Tại Sao Gọi Là Dòng Kín?

05 Tháng Năm 201511:27 CH(Xem: 1521)
Nói đến “Dòng kín”, trong đầu óc chúng ta nảy lên quang cảnh “kín cổng cao tường”. Nói được là hầu như nhà Dòng nào cũng kín cổng cao tường. Kẻ xấu miệng thì cho rằng xây hàng rào như vậy để ngăn cản người bên trong khỏi trốn ra ngoài. Ngược lại, kẻ khác cho rằng cần phải cất hàng rào để người bên ngoài đừng ập vào bên trong, nhất là nếu đó là một tu viện gồm nhiều thiếu nữ trẻ đẹp. Có lẽ phía nào cũng có lý hết, bởi vì lịch sử của các tường cổng của các nhà dòng vừa dài lại vừa đa dạng. Chỉ có thể tóm tắt đại cương như thế này.

 dong-kin

Chúng ta thấy có một sự tiến triển trong việc thiết lập địa điểm các tu viện. Hồi thế kỷ IV, những đan sĩ đầu tiên rời bỏ thành thị rút lên nơi hoang vắng để đi tìm Chúa. Họ sống hoàn toàn cách biệt với người đời. Các đan viện được cất trên núi cao đồi vắng. Nhưng dần dần, thiên hạ kéo đến lập cư xung quanh nhà dòng; và đặc biệt từ thời Trung cổ, ngoài các đan sĩ, lại xuất hiện các tu sĩ hoạt động tông đồ. Từ đó, người ta thấy có những đan viện và tu viện dựng lên ở nơi hoang vắng, nhưng cũng có không ít tu viện được cất ở giữa các làng mạc hoặc thành thị, gần kề với dân chúng. Từ đó, vấn đề kín cổng cao tường được đặt lên do những lý do khác nhau. Một lý do thực tiễn là để xác định ranh giới của nhà dòng, không những tránh cảnh lấn đất mà còn để phòng thủ vào thời chiến tranh loạn lạc.

 

Ngoài yếu tố đặt ra do hoàn cảnh kinh tế chính trị, một yếu tố thiêng liêng sớm được xen vào, đó là biểu hiệu của sự tách ly giữa nếp sống tu trì và đời sống trần tục. Cho dù nhà dòng được cất ở trung tâm đô thị đi nữa, nhưng các tu sĩ cần phải nhớ rằng họ đã từ bỏ đời. Bức tường vật lý được cất lên như là để ngăn chặn sự xô bồ của thế gian, tạo nên một khung cảnh thinh lặng, một thứ sa mạc để người tu sĩ dễ gặp gỡ Thiên Chúa.

 

Nói thế thì tất cả dòng tu đều là dòng kín hay sao?

Trên lý thuyết thì quả đúng như vậy. Tất cả các nhà dòng đều dựng lên một thứ rào dậu nào đó để nói lên sự tách biệt thế trần. Trên thực tế, tiếng “dòng kín” được dành riêng cho một hình thức tu trì của nữ giới. Tỉ lệ các Dòng kín trong tổng số các Dòng tu không cao lắm. Lý do không có gì khó hiểu: nếp sống của họ không khác chế độ nhà tù là mấy; rất ít khi họ đi ra ngoài.

 

Tại sao lại bày ra chế độ tu trì ngặt nghèo như vậy?

 

Lúc nãy tôi đã nói rằng lịch sử bức tường của các nhà dòng vừa dài lại vừa phức tạp. Riêng đối với nữ giới, lịch sử của nó phức tạp gấp đôi. Vào thế kỷ IV, khi phong trào đan tu xuất hiện, nhiều tín hữu rút lên hoang địa để phụng sự Thiên Chúa. Nhưng đó là nói về nam giới, chứ các bà làm sao sống một mình trên rừng núi được! Đừng kể nguy hiểm thú rừng bốn cẳng, họ đâu đủ sức chống chọi với thú hai chân? Vì thế sự tiến triển đời sống tu trì của nữ giới hơi khác biệt với nam giới.

