Người giáo dân phục vụ Giáo Hội

11 Tháng Bảy 20212:00 CH(Xem: 7041)
Ở Việt Nam hiện nay, nhiều cơ sở Giáo Hội sử dụng giáo dân làm nhân viên thường trực có trả lương, để đảm nhiệm nhiều công việc càng ngày càng đa dạng. Hình thức nhân dụng này đã trở thành phổ biến trong các Giáo Hội Tây Phương, nhất là Hoa Kỳ. Hiện Giáo Hội Hoa kỳ đang được coi là định chế tôn giáo sử dụng nhiều nhân viên giáo dân hơn cả, có lẽ chỉ thua Chính Phủ Liên Bang. Hiện tượng này có những hệ luận tốt xấu, được Francis Maier đề cập tới trong một tham luận đăng trên www.frinstitute.org của Viện Đức Tin và Lý Trí.

blank

baria-giaodan
Tôi còn nhớ câu truyện cách nay 50 năm. Hồi ấy, tôi mới 4 tuổi, em gái tôi 1 tuổi. Ngày nào chúng tôi cũng ngủ trưa với nhau. Và vì em gái tôi ưa cựa quậy, khó ngủ, nên thường là má tôi phải vỗ về và hát một điệu ru em bằng tiếng Ái Nhĩ Lan cho anh em tôi.

Một hôm, trước giấc ngủ trưa, má tôi lấy chai sữa đổ cho anh em tôi mỗi đứa một ly. Chẳng may chai sữa trượt tay má và rơi xuống sàn nhà. Mảnh chai dầy gần 2 phân văng tứ tung. Má nhanh nhẹn nhặt chúng lên và vì vội, mảnh chai đâm toạc cả bàn tay má, máu chẩy đầm đìa, vương cả vào áo. Máu chỉ ngưng khi má lấy tấm khăn dầy ở bếp quấn quanh bàn tay má.

Năm phút sau, má đã cho chúng tôi lên giường, vừa hát điệu ru em êm ái, vừa vỗ vai tôi bằng bàn tay lành, còn em gái tôi, má dùng bàn tay đang băng bó vỗ về em ngủ. Tôi nhớ rõ: cái phía di truyền Đức bảo tôi, cậu bé 4 tuổi rằng, “Sao lại vô lý như thế, má hẳn phải đau đớn lắm!”… Trong khi cái phía di truyền Ái Nhĩ Lan nhỏ nhẹ cho tôi hay: “Trời, má hẳn yêu thương chúng con xiết bao”.

Giờ đây, tôi thấy câu truyện trên dạy tôi hai bài học, và chả bài học nào liên quan tới xúc cảm tính của người Xentíc cả. Đây là bài học thứ nhất: nếu bạn muốn biết ơn gọi của người giáo dân là gì, thì chính là ở chỗ này. Người đàn bà má tôi đây đáng lẽ nên nổi giận, có thể tạm thời quên con cái mình để tự chăm sóc cho mình. Trái lại, bà chỉ lo chăm sóc chúng tôi cho tới khi chúng tôi thiếp ngủ.

Trong suốt 20 năm qua, mỗi lần tôi nghĩ cha mẹ tôi chắc mắc bệnh động kinh quá hay ít nhất cũng sống trên mây sao đó, thì hình ảnh trên lại xuất hiện mồn một trong trí nhớ tôi. Và tôi bỗng nghẹn lời. Bạn thấy đó, bạn có thể phớt lờ tình yêu hay cố gắng tránh né nó. Nhưng bạn không có cách chi bác bỏ nó được. Không hề có một “công thức bí mật” nào trong ơn gọi làm giáo dân của người đàn bà này hết. Bà chỉ đơn giản cố gắng yêu thương như Chúa Giêsu từng đã yêu thương, trong những hoàn cảnh thực tiễn của đời sống hằng ngày mà Thiên Chúa đã đặt để bà vào. Và khi làm như thế, bà đã dần dần lên khuôn cuộc đời chúng tôi. Bà trở thành thứ “dễ lây tốt” mà Mẹ Têrêxa hay nói tới.

