủa đang tróc ra từng mảng và tượng Chúa Giêsu vẫn được bọc một lớp ni-lông gắn trên cây thánh giá.

Những tấm nệm chỉ dày một vài phân và các phòng tắm không khá hơn phòng tắm trong nhà tù.

Hôm đó là ngày giặt giũ và quần áo trẻ em phơi trên sân chơi.

Những đống gạch nằm rải rác khắp mọi nơi, tường hoặc đường đi vẫn đang đang làm dở dang, một đội công nhân từ thị trấn đang dần hoàn thiện công trình này.

Tôi nhớ tới ký túc xá dành cho những người di cư bị thương tới từ Trung Mỹ khi tôi đến thăm ở Mexico năm năm trước và cơ sở cho trẻ mồ côi nhiễm AIDS ở Swaziland, nơi tôi tới hồi năm ngoái.

Trại Mồ côi Vinh Sơn 4 đã nỗ lực hết mình để có thể tự duy trì hoạt động.

Bên kia suối, phía sau trại mồ côi, bọn trẻ nuôi lợn để mang ra chợ bán, nướng bánh mì mang vào bán ở thị trấn và trồng cây cao su.

Trại mồ côi có một khu đất rộng 10 hecta, cách đó một giờ đi lại, được điều hành bởi một trong các nữ tu và một nhóm trẻ lớn tuổi hơn.

Trại mồ côi có kế hoạch sắp tới sẽ nuôi gia súc và trồng ngô ở khu đất này.

Khi được hỏi về hy vọng cho các trại trẻ mồ côi, người sáng lập trại, xơ Augustine y Liêng nói về sự phát triển khiêm tốn trong tương lai.

"Chúng tôi muốn mua thêm gia súc, và tăng thu nhập theo cách đó," xơ nói.

Nếu năm nào được mùa, trang trại của trại trẻ mồ côi thu được khoảng 50 triệu đồng, (khoảng 2800 đô-la Úc), nhưng vẫn chỉ đủ chi dùng trong năm tháng.

Trại nhận được một số khoản đóng góp như chúng tôi giúp đỡ, nhưng không nhiều: trại trẻ mồ côi cần khoảng 1.200 kg gạo mỗi tháng, hầu hết là mua chịu.

Những món quà không thường xuyên như thực phẩm đóng hộp và mì gói, mặc dù rất quý, không thể giải quyết sự thiếu hụt trong dài hạn.

Giáo hội Công giáo đóng góp những gì có thể, nhưng không phải là nhiều.

Con lợn đầu tiên của trại trẻ mồ côi được mua bằng tiền Xơ Augustine vay mượn của người thân ở thành phố Hồ Chí Minh.

Người nữ tu 58 tuổi, người dân tộc Sedang, thành lập trại trẻ mồ côi này vào năm 1999 sau khi gặp Đức Mẹ Đồng Trinh Maria trong một giấc mơ.

Ngoài cuộc gặp gỡ tâm linh đó, bà cũng có những lý do cá nhân để làm việc thiện.

"Gia đình của tôi rất nghèo, làm nghề nông như nhiều gia đình của các em nhỏ," bà nói.

"Nông dân ở khu vực này có rất ít cơ hội. Tôi mở lòng giúp đỡ những người khốn khổ như chúng tôi trước đây. "

Vào buổi trưa, các em về trại ăn trưa.

Hầu hết buổi sáng, thức ăn được nấu trên những bếp củi nhỏ trong khu vực nhà bếp thô sơ và bây giờ là một nhóm trẻ 10 tuổi đang phân phát cá mòi chiên, cháo và cơm ở những chiếc bàn kê ngoài trời, nơi trẻ mồ côi ngồi ăn.

Những trẻ mới đến, chưa đầy năm tuổi, bị lườm với ánh mắt khó chịu, được những đứa trẻ lớn hơn vài tuổi dẫn vào chỗ ngồi ăn.

Chúng cầu nguyện trước khi ngồi vào chỗ.

Khi dùng xong bữa, bọn trẻ tự rửa bát và về phòng nghỉ ngơi.

Chỉ có một em ăn với người lớn.

Đó là Long, một cậu bé bảy tuổi, nhưng trông bề ngoài chỉ khoảng bốn tuổi.

Long được Xơ Bernadine y Vân giám hộ. Xơ đã chăm sóc Long như con riêng từ khi mới ba ngày tuổi.

Mẹ Long đã chết khi sinh con và cậu bé suýt bị chôn sống với mẹ.

Xơ Bernadine, 32 tuổi, nhận được tin và đã nhanh chóng can thiệp.

