Người giáo dân phục vụ Giáo Hội

11 Tháng Bảy 20212:00 CH(Xem: 7428)
Ở Việt Nam hiện nay, nhiều cơ sở Giáo Hội sử dụng giáo dân làm nhân viên thường trực có trả lương, để đảm nhiệm nhiều công việc càng ngày càng đa dạng. Hình thức nhân dụng này đã trở thành phổ biến trong các Giáo Hội Tây Phương, nhất là Hoa Kỳ. Hiện Giáo Hội Hoa kỳ đang được coi là định chế tôn giáo sử dụng nhiều nhân viên giáo dân hơn cả, có lẽ chỉ thua Chính Phủ Liên Bang. Hiện tượng này có những hệ luận tốt xấu, được Francis Maier đề cập tới trong một tham luận đăng trên www.frinstitute.org của Viện Đức Tin và Lý Trí.

blank

baria-giaodan
Tôi còn nhớ câu truyện cách nay 50 năm. Hồi ấy, tôi mới 4 tuổi, em gái tôi 1 tuổi. Ngày nào chúng tôi cũng ngủ trưa với nhau. Và vì em gái tôi ưa cựa quậy, khó ngủ, nên thường là má tôi phải vỗ về và hát một điệu ru em bằng tiếng Ái Nhĩ Lan cho anh em tôi.

Một hôm, trước giấc ngủ trưa, má tôi lấy chai sữa đổ cho anh em tôi mỗi đứa một ly. Chẳng may chai sữa trượt tay má và rơi xuống sàn nhà. Mảnh chai dầy gần 2 phân văng tứ tung. Má nhanh nhẹn nhặt chúng lên và vì vội, mảnh chai đâm toạc cả bàn tay má, máu chẩy đầm đìa, vương cả vào áo. Máu chỉ ngưng khi má lấy tấm khăn dầy ở bếp quấn quanh bàn tay má.

Năm phút sau, má đã cho chúng tôi lên giường, vừa hát điệu ru em êm ái, vừa vỗ vai tôi bằng bàn tay lành, còn em gái tôi, má dùng bàn tay đang băng bó vỗ về em ngủ. Tôi nhớ rõ: cái phía di truyền Đức bảo tôi, cậu bé 4 tuổi rằng, “Sao lại vô lý như thế, má hẳn phải đau đớn lắm!”… Trong khi cái phía di truyền Ái Nhĩ Lan nhỏ nhẹ cho tôi hay: “Trời, má hẳn yêu thương chúng con xiết bao”.

Giờ đây, tôi thấy câu truyện trên dạy tôi hai bài học, và chả bài học nào liên quan tới xúc cảm tính của người Xentíc cả. Đây là bài học thứ nhất: nếu bạn muốn biết ơn gọi của người giáo dân là gì, thì chính là ở chỗ này. Người đàn bà má tôi đây đáng lẽ nên nổi giận, có thể tạm thời quên con cái mình để tự chăm sóc cho mình. Trái lại, bà chỉ lo chăm sóc chúng tôi cho tới khi chúng tôi thiếp ngủ.

Trong suốt 20 năm qua, mỗi lần tôi nghĩ cha mẹ tôi chắc mắc bệnh động kinh quá hay ít nhất cũng sống trên mây sao đó, thì hình ảnh trên lại xuất hiện mồn một trong trí nhớ tôi. Và tôi bỗng nghẹn lời. Bạn thấy đó, bạn có thể phớt lờ tình yêu hay cố gắng tránh né nó. Nhưng bạn không có cách chi bác bỏ nó được. Không hề có một “công thức bí mật” nào trong ơn gọi làm giáo dân của người đàn bà này hết. Bà chỉ đơn giản cố gắng yêu thương như Chúa Giêsu từng đã yêu thương, trong những hoàn cảnh thực tiễn của đời sống hằng ngày mà Thiên Chúa đã đặt để bà vào. Và khi làm như thế, bà đã dần dần lên khuôn cuộc đời chúng tôi. Bà trở thành thứ “dễ lây tốt” mà Mẹ Têrêxa hay nói tới.

