Giải Đáp Phụng Vụ: Đặt Tên Các Tổng Lãnh Thiên Thần

04 Tháng Chín 20152:12 SA(Xem: 2695)

Giải đáp phụng vụ: Đặt tên các Tổng lãnh Thiên thần
micae

Giải đáp của Cha Edward McNamara, Dòng Đạo Binh Chúa Kitô (LC), Khoa trưởng Thần học và giáo sư phụng vụ của Đại học Regina Apostolorum (Nữ Vương các Thánh Tông Đồ), Rôma. Hỏi: Tại Philippines, có một lòng sùng mộ ngày càng gia tăng cho bảy Tổng lãnh Thiên thần với các hình ảnh và tên tương ứng cho bốn vị còn lại, ngoài các Tổng lãnh Thiên thần Michael (Mi-ca-e), Gabriel (Gáp-ri-en) và Raphael (Ra-pha-en). Tài liệu Hướng dẫn về lòng đạo đức bình dân và phụng vụ (2001) của Bộ Phụng Tự và Kỷ Luật Bí Tích, số 217, mục 2, nói rõ: "Việc thực hành đặt tên cho các Thiên Thần không được khuyến khích, ngoại trừ trong trường hợp của các Tổng lãnh Thiên thần Gabriel, Raphael và Michael đã có tên trong Thánh Kinh". Tuy nhiên, điều này dường như bị vi phạm rõ ràng khi trong nhiều cửa hàng tranh tượng Công Giáo, các hình ảnh, sách kinh dành kính riêng cho các vị Uriel, Barachiel, Sealtiel và Judiel đang được bán, và các linh mục được xin làm phép các ảnh tượng ấy. Hơn nữa, có các nhà tĩnh tâm Công Giáo, trung tâm tâm linh và các nghĩa trang Công Giáo được đặt tên theo các vị thiên thần ấy, hoặc danh tánh và hình ảnh của các vị ấy là một phần của nơi trong nhà thờ dành cho sự sùng mộ của tín hữu. Chúng con tự hỏi liệu sự sùng mộ ấy với bảy Tổng lãnh Thiên thần cùng với tên và hình ảnh của các vị là hợp pháp về giáo lý không, và đã được phê duyệt ở cấp huấn quyền Giáo Hội chính thức không, bởi vì có nhiều linh mục cổ vũ việc này trong bài giảng của các ngài và trong sự sùng mộ ở giáo xứ. - W. F. C., Manila, Philippines.

Đáp: Bản văn chính xác được bạn đọc trên nhắc tới là:

"Tuy nhiên, sự sùng mộ bình dân đối với các Thiên thần, vốn là hợp pháp và tốt lành, có thể làm phát sinh các lệch lạc có thể có:

"khi, như đôi khi đã xảy ra, các tín hữu thuận theo ý tưởng rằng thế giới là đối tượng cho các đấu tranh của bán thần, hoặc một cuộc chiến không ngừng giữa thần tốt và thần dữ, hay Thiên thần và ác quỷ, mà trong đó con người ở lại với lòng thương xót của lực lượng mạnh hơn và bất lực với lực lượng ấy; vũ trụ luận đó ít có tương quan với tầm nhìn đích thực của Tin Mừng về chiến thắng Ma quỷ, vốn đòi hỏi sự cam kết đạo đức, một tùy chọn cơ bản cho Tin Mừng, sự khiêm nhường và cầu nguyện;

"khi các sự kiện hàng ngày của cuộc sống, vốn không có hoặc ít có tương quan với sự tiến bộ dần dà của chúng ta trên hành trình tiến về Chúa Kitô, được đọc cách sơ sài hoặc cách đơn giản, thậm chí như trẻ con, để gán mọi thất bại cho Ma quỷ và mọi thành công cho các Thiên thần hộ thủ. Việc thực hành đặt tên cho các Thiên Thần không được khuyến khích, ngoại trừ trong trường hợp của các Tổng lãnh Thiên thần Gabriel, Raphael và Michael đã có tên trong Thánh Kinh”.

