Ly Nước Dâng Mẹ Nhân Lễ Vu Lan

29 Tháng Tám 20155:39 CH(Xem: 1829)
Tâm tình phụ huynh

Ly nước dâng mẹ nhân Lễ Vu Lan

Lệ Hoa Wilson - Má tôi tên Nhiễu, Quách Thị Nhiễu. Ngày bà vào nhà thương sanh ra tôi, ba tôi bận đi nhậu với bạn bè nên bà nói với cô mụ là bà không có chồng và muốn tôi mang họ mẹ. Vì thế tôi thành Quách Thị Lệ Hoa. Sau này ba tôi năn nỉ quá nên bà cho ba tôi ra tòa nhận con nhưng vẫn cương quyết để tôi mang họ mẹ. Bà nói một người chồng lo đi nhậu ngày vợ chuyển bụng không xứng đáng để cho con mang họ. Tôi tiếp tục mang họ Quách. Ba tôi tiếp tục nhậu.

Má tôi dốt đặc! Bà chưa từng bao giờ đến trường ngoại trừ một buổi tối vào khoảng năm 1955. Bà tham dự vào lớp học tối của Hội Truyền Bá Quốc Ngữ (mà tôi là cô giáo), học ký được chữ X, rồi thôi. Bà không bao giờ trở lại. Vậy mà trong đầu bà có cả một máy tính điện tử và một bộ nhớ tới mấy chục megabytes .
blank
Vào nhiều năm cuối đời bà bán hột xoàn ở Chợ Củ, Sài Gòn. Mỗi khi có chuyến hàng về từ Hong Kong, bà phân chia hột xoàn thành từng loại lớn nhỏ, sạch dơ, nước trắng hay vàng v.v.. rồi bán sỉ lại cho bạn hàng. Vì không biết chữ nên bà không thể ghi chép lại bằng giấy tờ được. Mọi chuyện mua bán trong ngày bà đều ghi lại trong óc. Chiều về bà ngồi đọc lại cho con ghi chép, vài chục vụ trao đổi với mọi tình tiết éo le, bà nhớ không sót một ly. Tôi chỉ phải ghi chép thôi mà đầu óc còn tá hỏa lên thế mà bà tỉnh bơ, vanh vách không sót một chi tiết nào. Từ chuyện nầy tôi cũng học được một bài học là Trời Đất công bình, không cho mình cái này thì bù trừ cái khác, không nên nhìn vào cái thiếu sót mà thất vọng, khóc than.

Má tôi sanh ra trong một gia đình nghèo, rất nghèo. Khi mới lên mười tuổi, ngoại tôi không đủ tiền đóng thuế thân (là một thứ thuế cá nhân cho nhà nước pháp thuộc) nên đem má tôi đến “ở đợ nát lời” cho bà phủ Ngọc. Tôi tự hỏi có ai còn nhớ đến hai chuyện này không: Đóng thuế thân và ở đợ nát lời ? Ở đợ nát lời có nghĩa là mình đem con đến cho nó giúp việc trong nhà người ta, lấy một số tiền về để trả nợ. Con mình làm người ở mà không được trả tiền lương cho đến khi nào mình có đủ tiền đem đến hoàn trả cho nhà chủ tiền mượn lẫn tiền lời thì mới chuộc được con ra khỏi cảnh nhục nhằn.

Nghe má tôi kể lại, ngoại tôi nước mắt dầm dề, cầm tay con không nở rời, lớp thương con, lớp tủi hổ. Ngoại cầm tiền mà khóc mùi mẫn. Má tôi mếu máo nhìn ngoại, sợ sệt cho một tương lai đen tối, khắc nghiệt nhưng cương quyết tiến thẳng vào nhà chủ bắt đầu cuộc đời tôi mọi để trả hiếu cho người mẹ nghèo.

Bà phủ Ngọc có hai cô con gái, một bằng tuổi má tôi, một nhỏ hơn hai tuổi. Thời bấy giờ con gái nhà quan, nhà giàu là phải biết may vá thật giỏi, nấu nướng thật ngon , bánh mứt thật khéo, ăn nói dịu dàng... có nghĩa là phải có đầy đủ công dung ngôn hạnh thì mới được gia đình đàng hoàng sang trọng đến coi mắt và cưới hỏi. Má tôi lớn lên cùng hai cô, làm tất cả mọi chuyện trong nhà, học tất cả khéo léo của chủ. Ngoài những lúc phụ nấu ăn và làm bánh trái thêu thùa, buổi tối bà còn ngồi đấm bóp cho mấy bà khách đánh tứ sắc, đổ ống nhổ trầu, chạy mua cà phê, hủ tiếu v.v... thôi thì mọi chuyện sang hèn gì cũng đổ lên đầu đứa bé gầy nhom mười tuổi !