Tất cả các bạn, có lẽ ai cũng nhớ những con người tương tự như thế trong kinh nghiệm đời mình, bởi nếu không, các bạn đã không hiện diện ở đây. Phong trào tranh đấu giáo dân, các tổ chức giáo dân, và việc giáo dân cộng tác vào việc quản trị công việc của Giáo Hội, tất cả đều là các cơ hội để vinh danh Thiên Chúa. Nhưng “quyền lực” thực sự của người giáo dân không nằm trong tiền bạc hay kỹ năng chuyên nghiệp hoặc địa vị có ảnh hưởng trong nền hành chánh của Giáo Hội. Nó nằm trong chứng tá thánh thiện bản thân. Và ta có cả một luận giải đơn giản nhưng hiển nhiên về việc này. Sẽ không có Giáo Hội nếu không có Thánh Thể. Sẽ không có Thánh Thể nếu không có linh mục. Nhưng cũng sẽ không có linh mục nếu không có người giáo dân dấn thân trong việc đào luyện con cái mình biết lắng nghe tiếng Chúa gọi.

Nếu ta không có đủ linh mục; nếu ta không có đủ các linh mục thánh thiện; thì ta nên xét lương tâm mình trước nhất. Vụ bê bối khủng khiếp mấy năm qua chắc chắn là một bản án đối với các linh mục và giám mục đã giúp tạo ra tai ương ấy. Không điều gì có thể bào chữa cho tác phong của các vị. Nhưng hàng giáo phẩm chỉ có thể bị kết án đến một điểm nào đó mà thôi. Tình dục bừa bãi, lộ liễu không hề là độc quyền của hàng giáo sĩ. Thực tế ra, đàng sau tất cả những giận dữ của người giáo dân đối với thảm họa sách nhiễu tình dục ta thấy ẩn hiện một sự hàm hồ sâu sắc trong đức tin và tác phong của người giáo dân Công Giáo.

C. S. Lewis có lần viết thế này: “Trong vũ trụ, không hề có mảnh đất trung lập; mỗi phân vuông, mỗi tích tắc đều được Chúa nhận là của Người rồi bị Satan nhận làm của nó”. Đức Gioan Phaolô II cũng có lần đã viết “Chống lại tinh thần thế gian, ngày nào, Giáo Hội cũng mở ra một cuộc đấu tranh mới dành lấy linh hồn thế gian”. Còn Henri de Lubac thì viết như sau: Phúc Âm cảnh cáo ta rằng muối có thể mất vị mặn. Còn nếu phần đông chúng ta sống yên ổn giữa thế gian, thì có lẽ vì chính ta đang hâm hấp nửa chừng chăng.

Lời lẽ trên hình như đang mô tả đầy đủ sứ mệnh của ta giữa thế gian; và nó đánh giá đúng mức thái độ hiện nay của ta đối với sứ mệnh ấy. Người giáo dân ngày nay sử dụng ngôn ngữ đức tin khi nó hợp với họ, khi họ cần được trấn an về ý nghĩa đau khổ, thất bại hay chết chóc. Nhưng thông thường, họ không chịu để đức tin của họ điều hướng các chọn lựa hàng ngày, kể cả các chọn lựa chính trị hay kinh tế.

Suốt 40 năm qua, người giáo dân Công Giáo thích ứng với nền văn hóa thế tục một cách hết sức thoải mái; thực vậy, quá thoải mái là đàng khác. Họ đồng hóa với nó một cách quá thành công. Kết quả, người Công Giáo thường là những công dân nhiệt thành hơn là những người Công Giáo nhiệt thành. Thực tế, có thể gọi họ là những người Thệ Phản Công Giáo tốt. Và điều đó tác động sâu đậm không những lên chứng tá bản thân của họ mà cả các giả thiết của họ về bản chất của Giáo Hội nữa.

Điều trên dẫn tôi tới bài học thứ hai trong câu truyện của tôi: Ta có lý khi gọi Giáo Hội là Mẹ. Giáo Hội quả là mẹ chúng ta y hệt người đàn bà trong câu truyện của tôi. Giáo Hội tiếp tục sứ mệnh của Chúa Giêsu Kitô giữa thế gian. Giáo Hội đau khổ vì thế gian, tha thứ, hàn gắn, khuyến khích, sửa chữa và hướng dẫn ta hệt như một người mẹ. Nên bao lâu ta ngưng đừng gọi Giáo Hội là “nó” mà là “bà”, bấy lâu ta hết còn nghĩ về Giáo Hội như một định chế tôn giáo hay một dự án xã hội, và bao lâu ta biết bắt đầu lắng nghe Giáo Hội như lắng nghe một người mẹ, thì Giáo Hội càng chu toàn được sứ mệnh thay đổi và thánh hóa thế gian của mình.