Truyền thống Công Giáo Rôma thường không đề cập đến tên của bảy Tổng lãnh Thiên thần hay thậm chí nhấn mạnh nhiều đến con số bảy này. Đúng là Tobia 12,15 đề cập đến bảy thiên sứ luôn hầu cận và vào chầu trước nhan vinh hiển của Đức Chúa, và Khải Huyền 8,2 đề cập đến bảy thiên thần đứng chầu trước nhan Thiên Chúa, nhưng các văn bản này đã không ảnh hưởng đến đạo Công Giáo Latinh nhiều. Mặt khác, đã có sự sùng mộ liên tục và tuyệt vời đối với ba Tổng lãnh Thiên thần được nêu tên trong Thánh Kinh, đó là Michael, Gabriel và Raphael, cũng như các thiên thần hộ thủ.

Tuy nhiên, một số nhánh của Chính thống giáo Đông phương sùng mộ bảy Tổng lãnh Thiên thần, mặc dù nhiều chỉ nhánh chỉ nêu thêm tên Uriel như một Tổng lãnh Thiên thần có tên. Truyền thống Anh giáo cũng có lời nguyện với Uriel như một Tổng lãnh Thiên thần thứ tư.

Các nguồn của các tên khác là tác phẩm Do Thái ngụy thư, vốn không tạo nên một phần của Kinh Thánh. Các tên này được tìm thấy trong Sách 1 Enoch và một danh sách khác trong cái gọi là Sách 2 (hoặc Sách 4) Esdras. Các danh sách này không luôn đồng ý với nhau, mặc dù tên Uriel là tương đối ổn định. Các tên khác gồm có Raguel, Sariel, Jeremiel, Jehudiel, Barachiel, Gabuthelon, Beburos, Zebuleon, Aker và Arphugitonos. Một số các tên này có thể là biến thái trong cách đọc cùng một tên, nhưng các tên khác là như nhau cho một số sách. Các sách trên và các sách tương tự được viết bởi nhà văn Do Thái trong giai đoạn giữa Cựu Ước và Tân Ước, hoặc thậm chí sau nhiều phần của Tân Ước đã được viết, sau cuộc tàn phá thành Giêrusalem vào năm 70.

Các tên tương tự được đề cập bởi Pseudo-Dionysius (cuối thế kỷ thứ năm đến đầu thế kỷ thứ sáu) và Thánh Giáo Hoàng Grêgôriô I (540-604).

Đối với việc đặt tên các thiên thần, Giáo Hội Latinh đã luôn cảnh giác phần nào. Trong một nghị hội hoặc công đồng tổ chức tại Rôma năm 745, Thánh Giáo Hoàng Zachary đã tìm cách kiềm chế một xu hướng tôn sùng các Thiên thần, và cấm sử dụng các tên không được tìm thấy trong Kinh Thánh.

Một bản văn miêu tả nghị hội (hoặc công đồng) này được ghi lại trong Tập XII của bộ "Annali Ecclesiastici" của Đức Hồng Y Cesare Baronio (xuất bản năm 1607). Bản văn đáng chú ý và có phần khắc nghiệt này của nghị hội xử lý các lời dạy lạc giáo của một linh mục sống ở Đức, tên là Adalbert. Một lời kinh do linh mục này sáng tác có câu như sau:

"Con cầu nguyện và van xin các Ngài, và khẩn cầu các Ngài, là thiên thần Uriel, thiên thần Raguel, thiên thần Tubuel, thiên thần Michael, thiên thần Adimis, thiên thần Tubuas, thiên thần Sabaoth, thiên thần Simuel".

Bản văn của Baronio nói: "Và khi nghe đọc xong lời kinh phạm thượng này, Thánh Giáo hoàng Zachary nói: “Làm thế nào, anh em thân mến, anh em trả lời với kinh này?”. Các Giám mục thánh và linh mục đáng kính trả lời: “Điều gì khác có thể làm thêm, nhưng tất cả những điều đã được đọc trước sự hiện diện của chúng con, cần được đốt cháy trong ngọn lửa; và tác giả của chúng cần bị vạ tuyệt thông. Bởi vì tám tên của thiên thần, mà Adalbert đã nêu ra trong lời kinh của mình, không phải là, ngoại trừ Michael, tên của các Thiên thần, nhưng là tên của ma quỷ, mà Adalbert đã cầu xin để giúp đỡ cho mình. Nhưng chúng ta (như được dạy bởi quyền Tông đồ của Giáo hoàng), và như quyền Chúa đã thông truyền, chỉ thừa nhận không hơn ba tên thiên thần mà thôi, đó là Michael, Gabriel, và Raphael. Các Giáo phụ đã nói như thế. Bởi quyền Chúa, anh em đã nhận biết rằng cuốn sách được gọi là Sách 4 Esdras, trong đó thường nhắc đến thiên thần Uriel, bị loại trừ và bị cấm bởi Giáo Hội Rôma".