Nhưng má tôi không hề than khóc số phận hẩm hiu, mới mười tuổi phải đi ở mướn. Bà thấy đó là một chuyện hết sức tự nhiên, cha mẹ nghèo thì con đi ở đợ, không có gì quan trọng hết. Nhưng bà cũng không bao giờ nghĩ là bà sẽ ở mướn trọn đời. Ngay khi quay lưng vào nhà chủ, bà đã tự hứa là sẽ ra khỏi đó dù mẹ có tiền đến chuộc hay không . Bà chắc mót từ đồng xu của khách đánh bài cho, rồi dần dần lớn lên, tài khéo léo của bà khiến bạn bà phủ phải nhờ tới mỗi khi nhà có tiệc tùng, cưới hỏi. Tiền thưởng của mấy bà nhà giàu vắt máu tuy ít ỏi nhưng cũng đủ để bà tự chuộc mình ra khỏi cảnh ở đợ nát lời.

Từ đó bà bắt đầu bán bánh mứt, thức ăn rồi dần dần mở sạp bán quần áo may sẵn ở chợ Cần Thơ rồi cuối cùng là bán hột xoàn ở Chợ Củ, Sài Gòn. Bà ăn mặc giản dị, chưa từng bao giờ biết xài son phấn. Cả đời bà hy sinh cho mẹ và sau đó cho đàn con.

Thắm thía thân phận con nhà nghèo thất học, bà nhất quyết cho anh chị em tôi đi học đến nơi đến chốn dù bà phải tốn hao cực khổ bao nhiêu. Bà buôn gánh bán bưng, thức khuya dậy sớm nhưng không bao giờ cho anh chị em tôi nghỉ học một ngày để phụ giúp bà. Chúng tôi chỉ được giúp mẹ sau khi đi học về và xong bài vở trong trường.

Có đêm nằm ngủ ở bộ ván ngựa sau bếp, chợt thức dậy lúc gần sáng, tôi thấy bà lui cui nướng bánh để kịp buổi chợ mai. Ngọn đèn dầu lung lay hắt bóng bà lên tường. Nó xiêu vẹo, ngả nghiêng như những bước chân bà khi bưng thau bột nặng trĩu. Lòng tôi rào rạt thương mẹ. Tôi nằm đó nước mắt nóng hổi lăn dài xuống má, cổ họng nghẹn đau vì nén tiếng khóc. Nếu lúc đó tôi nhảy ra khỏi bộ ván ngựa, chạy tới ôm bà khóc chắc bà nghỉ là tôi bị... ma nhập! Vì bà hy sinh mà không chờ đợi tiếng cám ơn, bà nuôi dưỡng mà không cần đền trả. Bà không nghỉ lôi thôi rắc rối như người có học. Bà đem cuộc đời ra trả ơn cho mẹ, đem máu tim ra nuôi dưỡng đàn con. Giản dị, tự nhiên, toàn vẹn. Không thấy đó là hy sinh, là cao cả, là thiêng liêng.

Tôi không biết nếu khi tôi được sanh ra má tôi đã là người giàu sang, tôi được nuôi dưỡng như con nhà giàu, hãnh diện, kiêu ngạo, khinh người thì tôi sẽ đối phó với những hoàn cảnh trắc trở, khổ đau như thế nào? Tôi đã đi qua cuộc đời với nhiều thất bại, nhục nhằn nhưng bài học về cuộc tranh đấu để vươn lên của mẹ khiến tôi chưa bao giờ ngả xuống mà cứ nằm đó khóc than trách móc số phận, đổ thừa cho những ngôi sao xấu, oán hận sự sắp đặt không công bình của “ông Trời.” Tôi nhìn lại chính mình, sữa đổi và lại cố đứng lên. Tôi chia sẻ bất hạnh, thông cảm lầm lỗi và tha thứ những vấp ngã của mọi người. Vì thế tôi lần lần hoán đổi được những nghiệp xấu mà tôi đã gây ra đời này hay những đời trước. Và tất cả đều là do má tôi. Bà không nói ra lời nhưng cách sống của bà đã thấm nhuần vào mạch máu tôi và giúp tôi vượt qua biết bao là hầm hố chông gai của cuộc đời.