 

Lúc đầu, các trinh nữ tận hiến sống tại gia đình; dần dần họ tụ họp thành cộng đoàn. Nhưng nói chung, vì lý do an ninh, cộng đoàn các trinh nữ toạ lạc ở thành thị hay làng mạc chứ không phải ở trên rừng núi. Một điểm son của các trinh nữ là họ mở màn cho phong trào giải phóng phụ nữ. Như chị đã biết, trong xã hội cổ truyền, bên Tây phương cũng như bên Đông phương, công tác chính của phụ nữ giới hạn vào việc nội trợ tề gia. Thế nhưng các trinh nữ tận hiến không những chuyên lo việc phụng thờ Thiên Chúa mà còn dấn thân vào các công cuộc bác ái xã hội nữa. Cách riêng, khi sống thành cộng đoàn, họ chứng tỏ khả năng quán xuyến tự lập, không lệ thuộc vào nam giới như những phụ nữ có chồng.

 

Thế nhưng, bên cạnh điểm son cũng không thiếu những vết lọ, tuy không phải lỗi tại các nữ tu. Từ thế kỷ VIII, giáo quyền đã ban hành nhiều quy luật liên hệ tới clausura, nghĩa là nội cấm của các nữ tu. Có những khoản có giá trị tương đương cho cả nam giới lẫn nữ giới, có những khoản áp dụng riêng cho nữ giới. Những giá trị chung cho cả nam giới lẫn nữ giới đã được nhắc đến trên đây, nghĩa là biểu hiệu cho sự xa cách trần tục. Một giá trị nữa là ngăn chặn hiện tượng lang thang của vài đan sĩ thời đó, mà dấu vết còn để lại nơi lời khấn vĩnh cư trong luật thánh Biển đức. Riêng đối với nữ giới, luật nội vi có những khoản nghiêm nhặt hơn nam giới: các nam tu đi ra ngoài dễ dàng hơn, nhất là khi hoạt động tông đồ; còn các nữ tu thì khó hơn.

 

Tại sao vậy?

Phần nào có lẽ do não trạng thời đó: các phụ nữ nên ở nhà hơn là đi ra ngoài. Nhưng còn một lý do khác vẫn còn giá trị kể cả khi bước sang thiên niên kỷ thứ ba, đó là khá nhiều cặp mắt theo dõi các bà các cô (cũng như có thể bị các bà các cô liếc lại). Vì thế cần phải cài then đóng cửa các nữ tu viện chặt chẽ, kiểm soát các lối ra vào. Lúc đầu, đó là những biện pháp kỷ luật cần thiết, nhưng chỉ áp dụng cho vài địa phương mà thôi. Một khúc quặt xảy ra vào thế kỷ XIII, với hai hiện tượng. Thứ nhất, các nữ tu thánh Clara đoan hứa tuân giữ nếp sống nội cấm, nghĩa là không bước ra khỏi tu viện. Đây là khởi điểm của Dòng kín theo nghĩa chặt. Thứ hai, sắc chiếu (bulla Periculoso) của đức giáo hoàng Bonifaxiô VIII năm 1298 mở rộng tầm áp dụng nội cấm cho hết các nữ tu. Sự tiếp xúc với thế giới bên ngoài bị giới hạn.

 

Tại sao biện pháp này được đặt ra?

 

Văn kiện viện dẫn nhiều lý do: thứ nhất có tính cách kỷ luật, nhằm bảo vệ sự trinh tiết của phụ nữ. Nội cấm vừa hạn chế sự đi ra của các nữ tu vừa hạn chế sự đi vào của nam giới dù là giáo sĩ, tu sĩ, giáo dân, họ hàng. Kế đó, thêm vào lý do thứ hai mang tính cách huyền nhiệm, nhằm hỗ trợ cho đời sống chiêm niệm. Các nữ tu chỉ ở trong nhà dòng lo việc thờ phượng Chúa. Những công chuyện mua bán thương mại đòi hỏi sự giao dịch với người đời được giao cho những người giúp việc.