Trong bản văn này, học thuyết cơ bản là rõ ràng về việc giới hạn cho ba tên Thiên thần trong Kinh Thánh mà thôi. Ngôn từ mạnh mẽ về bản chất ma quỷ khả dĩ của các tên khác nên được nhìn trong bối cảnh sự kết án cụ thể đối với thuyết của Adalbert, chứ không phải như một tuyên bố tuyệt đối. Điều chưa rõ là không biết tài liệu được viết khi nào, và rất có thể nó được viết ra nhiều năm sau khi nghị hội diễn ra. Bốn mươi bốn năm sau, năm 789, tại Công đồng Aix-la-Chapelle, các nghị phụ cũng lên án việc đặt tên cho các Thiên thần.

Có rất ít giáo huấn chính thức liên quan đến điểm này. Năm 1992, một sắc lệnh của Thánh Bộ Giáo lý Đức tin đã cấm bàn thảo hoặc sử dụng tên của các Thiên thần, nhưng sắc lệnh này chủ yếu liên quan với việc được cho là mặc khải tư cho một người, chứ không liên quan trực tiếp đến trường hợp của chúng ta. Tuy nhiên, nó có thể góp phần vào việc Tài liệu Hướng dẫn về lòng đạo đức bình dân và phụng vụ không đồng ý việc đặt tên cho các Thiên thần nói chung.

Mặt khác, mặc dù có sự miễn cưỡng tổng thể về phía Giáo Hội, thỉnh thoảng có bức tranh với hình ảnh của bảy Thiên thần, như một bức bích họa ở nhà thờ Đức Bà của các Thiên thần tại Rôma vẽ Đức Mẹ đứng giữa bảy Thiên thần. Sự cho phép cũng đã được ban năm 1720 để cung hiến một nhà thờ ở Đức, mà trong đó mỗi vị trong bảy Thiên thần có một bàn thờ riêng.

Về giáo lý, không có gì nhiều được đọc trong các sự chấp thuận như vậy. Theo các nguyên tắc được chấp nhận chung về giải thích thần học, sự chấp thuận của Giáo Hội cho một phụng vụ hay một lễ, dựa vào truyền thống ngoài Kinh Thánh hay giai thoại, không thể được sử dụng như bằng chứng cho tính xác thực lịch sử của chúng. Giáo Hội chỉ thừa nhận một truyền thống tôn giáo đặc biệt, vốn có thể có một số lợi ích thiêng liêng cho các tín hữu.

Trong ý nghĩa này, việc sử dụng tên từ các nguồn ngụy thư không bị cấm tự chính nó. Chẳng hạn Giáo Hội đã lấy tên của ba vị đạo sĩ, tên của cha mẹ Đức Maria, và lễ Đức Bà dâng mình vào đền thánh từ các nguồn ngụy thư. Sự thực hành này không có nghĩa rằng Giáo Hội ban sự khả tín lịch sử cho các sách ấy, nhưng chỉ khẳng định rằng chúng phản ánh một truyền thống lâu đời.

Vì vậy, thí dụ, vô số hình ảnh và các nhà thờ được cung hiến cho việc Đức Maria dâng mình vào đền thờ không chứng thực sự thật lịch sử của truyền thuyết đạo đức, liên quan đến việc Đức Mẹ thực sự sống nhiều năm ở đền thờ, hoặc có một nhóm trinh nữ sống trong đền thờ Giêrusalem. Ngày lễ khẳng định sự thật cơ bản của việc Đức Maria tận hiến cho Chúa ngay từ thuở đầu đời sống của Ngài, vốn được phản ánh trong các Tin Mừng ngụy thư được viết nhiều thế kỷ sau thời của Chúa Kitô.

Tương tự như vậy, sự việc rằng trong một số dịp hiếm hoi, các bức tranh và một nhà thờ đã được cung hiến cho bảy Tổng lãnh Thiên thần, là không gì khác hơn công nhận một sự sùng mộ và truyền thống địa phương. Việc thực hành thiêng liêng áp đảo của Giáo Hội Latinh cho thấy sự sùng mộ lớn lao đối với ba Tổng lãnh Thiên thần, trong khi bỏ qua bốn thiên thần khác được đề cập trong sách Tôbia và Khải Huyền. Không có điều gì chắc chắn được nói về các đặc điểm, biểu tượng, hoặc sự bảo trợ đặc biệt của các Tổng lãnh Thiên thần khác được nêu tên.