Bây giờ má tôi đã qua đời. Tôi nghĩ lại, tôi chưa từng bao giờ nói một lời cám ơn mẹ. Tôi chưa từng bao giờ nói cho mẹ biết trái tim tôi đã dào dạt bao nhiêu tình cảm biết ơn, nước mắt tôi đã từng chảy tràn trề trong đêm tối khi nhìn bóng mẹ hắt hiu qua ánh đèn dầu. Tôi làm tất cả chuyện bà sai tôi làm nhưng tôi chưa từng rót cho bà một ly nước mà bà không hỏi, nấu cho mẹ một chén cháo mà bà không sai. Dù cho đầu óc má tôi có giản dị tới bực nào thì chắc tim bà cũng nở ra khi con nhìn mẹ trìu mến và dịu dàng nói với mẹ lời cám ơn. Vậy mà tôi đã chưa từng làm điều đó.

Ngày Lễ Vu Lan báo hiếu sắp tới rồi. Chiều nay khi các cháu đi học về, bài vở đã làm xong, cơm nước đã đầy đủ, mẹ đang ngồi trong phòng khách xem truyền hình, hoặc vá chiếc áo, hoặc đọc một cuốn sách... cháu hãy rót một ly nước đem tới cho mẹ dù mẹ không hỏi. Cháu hãy để ly nước bên cạnh mẹ, quàng tay qua cổ mẹ, cúi xuống hôn mẹ và dịu dàng nói, “Con cám ơn mẹ.”

blank

Hình minh họa. (Linh Nguyễn/Người Việt)

Mẹ cháu sẽ ngạc nhiên không biết đứa con nhỏ này ngày hôm nay lên cơn gì đây hoặc muốn món quà gì đây, nhưng khi mẹ nhìn lên ánh mắt chứa chan sự biết ơn, thương yêu cũng như nụ cười rạng rỡ của cháu, bà lập tức biết rằng ly nước kia được rót ra từ trong trái tim của cháu . Bà sẽ từ hòa nhìn cháu và nói, “ Mẹ cũng cám ơn con.”

Cháu có nghĩ ra được một món quà nào quí hơn là ly nước này trong Ngày Vu Lan báo hiếu không?