 

Dù sao, cũng nên lưu ý là tuy bản văn pháp lý của Toà thánh ra đời vào cuối thế kỷ XIII, nhưng tầm áp dụng của nó không chặt chẽ cho lắm. Nhiều nữ tu vẫn đi ra ngoài hoạt động, nổi tiếng nhất là thánh Têrêsa Avila. Bà đi lại để lo việc thiết lập và kinh lý các đan viện cải tổ. Nhưng có lẽ bà không ngờ rằng công cuộc cải tổ sẽ bó chân bà lại. Thực vậy, công đồng Trentô năm 1563 (sessio XXIV, De regularibus, cap.5) đã ra vạ tuyệt thông cho những ai vi phạm luật nội cấm của nữ tu, và nhất là đức giáo hoàng Piô V, với hiến chế Circa Pastoralis (29/5/1566) đã bắt buộc tất cả các nữ tu phải sống trong nội cấm.

 

Trước đây, nội cấm được áp dụng cho những Dòng nào tình nguyện chấp nhận chế độ đó. Nhưng có nhiều nữ tu khác chuyên lo công tác xã hội thì không thể nào sống trong nội cấm. Với văn kiện của đức Piô V, tất cả các nữ tu đều buộc rút lui vào nội cấm; nói cách khác, tất cả các Dòng nữ đều trở thành Dòng kín. Ai không chấp nhận sống trong nội cấm thì không được nhìn nhận là nữ tu. Điều này xảy ra cho các “Nữ tử Bác ái” của thánh Vinh-sơn Phaolô. Vị thánh này muốn cho con cái mình đi giúp đỡ người nghèo nên không để họ sống trong nội cấm; quyết định đó đưa tới hậu quảlà giáo luật không nhìn nhận họ là nữ tu theo nghĩa chính thức; họ chỉ có lời khấn tư mà thôi.

 

Nhưng mà ngày nay đâu phải tất cả các nữ tu đều là Dòng kín?

Do nhiều hoàn cảnh chính trị xã hội tại Âu châu từ thế kỷ XVIII-XIX, bộ mặt của các Dòng tu đã thay đổi khá nhiều. Một đàng, tại nhiều quốc gia, các Dòng nữ bị chính quyền giải tán. Các nữ tu tiếp tục nếp sống của họ dưới hình thức khác, không được ở trong nội cấm nữa.

 

Đàng khác, đứng trước những thảm cảnh xã hội tựa như các trẻ em mồ côi, các thiếu nữ thất học, các bệnh nhân thiếu người chăm sóc, nhiều giám mục, linh mục và chính các phụ nữ đã thành lập các hội dòng chuyên về những công tác cứu tế, giáo dục, bác ái. Các hội dòng này được giáo luật nhìn nhận như là nữ tu với hiến chế Conditae a Christo ngày 8/12/1900 của ĐGH Lêô XIII. Từ đó, chúng ta thấy có hai nếp sống tu trì của các Dòng nữ: những Dòng sống trong nội cấm và những Dòng không sống trong nội cấm.

 

Nói cho đúng cần phải phân biệt nhiều cấp độ nội cấm hay nội vi. Ngay cả trong bộ giáo luật hiện hành, ban hành năm 1983, tất cả các Dòng tu bất luận nam nữ đều phải duy trì nội vi (điều 667). Nội vi là dấu hiệu của sự dâng hiến tu trì, và cũng là hàng rào bảo vệ nếp sống huynh đệ cộng đoàn. Cách thức áp dụng nội vi thì tùy theo bản chất của mỗi Dòng cũng như tùy theo tục lệ của mỗi địa phương.