Vì vậy, tôi sẽ nói rằng, bởi vì Giáo Hội đã chính thức làm nản lòng việc cổ vũ một linh đạo dựa vào việc đặt tên các thiên thần khác ngoài ba Tổng lãnh Thiên thần đã có tên và thiên thần hộ thủ, mọi người Công Giáo Latinh nên kiềm chế không làm như vậy, ngay cả khi không bị cấm, nếu nói chặt chẽ như thế. Rõ ràng là Giáo Hội Latinh không tin rằng nhiều lợi ích thiêng liêng có thể đạt được từ việc đi theo con đường này, và cho rằng nó không miễn một số nguy hiểm nào đó.

Việc thiết lập một biểu tượng cho sự tôn kính chung hoặc việc cung hiến một nhà thờ hoặc nhà nguyện cho một thiên thần khác với các Tổng lãnh Thiên thần Michael, Gabriel và Raphael hoặc thiên thần hộ thủ như một tập thể, đòi hỏi sự cho phép đặc biệt, và một Giám mục không nên cho phép một cung hiến như vậy, hoặc làm phép cho một nhân vật không được công nhận phổ quát là là một thiên thần hay vị thánh trong lịch phụng vụ phổ quát hiện tại.

Điều này áp dụng cho toàn bộ Kitô giáo La tinh. Còn các tập tục của Chính thống giáo và Anh giáo là hợp pháp trong bối cảnh của các truyền thống thiêng liêng của họ mà thôi. (Zenit.org 1-9-2015)