Ta không thể yêu Chúa Giêsu Kitô nếu ta không gặp gỡ Người như một người sống động. Và ta không thể yêu và phục vụ Giáo Hội của Người nếu ta không cảm nhận Giáo Hội như mẹ và thầy của mình. Thiển nghĩ điều này luôn khó khăn đối với chúng ta vì ta vốn gác chân lên cả hai loại xã hội rất khác biệt nhau. Cái bản chất có tính giáo hội, có tính bản thân và gia đình của Giáo Hội thường trực căng thẳng với bản chất thực tiễn, dân chủ, hàng ngang và cả thông tục nữa của nền văn hóa chính trị hiện nay.

Nhưng mối tương quan thích đáng đối với Giáo Hội càng khó hơn nữa đối với các giáo dân hiện phục vụ trong nền hành chánh của Giáo Hội. Khi Đức HY Joachim Meisner của Cologne chỉ trích “các cơ cấu, các ủy ban, các qui chế và các văn phòng” trong Giáo Hội vì đã “làm rối ren đức tin”, lời chỉ trích ngài nhận được cho thấy rõ sự thực của lời nhận xét ấy. Giáo Hội luôn có một hình thức bàn giấy nào đó, bắt đầu với Thánh Máccô làm thư ký cho Thánh Phaolô. Đó là một điều tốt. Các tông đồ tạo ra hàng phó tế chính là để tự giải thoát khỏi các trách vụ thực tế. Thực vậy, không có một hình thức nhân viên nào đó, Giáo Hội ít thực hiện được điều gì đáng giá.

Nhưng điều cũng đúng là: đời sống Giáo Hội càng trở nên định chế hóa, thì hình ảnh mẹ và thầy của Giáo Hội càng trở nên kém hữu hiệu hơn. Cơ cấu bàn giấy đẻ ra các thái độ bàn giấy. Nó làm cạn đức tin bản thân bằng cách lề thói hóa mọi vấn đề tôn giáo thành các sở bộ, các thủ tục và các chính sách vô ngã.

Oái oăm thay, điều các giáo dân khám phá ra khi gia nhập hàng ngũ nhân viên của Giáo Hội trong 30 năm qua chính là điều các linh mục đã phải tranh đấu với từ xưa đến nay: khi đức tin của bạn là công việc bạn làm, và ngày nào bạn cũng cảm nghiệm được thói hư nết xấu và tội lỗi của những con người bất toàn đang ngụ cư và cả đang lãnh đạo Giáo Hội nữa, thì làm sao bạn có thể “yêu” được cái Giáo Hội ấy? Thực thế, làm thế nào bạn có thể coi Giáo Hội như “bà” chứ không phải là “nó” cho được? Bàn tay Chúa ở đâu trong một tuyên bố mục vụ được cóp nhặt lại với nhau từ hàng 300 nhận định cũng như chạy vạy thương thảo bất chính thức?

Thiển nghĩ một số lớn những người lần đầu tiên đến làm việc cho Giáo Hội đều đi đến một trong ba kết luận sau đây. Hoặc họ nghĩ làm việc cho Giáo Hội là mãi mãi nằm trên dải âm thanh của Bình Ca và nhờ thế họ thoát được các tranh chấp của thế giới làm việc ngoài đời. Hoặc họ nghĩ họ có thể chỉnh sửa được các lệch lạc thiếu hiệu nghiệm của Giáo Hội bằng các kỹ năng chuyên nghiệp thế tục của họ. Hoặc họ cho rằng họ cần thấy Giáo Hội thoát ra ngoài thời đại đen tối đối với một số vấn đề luân lý, và họ có thể làm được việc đó từ bên trong. Tất cả những suy nghĩ ấy đều là các công thức đưa đến thất vọng.

Giáo Hội luôn luôn canh tân và luôn cần được canh tân. Nhưng Giáo Hội cũng hết sức linh hoạt khi phải đối diện với cả áp lực bên ngoài lẫn sự ngu đần và cả thối nát bên trong. Giáo Hội từng sinh tồn đã từ rất lâu và đã từng chứng kiến hầu như mọi sự mà đầu óc con người có thể nghĩ tưởng ra, dù xấu hay tốt. Bởi thế, Giáo Hội hành động với một nhịp độ khác hẳn, và do đó, muốn phục vụ tốt cho Giáo Hội, bạn cần một số nhân đức chuyên biệt. Nhân đức đầu tiên là sự chín chắn trưởng thành để thấy ra rằng việc canh tân về định chế sẽ không bao giờ có được nếu không có sự thống hối bản thân, ăn năn bản thân, đức tin bản thân và sự thánh thiện bản thân. Chương trình là điều tốt. Nhưng chứng tá bản thân tốt hơn nhiều.