Một bài hát vang vang trong đầu tôi, “ Nếu có thương tôi... xin hãy thương tôi ngay bây giờ!...” Hãy hát đi cháu... Nếu có thương mom... Xin hãy thương mom ngay bây giờ...
Hãy yêu thương mà uống ly nước đi, mẹ nhé! 
Theo nguoi-viet.com
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh ("Tây tiến", thơ Quang Dũng) Xa nhìn thấp thoáng trong mây muôn bóng quân Nam chập chùng... (1) Câu hát ấy, từ bao năm nay vẫn cứ theo tôi, theo tôi mãi. Câu chuyện bắt đầu tư những ngày xa xưa, thuở tôi còn là cậu học trò nhỏ vừa bước vào năm học đầu tiên của một trường trung học ở thành phố cao nguyên có cái biệt danh nghe buồn buồn là "Buồn-muôn-thuở". Cậu học trò ấy, vào mỗi sáng thứ Hai, cùng chúng bạn đứng xếp hàng ngay ngắn trước sân cờ nao nức chờ đợi phút giây được tham dự vào nghi thức thượng kỳ đầu tuần trong bầu không khí thật trang nghiêm giữa sân trường thuở ấy.
“Thế là cậu đã nhẹ nhàng ra đi, rời xa cái thế giới mà cậu đã để lại rất nhiều sau hơn 80 năm góp mặt và đã sống tràn đầy từng phút từng giây. Trước hết, là một nhạc sĩ, cậu đã để lại hơn 200 nhạc phẩm, đã làm phong phú đời sống tinh thần và tình cảm của hàng triệu người nghe, và sẽ còn làm rung động tâm hồn hàng triệu người yêu nhạc nữa trong những thế hệ mai sau. Là một nghệ sĩ tài danh, cậu không kiêu căng lập dị. Trái lại, cậu đã luôn luôn cư xử khiêm tốn, nhún nhường, tôn trọng người khác như tác phong của con người có văn hóa, một đức tính đã khiến cậu được nhiều người mến mộ và noi gương. Là một nghệ sĩ chân chính, cậu đã không để đồng tiền làm vẩn đục tâm hồn. Cậu không đòi hỏi những ca sĩ trình diễn nhạc phẩm của mình phải trả tiền tác quyền mà chỉ nhận tiền của những ban nhạc lớn nhưng hầu hết số tiền thu được cậu đã đem tặng cho các hội từ thiện.
Thầy Cô thân mến, (Nếu được sự đồng ý của các bạn đồng lớp) Ngày mùng ba tết Năm Tân Sửu, con và các bạn học cùng lớp mừng tuổi Thầy Cô. Chúng con không có rượu, không có bánh tét, không có cặp trứng để mừng tuổi Thầy Cô, chỉ có mấy hàng chữ mà Thầy đã dạy chúng con học viết trong những năm tại trường Tấn Đức và lòng tôn trong với một người Thầy Giáo khả kính, hiền lành.
1. Nếu chịu khó đọc đủ nhiều và nghiên cứu sách tỉ mỉ, bạn sẽ không cần và không thích nghe bất cứ diễn giả nào chia sẻ. Nói cách khác, tất cả những gì một diễn giả, một nhà đào tạo nói với bạn đều có sẵn trong sách. 2. Diễn giả, nhà đào tạo ở ta là những kẻ nói lại sách của người khác để trục lợi. Có thể họ nói hùng hồn và dễ hiểu hơn nhưng phần lớn không sâu sắc và không đủ ý. Kiến thức mà thiếu ý là thứ kiến thức nguy hại. Giống như thầy lang đọc sách đau bụng uống nhân sâm. 3. Diễn giả đẳng cấp là kẻ phải ham đọc và ham viết. Họ thường là tác giả có tầm cỡ. Đương nhiên, diễn giả rởm cũng tỏ ra vẻ như mình đọc nhiều sách và khoe mình hay đọc sách. Chết là ở đó. Nhưng tinh ý, bạn sẽ biết họ đọc nhiều thật hay đang nói dối. Ngồi cạnh người đọc sách nhiều và đúng cách, bạn sẽ học được ít nhiều chỉ sau 5 phút. Kẻ đọc sách nhiều không đay nghiến và kì thị ai quá đáng. Họ ghét ai cũng là cái ghét từ bi. Yêu ai cũng không vồ vập.
Thật khó hình dung được thời gian qua nhanh, đã hơn mấy chục năm sống cuộc đời lưu vong tại Calgary, Alberta, miền Tây Canada. Dẫu muốn hay không cũng phải chấp nhận nơi đây là quê hương thứ hai, nơi đã mang và nuôi dưỡng chúng tôi hơn nửa đời người. Tạ ơn Chúa và Canada. Sự kiện đặc biệt đang xảy ra tại vùng này là trong suốt mấy chục năm qua chưa từng có một mùa Đông có nhiều ngày nắng và ấm như thế. Vào những ngày này của tháng giêng, mặt trời chiếu tỏa từ sáng tới chiều và nhiệt độ ấm lên từ 5c-6c vào khoảng một giờ chiều và đã kéo dài hơn hai tuần nay. Toàn tỉnh đang bị lockdown vì covid-19 mà có những ngày đẹp trời cũng tạo cho tâm lý bà con vui vẻ hơn; người người bước ra ngoài để hớp những không khí trong lành của thiên nhiên. Trẻ em thì háo hức chơi đủ trò trên tuyết – người lớn thì đi bộ dọc hai bên đường cùng với những chú chó bị nhốt lâu ngày trong nhà nay có dịp ra ngoài.