Nguyễn Trọng Đa
Theo Vietcatholic.net

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
– Vào thứ Ba 8-12-2020, Đức Giáo hoàng Phanxicô đã công bố Năm Thánh Giuse, để kỷ niệm 150 năm ngày thánh nhân được công bố là người bảo trợ Giáo hội hoàn vũ. Đức Giáo hoàng Phanxicô cho biết ngài thiết lập Năm Thánh này để “mọi tín hữu theo gương Thánh Giuse, củng cố đời sống đức tin bằng cách hằng ngày thực hiện trọn vẹn ý muốn của Chúa.” Dưới đây là những điều bạn cần biết về Năm Thánh Giuse: Tại sao lại có những năm được mang các chủ đề cụ thể (từ Giáo hội)? Giáo hội cử hành diễn trình của thời gian qua lịch phụng vụ - bao gồm các lễ như Phục sinh và Giáng sinh, và các mùa như Mùa Chay và Mùa Vọng. Ngoài ra, các vị Giáo hoàng còn có thể dành riêng những khoảng thời gian nào đó để Giáo hội suy ngẫm sâu sắc hơn về một khía cạnh cụ thể của giáo huấn hoặc niềm tin Công giáo. Một số năm trước đây đã được các vị giáo hoàng gần đây chọn lựa như thế, bao gồm Năm Đức Tin, Năm Thánh Thể và Năm Thánh Lòng Thương Xót.
Tại Việt Nam, ít ai biết được rằng 150 năm trước khi thi hào Nguyễn Du qua đời (1820), văn chương Công giáo đã có một tác phẩm lục bát bằng chữ Nôm đạt mức tuyệt tác: Tác phẩm Sấm Truyền Ca (1670), diễn ca 5 quyển đầu của Cựu Ước, do cha Lữ Y Đoan, một trong những linh mục thế hệ đầu của địa phận Đàng Trong. Cũng chính năm 1820 tác phẩm được phiên âm sang chữ quốc ngữ. Sau một vận mệnh hẩm hiu suốt hơn ba trăm năm, cuối thế kỷ XX chỉ còn hơn 1/5 tác phẩm sống sót: Sách Sáng Thế Ký (Tạo đoan kinh) và 21 chương đầu của sách Xuất Hành (Lập quốc kinh). Năm 1993 một số trí thức Công giáo đã thực hiện hồ sơ “Về các tác giả Công giáo thế kỷ XVII-XIX”, do Khoa Ngữ Văn, Đại học Tổng hợp Tp HCM ấn hành. Quyển sách đã giới thiệu tác phẩm Sấm Truyền Ca đến công chúng.
Từ ngữ: tuyên thánh đúng hơn là phong thánh: Từ phong thánh quen dùng trong tiếng Việt, nguyên ngữ từ tiếng Hy Lạp “Kanon” có nghĩa là thước đo hay tiêu chuẩn hay được nhìn nhận là có giá trị. Ý nghĩa nầy được tìm thấy trong động từ canonizare của tiếng La tinh, rồi canoniser trong tiếng Pháp và Canonize trong tiếng Anh. DHYThuan-ChaDiep.jpg Những tín hữu trong thế kỷ đầu đã phong thánh cho các Tông Đồ khi gọi các Ngài là Thánh. Những vị tử đạo cũng được gọi là thánh. Rồi những thế kỷ kế tiếp, những giáo dân có đời sống thánh thiện, nêu gương sáng và thành mực thước cho người đời cũng được tuyên bố “đang ở trên thiên đàng” tức là thánh. Như vậy theo từ Kanon và theo truyền thống, Giáo Hội không hề phong thánh hay không hề làm cho ai thành thánh cả. Giáo Hội, qua thời gian cầu nguyện lâu dài và qua những phép lạ được thực hiện nhờ lời chuyển cầu của ...
I. Nữ vương các thánh tử đạo 1) Tại sao Đức Maria được gọi là Nữ vương các thánh tử đạo? 2) Tại sao chọn Nữ vương các thánh tử đạo làm bổn mạng tỉnh dòng? 3) Tỉnh dòng có tình cảm gì đối với Nữ vương các thánh tử đạo? II. Nữ vương các chứng nhân 1) Tân ước có nền tảng cho tước hiệu Đức Maria “Nữ vương các chứng nhân” không? 2) Đức Maria đã sống đời chứng nhân đức tin như thế nào? 3) Tước hiệu “Nữ vương các chứng nhân” có ý nghĩa gì đối với chúng ta? ————- Đây không phải là lần đầu tiên tôi được mời chia sẻ với anh em nhân dịp bổn mạng tỉnh dòng. Vì không muốn lặp lại những điều đã trình bày cho nên năm nay tôi muốn tìm một lối tiếp cận mới liên quan đến danh hiệu bổn mạng tỉnh dòng, qua tựa đề: “Nữ Vương các tử đạo hay Nữ vương các chứng nhân?” Xin anh em hãy kiên nhẫn chịu tử đạo khi nghe bài suy niệm hơi dài, và có thể gây nhiều cú sốc.