Người giáo dân phục vụ trong các cơ cấu của Giáo Hội cần một đời sống cầu nguyện linh hoạt hàng ngày để duy trì lòng nhiệt thành và sứ mệnh của mình. Khi những điều đó suy giảm trong cấu trúc nội tâm của họ, thì khả năng làm men cho văn hóa của Giáo Hội cũng sẽ suy giảm một cách nhanh chóng. Khi bạn hết cầu nguyện, bạn trở thành hợm hĩnh; bạn sẽ tập chú vào những thành quả vật chất mà loại vai trò Thiên Chúa ra khỏi sự thành công hay thất bại của việc bạn làm. Thiển nghĩ, phần lớn các bàn giấy trong Giáo Hội có một bách phân những nhà vô thần thực tế hơn là dân số Công Giáo nói chung.

Chính vì thế, mọi giáo dân đang làm việc trong Giáo Hội cũng cần phải vun sới đức khiêm nhường, lòng nhẫn nại và một ý thức hài hước. Người giáo dân vốn có và có thể có ảnh hưởng lớn lao trong việc điều khiển Giáo Hội. Nhiều vị giám mục hiện nay hoan nghinh và trông cậy nhiều vào sáng kiến của giáo dân. Nhưng vai trò của nhân viên giáo dân đôi khi khó nhận ra, và do đó, thành quả của họ đôi khi khá gián tiếp và bị đình trệ. Giáo dân nào khó chấp nhận điều ấy, nên đi tìm việc làm ở nơi khác. Giáo dân nào thiếu óc tưởng tượng để có thể vượt lên trên phương thức làm việc có tính chính trị và kinh tế chắc chắn sẽ không thấy thoải mái. Nếu Giáo Hội thực sự là mẹ và thầy, và là Nàng Dâu của Chúa Kitô, thì dĩ nhiên, Giáo Hội không phải là một viên chức dân cử, không phải là đích nhắm cho các nhóm áp lực nội bộ.

Sau cùng, chúng ta hình như rất kém về ý thức lịch sử. Nhưng đó lại là điều hết sức cần nơi người giáo dân Công Giáo nói chung và nơi những giáo dân đang làm việc cho Giáo Hội nói riêng. Tội lỗi và thất bại chỉ làm ta thất đảm khi thấy chúng ở bên ngoài ngữ cảnh, ngữ cảnh vinh quang Thiên Chúa và chiến thắng Thiên Chúa, mà Giáo Hội vốn là một biểu thức sống động, bất chấp các lầm lỗi tồi tệ nhất của con cái mình và ngay cả các tội lỗi của hàng lãnh đạo Giáo Hội nữa. Thật đáng buồn khi thấy mấy năm qua nhiều giáo dân mô tả gương xấu lạm dụng tình dục như vô tiền khoáng hậu, độc nhất vô nhị trong lịch sử. Ta không tìm cách tối thiểu hóa gương mù gương xấu này. Ai trong chúng ta cũng bất mãn vì nó, cảm thấy nhục nhã vì nó. Chứng tá của Giáo Hội bị thương tổn thảm hại. Nhưng trước khi bị tràn ngập bởi thảm họa ấy, ta đừng nên quên thời Phục Hưng và cả hàng tá thời kỳ khác trong lịch sử trong đó, Giáo Hội từng kinh qua nhiều vấn đề còn trầm trọng hơn thế nữa.

Tội lỗi bao giờ cũng xấu xa, nhưng nó không mới mẻ gì, dù là phát xuất từ hàng giáo sĩ. Và nếu ta muốn làm điều gì đó trong tư cách giáo dân, câu giải đáp không phải là gây chiến để dành lấy quyền lực định chế từng phá hoại bản sắc Giáo Hội. Câu giải đáp là chính ta trở nên những con người thánh thiện, và để Thiên Chúa sử dụng ta cách nào Người muốn, để lên khuôn người khác.