Tất cả các bạn, có lẽ ai cũng nhớ những con người tương tự như thế trong kinh nghiệm đời mình, bởi nếu không, các bạn đã không hiện diện ở đây. Phong trào tranh đấu giáo dân, các tổ chức giáo dân, và việc giáo dân cộng tác vào việc quản trị công việc của Giáo Hội, tất cả đều là các cơ hội để vinh danh Thiên Chúa. Nhưng “quyền lực” thực sự của người giáo dân không nằm trong tiền bạc hay kỹ năng chuyên nghiệp hoặc địa vị có ảnh hưởng trong nền hành chánh của Giáo Hội. Nó nằm trong chứng tá thánh thiện bản thân. Và ta có cả một luận giải đơn giản nhưng hiển nhiên về việc này. Sẽ không có Giáo Hội nếu không có Thánh Thể. Sẽ không có Thánh Thể nếu không có linh mục. Nhưng cũng sẽ không có linh mục nếu không có người giáo dân dấn thân trong việc đào luyện con cái mình biết lắng nghe tiếng Chúa gọi.

Nếu ta không có đủ linh mục; nếu ta không có đủ các linh mục thánh thiện; thì ta nên xét lương tâm mình trước nhất. Vụ bê bối khủng khiếp mấy năm qua chắc chắn là một bản án đối với các linh mục và giám mục đã giúp tạo ra tai ương ấy. Không điều gì có thể bào chữa cho tác phong của các vị. Nhưng hàng giáo phẩm chỉ có thể bị kết án đến một điểm nào đó mà thôi. Tình dục bừa bãi, lộ liễu không hề là độc quyền của hàng giáo sĩ. Thực tế ra, đàng sau tất cả những giận dữ của người giáo dân đối với thảm họa sách nhiễu tình dục ta thấy ẩn hiện một sự hàm hồ sâu sắc trong đức tin và tác phong của người giáo dân Công Giáo.

C. S. Lewis có lần viết thế này: “Trong vũ trụ, không hề có mảnh đất trung lập; mỗi phân vuông, mỗi tích tắc đều được Chúa nhận là của Người rồi bị Satan nhận làm của nó”. Đức Gioan Phaolô II cũng có lần đã viết “Chống lại tinh thần thế gian, ngày nào, Giáo Hội cũng mở ra một cuộc đấu tranh mới dành lấy linh hồn thế gian”. Còn Henri de Lubac thì viết như sau: Phúc Âm cảnh cáo ta rằng muối có thể mất vị mặn. Còn nếu phần đông chúng ta sống yên ổn giữa thế gian, thì có lẽ vì chính ta đang hâm hấp nửa chừng chăng.

Lời lẽ trên hình như đang mô tả đầy đủ sứ mệnh của ta giữa thế gian; và nó đánh giá đúng mức thái độ hiện nay của ta đối với sứ mệnh ấy. Người giáo dân ngày nay sử dụng ngôn ngữ đức tin khi nó hợp với họ, khi họ cần được trấn an về ý nghĩa đau khổ, thất bại hay chết chóc. Nhưng thông thường, họ không chịu để đức tin của họ điều hướng các chọn lựa hàng ngày, kể cả các chọn lựa chính trị hay kinh tế.

Suốt 40 năm qua, người giáo dân Công Giáo thích ứng với nền văn hóa thế tục một cách hết sức thoải mái; thực vậy, quá thoải mái là đàng khác. Họ đồng hóa với nó một cách quá thành công. Kết quả, người Công Giáo thường là những công dân nhiệt thành hơn là những người Công Giáo nhiệt thành. Thực tế, có thể gọi họ là những người Thệ Phản Công Giáo tốt. Và điều đó tác động sâu đậm không những lên chứng tá bản thân của họ mà cả các giả thiết của họ về bản chất của Giáo Hội nữa.

Điều trên dẫn tôi tới bài học thứ hai trong câu truyện của tôi: Ta có lý khi gọi Giáo Hội là Mẹ. Giáo Hội quả là mẹ chúng ta y hệt người đàn bà trong câu truyện của tôi. Giáo Hội tiếp tục sứ mệnh của Chúa Giêsu Kitô giữa thế gian. Giáo Hội đau khổ vì thế gian, tha thứ, hàn gắn, khuyến khích, sửa chữa và hướng dẫn ta hệt như một người mẹ. Nên bao lâu ta ngưng đừng gọi Giáo Hội là “nó” mà là “bà”, bấy lâu ta hết còn nghĩ về Giáo Hội như một định chế tôn giáo hay một dự án xã hội, và bao lâu ta biết bắt đầu lắng nghe Giáo Hội như lắng nghe một người mẹ, thì Giáo Hội càng chu toàn được sứ mệnh thay đổi và thánh hóa thế gian của mình.