Giống như nhiều trẻ em ở đây, Long có tất cả các dấu hiệu của chứng rối loạn phản ứng gắn bó. Cậu rõ ràng thể hiện sự khó chịu trong người vì không được gần người mẹ duy nhất mà cậu từng biết.

Hiếm thấy một đứa trẻ bảy tuổi thích ngồi trên lòng người khác, dù rằng có thể nó nghiện các trò chơi trên iPhone của Xơ Bernadine.

Trong một bữa trưa với thịt lợn kho, trứng chiên và cơm, Xơ Bernadine và đầu bếp của trại trẻ mồ côi, xơ Levi y Pheng, thảo luận về sự hỗ trợ của chính phủ cho các trại trẻ mồ côi.

Ngoài học phí cho mỗi đứa trẻ khoảng 15 đô-la cho 9 tháng và đất nông nghiệp được giao cho trẻ, hầu như chúng không nhận được khoản hỗ trợ nào khác.

Mặc dù vậy, chính phủ vẫn kiểm tra và kiểm toán cả những khoản đóng góp và thu nhập của trại trẻ.

Các ni cô rất thận trọng không muốn nói quá nhiều về việc này.

Họ lo lắng nếu chỉ trích chính phủ thì sẽ gặp phiền toái.

Bạn đồng hành người Mỹ của tôi khuyên họ nên gian lận sổ sách và các nữ tu tỏ vẻ rất lo sợ.

Khi chúng tôi rời khỏi trại trẻ mồ côi, một linh mục thực tập sinh từ Thành phố Hồ Chí Minh đang cắt tóc cho một cậu bé ở trong sân.

Mặc dù trời đầy mây u ám, một nhóm nhỏ tụ tập xem vị linh mục trẻ cắt tóc. Cậu bé rõ ràng không cảm thấy thoải mái khi bị mọi người chú ý. Xơ Augustine cho biết trẻ mới đến thường mất khoảng từ hai đến sáu tháng để làm quen với môi trường xung quanh, nhưng tại thời điểm này thì nỗi buồn của cậu bé bảy tuổi này vẫn chưa thể vơi.

Chúng tôi trở lại vào sáng sớm hôm sau để xem các em đi lễ nhà thờ.

Chủ nhật là ngày duy nhất những chiếc bánh mì được làm từ lò nướng tạm của trại trẻ mồ côi, nơi thường sản xuất 300 chiếc bánh mì ngọt mỗi ngày, không được bán cho khách hàng trong thị trấn, mà thay vào đó là dành cho bọn trẻ ăn để đi chặng đường  bảy cây số tới dự lễ nhà thờ.

Những đứa trẻ lớn tuổi đi xe đẩy hoặc đi bộ, tạo thành một hàng dài dọc theo con đường nứt nẻ trong khu vực, trong khi những đứa nhỏ hơn được chở tới nhà thờ trên thùng xe tải của đồn điền cao su.

Các linh mục học việc chở chúng tôi bằng xe tay ga.

Quan sát bọn trẻ tới nhà thờ - một tòa nhà kết hợp giữa kiến trúc của đạo Công giáo với kiến trúc bản địa có mái dốc và cao - những người bạn đồng hành của tôi cảm thấy rất vui.

Ngoài việc cung cấp quần áo và gạo, chúng tôi có một lý do khác để được tới đây: những người bạn Mỹ của tôi mong muốn nhận con nuôi.

Họ kể lại quá trình đầy gian khổ và phức tạp do những vấn đề liên quan tới đạo đức.

Năm 2008, Hoa Kỳ cấm nhận con nuôi từ Việt Nam sau khi có cáo buộc về hành vi buôn bán trẻ em và các trường hợp trẻ em được cho làm con nuôi mà không được sự đồng ý của cha mẹ đẻ.

Lệnh cấm được dỡ bỏ vào cuối năm ngoái, nhưng không phải không có điều kiện: Hiện tại, người Mỹ có thể nhận con nuôi thông qua hai cơ quan cấp phép, nhưng chỉ giới hạn với trẻ em có nhu cầu đặc biệt và những trẻ trên năm tuổi.

Việt Nam cũng là một trong một số những quốc gia Chính phủ Liên bang Úc mong muốn ký thỏa thuận nhận con nuôi, mặc dù những ông bố bà mẹ tương lai phải đối mặt với nhiều rào cản - đặc biệt là thời gian chờ đợi dài khiến nhiều người nản lòng.