Theo Francis X. Maier, Viện Đức Tin và Lý Trí www.frinstitute.org
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Khám phá những qui luật, điều khó hiểu, bí mật là những tố chất cần có của những nhà tri thức, học giả, những con người may mắn sở hữu các bộ óc có chỉ số thông minh cao. Điều này không những đúng trong khoa học mà còn cả trong tôn giáo. Có hai mẫu truyện sau minh họa cho ý trên...
Lá xanh hay lá vàng có thể “rụng” bất kỳ lúc nào, dù gió to hay gió thoảng; trái xanh hay trái chín cũng có thể được (hay “bị”) người ta “hái” bất cứ lúc nào, dù sáng hay chiều. Không ai muốn nói đến sự chết.
ĐTC PHANXICÔ: TỰ DO XUẤT PHÁT TỪ TÌNH YÊU THIÊN CHÚA VÀ LỚN LÊN TRONG TÌNH BÁC ÁI
Trên cõi đời này, chắc hẳn không ai được sinh ra mà không do sự mang nặng đẻ đau của một bà Mẹ, người Mẹ thực sự là hiện thân của tình yêu thương, người Mẹ như là một tổ ấm, như là một cái nôi từ khi bào thai mới tượng hình trong lòng Mẹ./22 Tháng Tám 2013(Xem: 6491)/
Một ngày nọ tại thành Athens cổ đại, các học trò của triết gia Plato thảo luận với nhau về một câu hỏi hóc búa: “Con người là gì?” Sau khi chưng ra rất nhiều lí lẽ, họ tiến đến một kết luận thế này: “Con người là động vật có hai chân và không có lông.” Dường như ai cũng lấy làm hài lòng về định nghĩa này, mãi cho đến khi Diognens bước vào cuộc tranh luận với một con gà tuy còn sống nhưng bị vặt trụi lông. Ông này la lớn lên rằng: “Nhìn đi thưa quí vị! Tôi gửi đến quí vị này đây một con người!” Ai ai trong cuộc họp cũng sửng sốt bàn tán xôn xao. Đợi đến khi không khí cuộc thảo luận tạm lắng xuống, các triết gia của chúng ta mới ngồi lại với nhau để cùng đưa ra một định nghĩa tốt hơn. Lần này, họ khẳng định: Con người là động vật có hai chân, không có lông nhưng có móng khá lớn.
Người chăm chú theo dõi câu chuyện của anh nhất là cô cháu bé chưa tròn 10 tuổi. Khi anh vừa chấm dứt thì cô bé đã bất thần đặt một câu hỏi như sau: “Thưa cậu, cháu đã thấy cậu làm được nhiều việc vĩ đại... Thế cậu đã làm được gì cho Thiên Chúa chưa?”//12 Tháng Mười Một 2012(Xem: 5092) Nguon XudoanThanhTam
Mẹ của con, ôi cao vời khôn sánh Dạy dỗ con nào ai biết bao điều Nên con viết cho Mẹ biết bao nhiêu Cầu xin Chúa ban ơn lành cho Mẹ./12 Tháng Năm 2012(Xem: 9682)/
Ngày còn nhỏ, tôi rất mê đọc truyện kiếm hiệp, và hình ảnh một môn sinh hoàn tất công việc học hỏi, bái tạ thầy để xuống núi luôn luôn là một hình ảnh gây xúc cảm. Người môn sinh sau một thời gian rất dài theo thọ giáo đã được vị thầy khả kính truyền hết bí quyết võ thuật, kiếm thuật...đôi khi cả những tuyệt chiêu mà chỉ có những môn sinh tài đức vẹn toàn mới được thầy thương mến truyền cho/24 Tháng Bảy 2012(Xem: 6420) Đặng Xuân Hường/
Khi cuộc sống trở nên phức tạp, hãy tìm sự an ủi nội tâm nơi Lời Chúa. Dưới đây là tuyển tập các đoạn Thánh Kinh nhằm thêm sức mạnh trong những lúc khó khăn của cuộc đời. 1 - “Đừng sợ, vì Ta đã chuộc ngươi về, đã gọi ngươi bằng chính tên ngươi: ngươi là của riêng Ta! " (Is 43, 1). 2 - “Kẻ cậy chiến xa, người nhờ chiến mã, phần chúng tôi, chỉ kêu cầu danh CHÚA là Thiên Chúa chúng tôi” (Tv 20,8). 3 - “Và toàn thể đại hội này sẽ biết rằng không phải nhờ gươm, nhờ giáo mà ĐỨC CHÚA ban chiến thắng, vì chiến đấu là việc của ĐỨC CHÚA và Người sẽ trao các người vào tay chúng ta!” (1 Sm 17, 47). 4 – “Phúc thay kẻ đặt niềm tin vào ĐỨC CHÚA, và có ĐỨC CHÚA làm chỗ nương thân.” (Gr 17,7)
Ngày nay nền móng gia đình, tế bào cơ bản của xã hội nhân loại, đang càng ngày càng bị xói mòn một cách khủng khiếp bởi những trào lưu tự do luyến ái thái quá, nam nữ sống chung không cần hôn thú hay kiểu sống “tiền dâm hậu thú” mà gọi là “sống thử”.../11 Tháng Sáu 2012 (Xem: 6477) /
Bảo Trợ