Ta không thể yêu Chúa Giêsu Kitô nếu ta không gặp gỡ Người như một người sống động. Và ta không thể yêu và phục vụ Giáo Hội của Người nếu ta không cảm nhận Giáo Hội như mẹ và thầy của mình. Thiển nghĩ điều này luôn khó khăn đối với chúng ta vì ta vốn gác chân lên cả hai loại xã hội rất khác biệt nhau. Cái bản chất có tính giáo hội, có tính bản thân và gia đình của Giáo Hội thường trực căng thẳng với bản chất thực tiễn, dân chủ, hàng ngang và cả thông tục nữa của nền văn hóa chính trị hiện nay.

Nhưng mối tương quan thích đáng đối với Giáo Hội càng khó hơn nữa đối với các giáo dân hiện phục vụ trong nền hành chánh của Giáo Hội. Khi Đức HY Joachim Meisner của Cologne chỉ trích “các cơ cấu, các ủy ban, các qui chế và các văn phòng” trong Giáo Hội vì đã “làm rối ren đức tin”, lời chỉ trích ngài nhận được cho thấy rõ sự thực của lời nhận xét ấy. Giáo Hội luôn có một hình thức bàn giấy nào đó, bắt đầu với Thánh Máccô làm thư ký cho Thánh Phaolô. Đó là một điều tốt. Các tông đồ tạo ra hàng phó tế chính là để tự giải thoát khỏi các trách vụ thực tế. Thực vậy, không có một hình thức nhân viên nào đó, Giáo Hội ít thực hiện được điều gì đáng giá.

Nhưng điều cũng đúng là: đời sống Giáo Hội càng trở nên định chế hóa, thì hình ảnh mẹ và thầy của Giáo Hội càng trở nên kém hữu hiệu hơn. Cơ cấu bàn giấy đẻ ra các thái độ bàn giấy. Nó làm cạn đức tin bản thân bằng cách lề thói hóa mọi vấn đề tôn giáo thành các sở bộ, các thủ tục và các chính sách vô ngã.

Oái oăm thay, điều các giáo dân khám phá ra khi gia nhập hàng ngũ nhân viên của Giáo Hội trong 30 năm qua chính là điều các linh mục đã phải tranh đấu với từ xưa đến nay: khi đức tin của bạn là công việc bạn làm, và ngày nào bạn cũng cảm nghiệm được thói hư nết xấu và tội lỗi của những con người bất toàn đang ngụ cư và cả đang lãnh đạo Giáo Hội nữa, thì làm sao bạn có thể “yêu” được cái Giáo Hội ấy? Thực thế, làm thế nào bạn có thể coi Giáo Hội như “bà” chứ không phải là “nó” cho được? Bàn tay Chúa ở đâu trong một tuyên bố mục vụ được cóp nhặt lại với nhau từ hàng 300 nhận định cũng như chạy vạy thương thảo bất chính thức?

Thiển nghĩ một số lớn những người lần đầu tiên đến làm việc cho Giáo Hội đều đi đến một trong ba kết luận sau đây. Hoặc họ nghĩ làm việc cho Giáo Hội là mãi mãi nằm trên dải âm thanh của Bình Ca và nhờ thế họ thoát được các tranh chấp của thế giới làm việc ngoài đời. Hoặc họ nghĩ họ có thể chỉnh sửa được các lệch lạc thiếu hiệu nghiệm của Giáo Hội bằng các kỹ năng chuyên nghiệp thế tục của họ. Hoặc họ cho rằng họ cần thấy Giáo Hội thoát ra ngoài thời đại đen tối đối với một số vấn đề luân lý, và họ có thể làm được việc đó từ bên trong. Tất cả những suy nghĩ ấy đều là các công thức đưa đến thất vọng.

Giáo Hội luôn luôn canh tân và luôn cần được canh tân. Nhưng Giáo Hội cũng hết sức linh hoạt khi phải đối diện với cả áp lực bên ngoài lẫn sự ngu đần và cả thối nát bên trong. Giáo Hội từng sinh tồn đã từ rất lâu và đã từng chứng kiến hầu như mọi sự mà đầu óc con người có thể nghĩ tưởng ra, dù xấu hay tốt. Bởi thế, Giáo Hội hành động với một nhịp độ khác hẳn, và do đó, muốn phục vụ tốt cho Giáo Hội, bạn cần một số nhân đức chuyên biệt. Nhân đức đầu tiên là sự chín chắn trưởng thành để thấy ra rằng việc canh tân về định chế sẽ không bao giờ có được nếu không có sự thống hối bản thân, ăn năn bản thân, đức tin bản thân và sự thánh thiện bản thân. Chương trình là điều tốt. Nhưng chứng tá bản thân tốt hơn nhiều.