Phan Tấn Thành Tại một số nhà thờ mới cất bên Việt Nam, người ta thấy trên Thập giá thay vì tượng Chúa chịu nạn lại có tượng Chúa Phục sinh hay Linh mục Thượng phẩm. Tại sao lại có sự thay đổi ấy? Từ sau công đồng Vaticanô II, người ta chứng kiến một số thay đổi trong lãnh vực phụng vụ. Thoạt tiên xem ra có vẻ mới, và khiến cho có người băn khoăn: phải chăng công đồng Vaticanô II đã thay đổi đức tin của Giáo hội? Thế nhưng nếu xét kỹ ra, thì nhiều sự thay đổi không hoàn toàn mới nhưng lấy lại truyền thống từ lâu đời của Giáo hội mà thôi. Tỉ như ngôn ngữ dùng trong phụng vụ: vào những thế kỷ đầu, phụng vụ được cử hành bằng tiếng địa phương, và thậm chí tại Rôma ngôn ngữ của phụng vụ là tiếng Hy-lạp, tức là tiếng giao thông thương mại thời đó, chứ không phải là tiếng La-tinh. Ta cũng có thể nói một cách tương tự như vậy về việc thay đổi tượng Chúa chịu nạn bằng tượng Chúa Phục sinh: đây không phải là sự canh tân, song là trở về nguồn.
Trả lời: Vâng, quả thật hộp sọ xuất hiện rất thường xuyên trong nghệ thuật Ki-tô Giáo và ngay cả ngày nay. Tôi có thể hiểu câu hỏi của bạn về thực hành này; bởi vì việc đặt hộp sọ ở khắp mọi nơi có vẻ như là một cái gì đó không lành mạnh – đặc biệt đối với những người đang sống trong một xã hội tiêu dùng và thế tục, nơi người ta thường lảng tránh suy nghĩ về những điều sâu sắc chẳng hạn như cái chết và những gì xảy ra sau đó. Một hộp sọ lành mạnh Khi nghệ thuật Ki-tô Giáo miêu tả những hộp sọ ở gần các vị thánh, nó tượng trưng cho sự khôn ngoan và thận trọng của các ngài. Hộp sọ là hình ảnh đại diện một cách sống động và hấp dẫn về cái chết của con người.
Giải đáp của Cha Edward McNamara, Dòng Đạo Binh Chúa Kitô (LC), giáo sư phụng vụ của Đại học Regina Apostolorum (Nữ Vương các Thánh Tông Đồ), Rôma. Hỏi: Thưa cha, liệu Thánh lễ cầu cho người khi còn sống là hiệu lực hơn (mạnh hơn) so với Thánh lễ cầu nguyện sau khi đã chết không? Thánh Anselmô (Anselm) và ĐGH Biển Đức XV đã nói Thánh lễ cầu cho khi còn sống là hiệu lực hơn. Xin cha bình luận việc này cho nhiểu người biết. - S. T., Chicago, Hoa Kỳ Đáp: Trong khi bạn đọc trên không cung cấp nguồn của các ý kiến này của thánh Anselmô (Anselm) và ĐGH Biển Đức XV, tôi vẫn cho đó là ý riêng của bạn ấy.Bằng cách nào chúng ta có thể nói rằng Thánh Lễ này là "mạnh hơn" (hiệu lực hơn) so với Thánh lễ kia?
Phụng vụ mừng lễ Các Thánh vào ngày đầu tháng 11, và ngày hôm sau, tưởng nhớ các người qua đời. Xét theo nguồn gốc lịch sử, lễ kính nào ra đời trước: việc kính nhớ các người qua đời có trước, hay lễ các thánh có trước? Linh mục Phan Tấn Thành trả lời. Để trả lời câu hỏi này, chúng ta phải phân biệt nhiều vấn đề. Việc kính nhớ các linh hồn qua đời là một chuyện, còn việc dành ra một ngày trong năm để tưởng nhớ tất cả các linh hồn là chuyện khác. Một cách tương tự như vậy, kính nhớ các thánh là một chuyện, còn dành ra một ngày để kính nhớ tất cả các thánh là một chuyện khác. Chúng ta sẽ cố gắng đi từng bước một: chúng ta hãy khởi hành với thực tại ngày nay, rồi chúng ta sẽ đi lùi ngược lại dòng lịch sử. Ngày nay lễ tưởng nhớ các người qua đời diễn ra vào ngày hôm sau lễ các thánh. Từ khi nào lịch phụng vụ ấn định việc cử hành hai ngày lễ đó?
Cùng với lời kinh cầu nguyện với Đức Mẹ đã được Đức Thánh Cha đọc trong video trong Thánh lễ do Đức Hồng y Giám quản Roma cử hành tại đền thánh Đức Mẹ Tình yêu Chúa ngày 11/03 vừa qua, Đức Thánh Cha đề nghị thêm một kinh nguyện để các tín hữu cầu nguyện vào cuối buổi đọc kinh Mân Côi, xin Đức Mẹ bảo vệ thế giới khỏi đại dịch. Hồng Thủy - Vatican
Đây là lời nguyện chính thức của Hội đồng Giám mục Việt Nam để cầu nguyện trong cơn dịch bệnh Covid-19. Lạy Thiên Chúa Ba Ngôi toàn năng chúng con đang họp nhau cầu nguyện, tha thiết nài xin cho cơn dịch bệnh mau chấm dứt. Lạy Chúa Cha giàu lòng thương xót xin nhìn đến nỗi thống khổ của đoàn con trên khắp thế giới, đặc biệt tại những nơi dịch bệnh đang hoành hành. Xin củng cố đức tin của chúng con, cho chúng con hoàn toàn tín thác vào tình yêu quan phòng của Cha. Lạy Chúa Giêsu là Đấng cứu độ duy nhất, là vị lương y đầy quyền năng và lòng thương xót, xin thương cho các bệnh nhân sớm được chữa lành, và an ủi các gia đình đang gặp khó khăn thử thách. Xin cho lời chúng con khiêm tốn cầu nguyện, được chạm tới trái tim nhân lành của Chúa, xin giảm bớt gánh nặng khổ đau, và cho chúng con cảm nhận được bàn tay Chúa đang ân cần nâng đỡ chúng con.
Bảo Trợ