Đồng thời, những người chỉ trích về các động thái gần đây của Úc, trong đó có Patricia Fronek từ Đại học Griffith, tranh luận rằng động thái nhận con nuôi dễ dàng hơn "bỏ qua xung đột lợi ích và mối quan tâm đạo đức khác, biến các bậc cha mẹ tương lai thành những khách hàng và các cơ quan môi giới nhận con nuôi trong nước phải chịu nhiều áp lực rủi ro".

Về phần mình, các nữ tu không tiếp xúc với bất cứ tổ chức nhận con nuôi nào, dù tổ chức đó được cấp phép hay không.

Tôi hỏi việc nhận con nuôi có ý nghĩa thế nào đối với các em chúng tôi đã gặp ở đây.

Câu trả lời không phải màu hồng.

Những đứa trẻ vẫn ở trong hệ thống trại trẻ mồ côi cho đến khi 18 tuổi, Xơ Augustine cho biết, trừ khi họ kết hôn trước, trong trường hợp đó, họ được độc lập.

Những người học tốt ở trường có thể tiếp tục học lên cao hơn, thường là với sự hỗ trợ của tổ chức từ thiện hoặc các nhà tài trợ cá nhân, mặc dù số này không đáng kể.

Trong khi một số trẻ sẽ vào nhà thờ - chính xơ Levi cũng là một đứa trẻ mồ côi trước khi thành nữ tu - hầu hết trẻ khác lớn lên trở thành nông dân như các ông bố bà mẹ đã bỏ rơi chúng.


Kết quả là một vòng luẩn quẩn mà Xơ Augustine cho rằng "khiến cô cảm thấy trái tim tan vỡ ".

“Những đứa trẻ sinh ra và lớn lên ở đây thường trở lại khi chúng trưởng thành. Chúng xin thức ăn hoặc việc làm hay tiền bạc, " bà nói nói.

"Rồi họ có con nhưng không thể chăm sóc chúng và đôi khi lại bỏ chúng ở đây với chúng tôi. Tôi luôn luôn lo lắng về tương lai. "

Khi chúng tôi chuẩn bị rời khỏi trại trẻ mồ côi, chúng tôi tự hỏi điều gì sẽ xảy ra với những đứa trẻ này.

Chúng tôi nhảy lên xe và vẫy tay chào các nữ tu - và Long  ữa - khi xe lên đường cao tốc và trở về vùng ven biển.

Cánh cửa quay vòng của Trại Mồ côi Vinh Sơn 4 tiếp tục xoay phía sau chúng tôi.