Người giáo dân phục vụ trong các cơ cấu của Giáo Hội cần một đời sống cầu nguyện linh hoạt hàng ngày để duy trì lòng nhiệt thành và sứ mệnh của mình. Khi những điều đó suy giảm trong cấu trúc nội tâm của họ, thì khả năng làm men cho văn hóa của Giáo Hội cũng sẽ suy giảm một cách nhanh chóng. Khi bạn hết cầu nguyện, bạn trở thành hợm hĩnh; bạn sẽ tập chú vào những thành quả vật chất mà loại vai trò Thiên Chúa ra khỏi sự thành công hay thất bại của việc bạn làm. Thiển nghĩ, phần lớn các bàn giấy trong Giáo Hội có một bách phân những nhà vô thần thực tế hơn là dân số Công Giáo nói chung.

Chính vì thế, mọi giáo dân đang làm việc trong Giáo Hội cũng cần phải vun sới đức khiêm nhường, lòng nhẫn nại và một ý thức hài hước. Người giáo dân vốn có và có thể có ảnh hưởng lớn lao trong việc điều khiển Giáo Hội. Nhiều vị giám mục hiện nay hoan nghinh và trông cậy nhiều vào sáng kiến của giáo dân. Nhưng vai trò của nhân viên giáo dân đôi khi khó nhận ra, và do đó, thành quả của họ đôi khi khá gián tiếp và bị đình trệ. Giáo dân nào khó chấp nhận điều ấy, nên đi tìm việc làm ở nơi khác. Giáo dân nào thiếu óc tưởng tượng để có thể vượt lên trên phương thức làm việc có tính chính trị và kinh tế chắc chắn sẽ không thấy thoải mái. Nếu Giáo Hội thực sự là mẹ và thầy, và là Nàng Dâu của Chúa Kitô, thì dĩ nhiên, Giáo Hội không phải là một viên chức dân cử, không phải là đích nhắm cho các nhóm áp lực nội bộ.

Sau cùng, chúng ta hình như rất kém về ý thức lịch sử. Nhưng đó lại là điều hết sức cần nơi người giáo dân Công Giáo nói chung và nơi những giáo dân đang làm việc cho Giáo Hội nói riêng. Tội lỗi và thất bại chỉ làm ta thất đảm khi thấy chúng ở bên ngoài ngữ cảnh, ngữ cảnh vinh quang Thiên Chúa và chiến thắng Thiên Chúa, mà Giáo Hội vốn là một biểu thức sống động, bất chấp các lầm lỗi tồi tệ nhất của con cái mình và ngay cả các tội lỗi của hàng lãnh đạo Giáo Hội nữa. Thật đáng buồn khi thấy mấy năm qua nhiều giáo dân mô tả gương xấu lạm dụng tình dục như vô tiền khoáng hậu, độc nhất vô nhị trong lịch sử. Ta không tìm cách tối thiểu hóa gương mù gương xấu này. Ai trong chúng ta cũng bất mãn vì nó, cảm thấy nhục nhã vì nó. Chứng tá của Giáo Hội bị thương tổn thảm hại. Nhưng trước khi bị tràn ngập bởi thảm họa ấy, ta đừng nên quên thời Phục Hưng và cả hàng tá thời kỳ khác trong lịch sử trong đó, Giáo Hội từng kinh qua nhiều vấn đề còn trầm trọng hơn thế nữa.

Tội lỗi bao giờ cũng xấu xa, nhưng nó không mới mẻ gì, dù là phát xuất từ hàng giáo sĩ. Và nếu ta muốn làm điều gì đó trong tư cách giáo dân, câu giải đáp không phải là gây chiến để dành lấy quyền lực định chế từng phá hoại bản sắc Giáo Hội. Câu giải đáp là chính ta trở nên những con người thánh thiện, và để Thiên Chúa sử dụng ta cách nào Người muốn, để lên khuôn người khác.