 

Ngoài luật nội vi tổng quát, giáo luật quy định một loại nội vi khác chặt chẽ hơn, tục gọi là “nội vi giáo hoàng” đối lại với “nội vi hiến pháp”. Những dòng giữ nội vi chặt chẽ gọi là Dòng kín, (thí dụ ở Việt Nam, nổi tiếng hơn cả là Dòng kín Carmêlô và dòng thánh Clara). Kỷ luật nội vi được ấn định do huấn thị Venite seorsum của Bộ tu sĩ ngày 15/8/1969, và được cập nhật hóa với huấn thị Verbi Sponsa ngày 13/5/1999. Việc tiếp xúc của các dòng này với ngoại giới rất bị hạn chế: các nữ tu chỉ được ra khỏi nội vi trong những trường hợp nói được là khẩn trương. Đối lại những người bên ngoài (kể cả các nữ tu Dòng khác) cũng không dễ gì đi vào bên trong nội cấm. Tuy nhiên, điều quan trọng đáng ghi nhận là trước khi đi vào các quy định pháp lý, cả hai văn kiện đều dành phần đầu để trình bày những động lực và lý do của nếp sống hơi kỳ lạ này.

 

Nói cách vắn tắt, nội cấm là biểu hiệu của sự xa cách nếp sống xô bồ thế tục, nhằm tạo ra một khung cảnh sa mạc tĩnh mịch thiêng liêng, giúp cho đời sống chiêm niệm. Vì thế mà các Dòng nữ chọn lựa kỷ luật nội cấm chặt chẽ (nói nôm na là Dòng kín) cũng được gọi là Dòng chiêm niệm, tuy vẫn biết rằng có nhiều dòng chiêm niệm mà không phải là Dòng kín (Đây là đề tài của một văn kiện Bộ tu sĩ năm 1980 về “Chiều kính chiêm niệm của đời tu”).

 

Ngoài động lực biểu hiệu sự tĩnh mịch, đời sống nội cấm cũng là biểu hiệu của việc thông dự vào mầu nhiệm Vượt qua của đức Kitô. Các dòng kín diễn tả sự thông dự vào mầu nhiệm Tử nạn qua việc chấp nhận sự hy sinh vài giá trị đáng quý, như là sự đi lại, giao tiếp, chuyện trò, vv. và thậm chí hy sinh luôn cả hoạt động tông đồ trực tiếp. Hình thức tông đồ đặc thù của họ là thinh lặng cầu nguyện, và hy sinh. Nếp sống của họ cũng bắt buộc họ thực hành sự khó nghèo cách khá triệt để, bởi vì họ không có nguồn lợi kinh tế dồi dào.

 

Như đã nói trên đây, ngày nay tỉ lệ các Dòng kín không cao trong tổng số các Dòng tu. Điều này ngược lại với ý định của Đức Piô V khi bó buộc tất cả các nữ tu phải trở thành Dòng kín. Trên thực tế, việc tu Dòng kín đòi hỏi nhiều điều kiện khắt khe hơn là tu Dòng hoạt động. Theo tôi nghĩ, (và nghĩ hơi bậy) một trong những sự khó khăn không nhỏ là điều kiện sinh sống của phụ nữ ngày nay. Trong xã hội cổ thời, chỗ đứng của phụ nữ là ở trong nhà; còn việc làng xã là của đàn ông. Ngày nay, vai trò đã đổi ngược. Nếu trong tương lai có ai lập Dòng kín dành cho các ông thì có lẽ cũng là điều dễ hiểu.

 