Theo Radioaustralia.net

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Theo ông Phúc, cái tinh thần quốc tế cộng sản nó quá lớn trong thời kỳ chiến tranh lạnh. Các lãnh đạo Việt Nam lúc bấy giờ ảo tưởng, cả tin về người đồng chí cộng sản của mình để phải ngậm đắng nuốt cay ngày hôm nay, khi mà Trung Quốc tuyên bố cái gọi là Tây Sa, Tam Sa là của Trung Quốc. Họ đưa ra rất nhiều dẫn chứng là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã đồng ý trước năm 1975.
“Ở Việt Nam không có các tổ chức tư nhân, không có các hội đoàn tư nhân, mà mọi hội đoàn muốn thành lập đều phải được nhà nước cấp phép. Nhà nước cho phép hoạt động thì cũng sẽ phải cấp ngân sách cho nó. Cho nên, gần đây có rất nhiều ý kiến cho rằng cần phải có luật lập hội. Hiện nay luật lập Hội vẫn chưa có. Và khi đã có luật lập hội thì cá nhân có thể lập hội và hoạt động theo luật pháp, và đương nhiên là nhà nước không phải trợ cấp tiền cho họ, phải tự tạo ra chi phí của mình một cách hợp pháp. Phải để cho các hội đoàn tự tìm cách gây quỹ tạo kinh phí để hoạt động, nhà nước không nên cấp tiền.”
Tiếp tục tuyên truyền, vận động cộng đồng dân cư thay đổi thói quen, tập quán, thay vì mai táng, chuyển sang hỏa táng... nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường, tiết kiệm đất, chi phí... Kêu gọi vừa nêu được Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Việt Nam và Bộ Tài nguyên và Môi trường (TNMT) đưa ra tại Hội nghị công tác bảo vệ môi trường giai đoạn 2021-2025.
Một trong những nội dung quan trọng được Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng nêu lên tại Hội nghị ngành Kế hoạch và Đầu tư trong năm 2021 là cần có cơ chế khuyến khích để huy động nguồn lực trong dân, nhất là vàng, ngoại tệ, như vay tương đương vốn ODA. Xin được nhắc lại nguồn vốn ODA (Official Development Assistance) là một hình thức đầu tư nước ngoài với các khoản cho vay không lãi suất hoặc lãi suất thấp với thời gian vay dài.
Bạn trẻ Đăng Quang hối hả hòa vào dòng người đông đúc ở Sài Gòn, sau ngày làm việc cuối cùng của năm 2020 để kịp về nhà đón phút giao mùa mừng năm mới 2021. Chia sẻ với RFA mà không mất thời gian suy nghĩ khi chúng tôi liên lạc, Đăng Quang nói rằng bạn có ước vọng tất cả mọi người trên toàn thế giới được sức khỏe và cơn đại dịch COVID-19 được khống chế trong năm 2021. Đăng Quang tâm tình rằng dù cuộc sống gặp không ít khó khăn do dịch COVID-19 gây ra, nhưng bạn thấy mình may mắn vì vẫn còn được nói, cười, nhìn thấy được người thân
Hôm 30 tháng 12 năm 2020, báo chí Nhà nước Việt Nam đồng loạt đưa thông tin về phương án nhân sự Ủy viên Bộ Chính trị là Tổng bí thư, Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Quốc hội, Thường trực Ban Bí thư chưa công khai là loại thông tin "Tuyệt mật". Thông tin này được loan dựa trên Quyết định 1722/QĐ-TTg Về việc ban hành danh mục bí mật Nhà nước của Đảng do Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc ký ban hành ngày 3 tháng 11 năm 2020. Ngoài thông tin về an ninh, quốc phòng hay công tác đối ngoại, đối nội của đảng thuộc loại Tuyệt mật, môt số thông tin về nhân sự hay kỷ luật nhân sự trong đảng cũng thuộc loại Tuyệt mật.
Tại Hà Nội vào đầu năm nay, một người phụ nữ có xuất thân nghèo khổ phải đi đến một quyết định dù cuộc sống của cô phải chịu đảo lộn. Hoàn cảnh khó khăn, chồng đau ốm, bản thân cô còn phải lo cho cha mẹ già và con nhỏ. Trong khi đó không có, nên cô đã quyết định sang Đài Loan lao động. Ngày 28 tháng 5, cô bước vào phòng khám sức khỏe để xin giấy chứng nhận; đây là một điều kiện trong quy trình làm thủ tục đi lao động ở nước ngoài. Với kết quả tốt, ngày 4 tháng 9 cô đã lên máy bay, xuất cảnh sang Đài Bắc và không lâu sau đó, bắt đầu làm việc để gửi tiền về nuôi gia đình ở quê nhà.
Hơn 3 tháng sau khi một số bị cáo trong phiên tòa xét xử người dân xã Đồng Tâm đã được giảm án và trả tự do, những người này cho biết đến nay vẫn bị ám ảnh, hoảng loạn, mất ngủ bởi những gì họ trải qua trong lúc bị tạm giam. Bà Lê Thị Oanh, một người dân Đồng Tâm, chia sẻ với Đài Á Châu Tự Do hôm 20 tháng 12. “Sau phiên sơ thẩm thì 14 người được về. Khi họ về họ bảo, họ không giám nói. Người dân ra đón ở đầu làng đêm hôm sau phiên tòa sơ thẩm thì ai cũng nói là không bị đánh, không bị làm sao cả”.
Một trong những phiên tòa xét xử giới chức lãnh đạo cấp cao ở Việt Nam trong năm 2020, được dư luận trong và ngoài nước quan tâm nhiều có thể nói là trường hợp cựu Chủ tịch thành phố Hà Nội, ông Nguyễn Đức Chung. Ông bị đưa ra xử theo cáo buộc “Chiếm đoạt tài liệu bí mật nhà nước”. Cựu Thiếu tướng Nguyễn Đức Chung bị khởi tố và bắt giam hồi cuối tháng 8 và phiên xử được tiến hành vào trung tuần tháng 12.
Tám Dân biểu Mỹ hôm 18/12 kêu gọi gọi Bộ Ngoại giao và Tài chính Mỹ thực hiện các chế tài cấm vận của Đạo luật Magnitsky toàn cầu đối với những công an Hà Tĩnh, những người đã tra tấn nhà báo Nguyễn Văn Hoá, người bị kết án tù 7 năm với cáo buộc tuyên truyền chống nhà nước trong phiên toà năm 2017. Nguyễn Văn Hoá là cộng tác viên của Đài Á Châu Tự Do (RFA). Vào tháng 11 năm 2016, Hoá đã bị an ninh đánh đập, tịch thu thiết bị khi đang làm việc cho RFA. Khi bị giam giữ, Hoá lại bị tra tấn, ép phải ký biên bản hỏi cung.
Bảo Trợ