Theo Francis X. Maier, Viện Đức Tin và Lý Trí www.frinstitute.org
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Khi cuộc sống trở nên phức tạp, hãy tìm sự an ủi nội tâm nơi Lời Chúa. Dưới đây là tuyển tập các đoạn Thánh Kinh nhằm thêm sức mạnh trong những lúc khó khăn của cuộc đời. 1 - “Đừng sợ, vì Ta đã chuộc ngươi về, đã gọi ngươi bằng chính tên ngươi: ngươi là của riêng Ta! " (Is 43, 1). 2 - “Kẻ cậy chiến xa, người nhờ chiến mã, phần chúng tôi, chỉ kêu cầu danh CHÚA là Thiên Chúa chúng tôi” (Tv 20,8). 3 - “Và toàn thể đại hội này sẽ biết rằng không phải nhờ gươm, nhờ giáo mà ĐỨC CHÚA ban chiến thắng, vì chiến đấu là việc của ĐỨC CHÚA và Người sẽ trao các người vào tay chúng ta!” (1 Sm 17, 47). 4 – “Phúc thay kẻ đặt niềm tin vào ĐỨC CHÚA, và có ĐỨC CHÚA làm chỗ nương thân.” (Gr 17,7)
Ngày nay nền móng gia đình, tế bào cơ bản của xã hội nhân loại, đang càng ngày càng bị xói mòn một cách khủng khiếp bởi những trào lưu tự do luyến ái thái quá, nam nữ sống chung không cần hôn thú hay kiểu sống “tiền dâm hậu thú” mà gọi là “sống thử”.../11 Tháng Sáu 2012 (Xem: 6477) /
Mẹ ơi! Hãy để con ra đời sống với Mẹ, con chính là hình ảnh của Mẹ, là hình ảnh của Thượng Đế, đừng giết con, đừng xoá đi thân xác con, là hình ảnh Thượng Đế trong lòng Mẹ. Mẹ giết sự sống của con là Mẹ đã giết Thượng Đế, Đấng ban sự sống cho Mẹ và cho con, Đấng đã sinh ra Linh hồn của Mẹ và của con! Linh hồn con đang run rẩy, thể xác con đang âu lo, con mong muốn được gặp Mẹ trên cõi đời Mẹ đang sống!/08 Tháng Bảy 2012 (Xem: 5805)/
Ơn gọi luôn luôn phải đến từ hai phía: Chúa gọi và tôi đáp trả. Vậy trong đời sống dâng hiến đâu là yếu tố quyết định: Chúa (chọn) gọi hay tôi (chọn) đáp trả? Câu trả lời quá rõ ràng rồi: Chúa gọi. Nếu Chúa không gọi thì tôi đâu biết đáp trả ai hay đáp trả cái gì. Chúa luôn là người đi bước trước. Thế nhưng vẫn còn một câu hỏi khác nữa cần phải đặt ra đó là “Có phải ý Chúa muốn tôi đi tu hay không?” Nghe hơi kỳ kỳ rồi đấy, đã bảo là Chúa gọi tôi rồi mà bây giờ còn hỏi lại tôi đi tu có phải là ý Chúa hay không. Cứ từ từ suy nghĩ, một vấn đề nghe có vẻ vô lý như vậy nhưng thực ra vẫn có cái lý của nó. Chúng ta biết rằng chữ “ơn gọi” ngày nay không còn được dùng để chỉ riêng cho đời sống dâng hiến nữa. Một người không đi tu thì họ có ơn gọi lập gia đình hoặc là ơn gọi độc thân.
Tiếp tục loạt bài giáo lý về cầu nguyện, trong buổi tiếp kiến chung trực tuyến vào sáng thứ Tư 05/05, Đức Thánh Cha Phanxicô đã trình bày về đề tài chiêm niệm. Theo ngài, không có đối nghịch giữa cầu nguyện và hành động. Trong Tin mừng chỉ có một tiếng gọi duy nhất, đó là theo Chúa trên con đường tình yêu. Bác ái và chiêm niệm đồng nghĩa với nhau. Hồng Thủy - Vatican News
Trong buổi tiếp kiến chung trực tuyến sáng ngày 14/4/2021, tiếp tục bài giáo lý về việc cầu nguyện của người Kitô hữu, Đức Thánh Cha Phanxicô giải thích rằng lời cầu nguyện thuộc về chính bản chất của Giáo hội;nếu thiếu cầu nguyện thì Giáo hội không thể thực hiện sứ mệnh truyền giáo và phục vụ người khác. Hồng Thủy - Vatican News Trong bài giáo lý tại buổi tiếp kiến chung trực tuyến sáng thứ Tư 14/04 Đức Thánh Cha suy tư về vai trò của Giáo hội như trường học tuyệt vời của việc cầu nguyện. Bắt đầu từ cha mẹ chúng ta, những người dạy chúng ta cầu nguyện, gieo vào tâm hồn chúng ta hạt giống được chín mùi qua đời sống của Ki-tô hữu. Bên cạnh đó, gương sáng của những tín hữu sống đức tin, việc tham dự vào đời sống của giáo xứ và Thánh lễ, giúp chúng ta không chỉ phát triển đời sống cầu nguyện ở mức độ cá nhân nhưng còn được đón nhận di sản cầu nguyện và tu đức phong phú của Giáo hội.