Tên nàng là Nhung Nữ. Dân làng đặt tên nàng là Nhung Nữ vì nàng có mái tóc dài, gợn sóng, nhung huyền, gần chấm đất những khi nàng cong tấm lưng thon, biểu diễn điệu múa quyến rũ, mỗi lần làng họp chợ. Nàng là một kỳ công tuyệt diệu của tạo hóa, với sóng mắt xếch như mang theo sự huyền bí của miền Đông Á. Da nàng là màu nắng mặt trời. Tóc nàng, nhung đen như đêm Ba Tư thần thoại, một suối nhung huyền trên tấm lưng thanh nhã, lượn sóng trên bờ eo nhỏ mỗi khi nàng dạo bước trên bãi biển. Môi nàng lúc nào cũng như tiềm ẩn một nụ cười, chờ đợi một chuỗi cười hồn nhiên, và viền môi cong như đón mời một nụ hôn nồng nàn làm tiêu tan nghị lực. Khuôn mặt nàng ẩn giấu nét rộn rã của đứa trẻ nhỏ, nhưng đồng thời chung quanh khóe mắt đẹp và hơi buồn đã thấp thoáng những nét nhăn như chứng tích của sự trưởng thành. Nàng là đàn bà trẻ thơ.
Sài Gòn vẫn rất dễ thương Cái tên dù lạ con đường vẫn quen Tôi hay “viện dẫn” hai câu thơ của mình mỗi khi phải hồi âm một cánh thư xa nào đó, thường là câu hỏi “Sài Gòn bây giờ ra sao?” Thật ra trong cảm nhận của tôi, Sài Gòn vẫn thế. Bởi dù trải qua nhiêu bao biến cố thăng trầm, thì Sài Gòn, Hòn Ngọc Viễn Đông, thủ đô trong những trái tim miền Nam ngày nào vẫn không bao giờ thay đổi. Sài Gòn của một thời tôi mới lớn, những “con đường tình ta đi” Duy Tân, Trần Quý Cáp, Tú Xương, Công Lý. Những chiều bát phố Lê Lợi, Tự Do. Những rạp cine. Món bánh tôm hẻm Casino (Sài Gòn). Những xe bò viên Nguyễn Thiện Thuật. Bánh mì thịt trước chợ Trương Minh Giảng, gỏi đu đủ – khô bò – nước mía Viễn Đông (góc Lê Lợi – Pasteur)…
...chỉ với Mùa Xuân chín, Hàn Mặc Tử đã luôn là một nỗi nhớ khôn nguôi của người yêu thơ, yêu cái đẹp khi xuân về. Trong làn nắng ửng: khói mơ tan, Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng. Sột soạt gió trêu tà áo biếc, Trên giàn thiên lý. Bóng xuân sang. Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời Bao cô thôn nữ hát trên đồi; Ngày mai trong đám xuân xanh ấy, Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi… Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi, Hổn hển như lời của nước mây, Thầm thì với ai ngồi dưới trúc, Nghe ra ý vị và thơ ngây… Khách xa gặp lúc mùa xuân chín, Lòng trí bâng khuâng sực nhớ làng: “Chị ấy, năm nay còn gánh thóc Dọc bờ sông trắng nắng chang chang?” Có một chàng thi sĩ tài hoa nhưng bạc mệnh sống vào khoảng nửa đầu thế kỷ 20 ở Nam Trung Bộ. 16 tuổi, chàng đã làm bài thơ đầu tiên. Chàng đã sống, đã đi, đã yêu tha thiết và đã đau đớn cùng cực.
Truyện Kiều là một tuyệt tác trong văn học sử Việt Nam, điều này ai cũng công nhận. Theo Phạm Quỳnh, “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; tiếng ta còn, nước ta còn”, nhưng ông và nhiều học giả khác không phân tích rõ Truyện Kiều hay như thế nào và tại sao tác phẩm này đặc biệt. Dù sao thì Truyện Kiều cũng có ảnh hưởng rất rộng với đại chúng, đa số người Việt biết thưởng thức thơ hay và ít quan tâm đến những phân tích phê bình của những nhà nghiên cứu. Lãng Nhân có nhận xét về một điểm vô lý trong Truyện Kiều: Khi mấy chị em đi chơi lễ Thanh Minh và thấy một nấm mồ hoang, em trai Thúy Kiều là Vương Quan chỉ là một cậu bé học trò 14-15 tuổi, vậy mà kể rành rẽ tiểu sử người kỹ nữ quá cố giống như một tay ăn chơi lão luyện: Vương Quan mới dẫn gần xa, Đạm Tiên nàng ấy xưa là ca nhi Nổi danh tài sắc một thì, Xôn xao ngoài cửa thiếu gì yến anh. Phận hồng nhan có mong manh, Nửa chừng xuân, thoắt gẫy cành thiên hương!
- Chúng ta đa số đều biết rằng các nhà văn trong Tự Lực Văn Đoàn từ 1934 - 1940 có gốc gác khởi xuất từ miền Bắc, viết văn, viết sách, thơ, truyện, thường họ chỉ dùng (GI) cho "giòng sông, giòng nước". Thí dụ như: a) Nhất Linh: "Giòng Sông Thanh Thủy". b) Tú Mỡ: "Giòng Nước Ngược". c) Thạch Lam: "Theo Giòng". - Còn các nhà văn, trí thức lớp sau, thường có xuất thân tại miền Nam, trước khi xảy ra biến cố 1975, họ hầu hết sử dụng (D) cho "dòng sông, dòng nước". Thí dụ như: a) Doãn Quốc Sỹ: "Dòng Sông Định Mệnh (1959). b) Nhật Tiến: "Tặng Phẩm Của Dòng Sông (1972). c) Đằng Phương Nguyễn Ngọc Huy: "Dòng Nước Sông Hồng" (viết 1945, in lại vào thi tập năm 1985). - Và sau hơn nữa đó là: a) Ngô Thế Vinh: "Mekong, Dòng Sông Nghẽn Mạch (2007).
Bảo Trợ