Chợt Ngài bỗng kêu lên một tiếng lớn rồi tắt thở! Thân xác Ngài rũ xuống, thập giá rung lên nhè nhẹ! Chiều đang dần tàn, cảnh hoàng hôn thật thê lương trong ráng chiều màu tím thẫm ảm đạm! Post 30 Tháng Ba 2013(Xem: 3284)/10 Tháng Tư 202011:00 SA(Xem: 4361)
Chúa Nhật 24 tháng Giêng, Giáo Hội cử hành Chúa Nhật thứ Ba mùa Quanh Năm với chủ đề “Anh em hãy ăn năn sám hối và tin vào Phúc Âm”. Tin Mừng theo Thánh Máccô thuật lại cho chúng ta biết hoàn cảnh Chúa kêu gọi các tông đồ đầu tiên như sau: Sau khi Gioan bị bắt, Chúa Giêsu sang xứ Galilêa, rao giảng Tin Mừng nước Thiên Chúa, Người nói: “Thời giờ đã mãn và nước Thiên Chúa đã gần đến; anh em hãy ăn năn sám hối và tin vào Phúc Âm”. Đang lúc đi dọc theo bờ biển Galilêa, Người thấy Simon và em là Anrê đang thả lưới xuống biển, vì các ông là những người đánh cá. Chúa Giêsu bảo các ông: “Hãy theo Ta, Ta sẽ làm cho các ngươi trở thành những kẻ chài lưới người”. Lập tức các ông bỏ lưới theo Người.
Ba Vua là ba khuôn mặt không thể thiếu vắng trong mùa Giáng Sinh. Nhắc đến Giáng Sinh là nhắc đến mục đồng thôn Bêlem và Ba Vua. Nhưng người Kitô hữu nói chung rất mù mờ về thân thế của Ba Vua. Nếu đặt câu hỏi, “Ba Vua tên gì?” nhiều tín hữu sẽ lúng túng và ngập ngừng trước câu hỏi vừa được nêu. I. Ba Vua Trong văn bản tiếng “phổ thông Hy Lạp,” theo như thánh sử Mátthêu, khi “Đức Giêsu sinh ra tại Bêlem, xứ Giuđê, trong đời vua Hêrôđê, mágòi (μάγoi) từ phương Đông tìm đến Giêrusalem. Các ông hỏi, — Vua người Do Thái mới sinh ra hiện đang ở đâu? Chúng tôi đã nhìn thấy ngôi sao của Người ở phương Đông, và chúng tôi đến để triều bái Người” (Mátthêu 2:1). Trong tiếng cổ Hy Lạp mágòi (μάγoi) không có nghĩa là vua. Mágòi là danh từ số nhiều của mágọs (μάγos), một danh từ giống đực. Mágói, theo như Raymond Brown, là một thuật ngữ bao gồm nhiều nghĩa: chiêm tinh gia, giải mộng gia, phù thủy (pháp sư), và thầy tư tế của tôn giáo vùng Trung Đông.
Thiên Chúa đã phái các thiên thần đến báo cho những người chăn cừu biết một Đấng Cứu Thế đã được sinh ra: “Thiên thần Chúa bỗng hiện đến bên họ và vinh quang Chúa rạng ngời bao quanh họ, làm họ kinh khiếp hãi hùng. Nhưng thiên thần nói với họ: “Đừng sợ! Này ta đem tin mừng cho các ngươi về một niềm vui to tát, tức là niềm vui cho toàn dân: là hôm nay, đã sinh ra cho các ngươi vì Cứu Chúa, tức là Đức Kitô Chúa, trong thành của Đavit” (Lc 2,9-11). Hôm nay Ngài báo tin cho chúng ta Giáng sinh đã được một thế giới vô thần tục hóa đến nỗi ngày càng nhiều người cùng thời với chúng ta đã quên đi nguồn gốc của nó. Chắc chắn, khung cảnh Chúa giáng sinh cho họ một ý tưởng chung, nhưng họ không biết rằng trẻ nhỏ nằm trong máng cỏ đơn sơ này đã đến để mang lại cho họ tình yêu và niềm vui mà họ tìm kiếm trong vô vọng.
Bảo Trợ