Lm. Giuse Phan Tấn Thành, OP.
Theo Conggiao.info

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
– Vào thứ Ba 8-12-2020, Đức Giáo hoàng Phanxicô đã công bố Năm Thánh Giuse, để kỷ niệm 150 năm ngày thánh nhân được công bố là người bảo trợ Giáo hội hoàn vũ. Đức Giáo hoàng Phanxicô cho biết ngài thiết lập Năm Thánh này để “mọi tín hữu theo gương Thánh Giuse, củng cố đời sống đức tin bằng cách hằng ngày thực hiện trọn vẹn ý muốn của Chúa.” Dưới đây là những điều bạn cần biết về Năm Thánh Giuse: Tại sao lại có những năm được mang các chủ đề cụ thể (từ Giáo hội)? Giáo hội cử hành diễn trình của thời gian qua lịch phụng vụ - bao gồm các lễ như Phục sinh và Giáng sinh, và các mùa như Mùa Chay và Mùa Vọng. Ngoài ra, các vị Giáo hoàng còn có thể dành riêng những khoảng thời gian nào đó để Giáo hội suy ngẫm sâu sắc hơn về một khía cạnh cụ thể của giáo huấn hoặc niềm tin Công giáo. Một số năm trước đây đã được các vị giáo hoàng gần đây chọn lựa như thế, bao gồm Năm Đức Tin, Năm Thánh Thể và Năm Thánh Lòng Thương Xót.
Tại Việt Nam, ít ai biết được rằng 150 năm trước khi thi hào Nguyễn Du qua đời (1820), văn chương Công giáo đã có một tác phẩm lục bát bằng chữ Nôm đạt mức tuyệt tác: Tác phẩm Sấm Truyền Ca (1670), diễn ca 5 quyển đầu của Cựu Ước, do cha Lữ Y Đoan, một trong những linh mục thế hệ đầu của địa phận Đàng Trong. Cũng chính năm 1820 tác phẩm được phiên âm sang chữ quốc ngữ. Sau một vận mệnh hẩm hiu suốt hơn ba trăm năm, cuối thế kỷ XX chỉ còn hơn 1/5 tác phẩm sống sót: Sách Sáng Thế Ký (Tạo đoan kinh) và 21 chương đầu của sách Xuất Hành (Lập quốc kinh). Năm 1993 một số trí thức Công giáo đã thực hiện hồ sơ “Về các tác giả Công giáo thế kỷ XVII-XIX”, do Khoa Ngữ Văn, Đại học Tổng hợp Tp HCM ấn hành. Quyển sách đã giới thiệu tác phẩm Sấm Truyền Ca đến công chúng.
Từ ngữ: tuyên thánh đúng hơn là phong thánh: Từ phong thánh quen dùng trong tiếng Việt, nguyên ngữ từ tiếng Hy Lạp “Kanon” có nghĩa là thước đo hay tiêu chuẩn hay được nhìn nhận là có giá trị. Ý nghĩa nầy được tìm thấy trong động từ canonizare của tiếng La tinh, rồi canoniser trong tiếng Pháp và Canonize trong tiếng Anh. DHYThuan-ChaDiep.jpg Những tín hữu trong thế kỷ đầu đã phong thánh cho các Tông Đồ khi gọi các Ngài là Thánh. Những vị tử đạo cũng được gọi là thánh. Rồi những thế kỷ kế tiếp, những giáo dân có đời sống thánh thiện, nêu gương sáng và thành mực thước cho người đời cũng được tuyên bố “đang ở trên thiên đàng” tức là thánh. Như vậy theo từ Kanon và theo truyền thống, Giáo Hội không hề phong thánh hay không hề làm cho ai thành thánh cả. Giáo Hội, qua thời gian cầu nguyện lâu dài và qua những phép lạ được thực hiện nhờ lời chuyển cầu của ...
I. Nữ vương các thánh tử đạo 1) Tại sao Đức Maria được gọi là Nữ vương các thánh tử đạo? 2) Tại sao chọn Nữ vương các thánh tử đạo làm bổn mạng tỉnh dòng? 3) Tỉnh dòng có tình cảm gì đối với Nữ vương các thánh tử đạo? II. Nữ vương các chứng nhân 1) Tân ước có nền tảng cho tước hiệu Đức Maria “Nữ vương các chứng nhân” không? 2) Đức Maria đã sống đời chứng nhân đức tin như thế nào? 3) Tước hiệu “Nữ vương các chứng nhân” có ý nghĩa gì đối với chúng ta? ————- Đây không phải là lần đầu tiên tôi được mời chia sẻ với anh em nhân dịp bổn mạng tỉnh dòng. Vì không muốn lặp lại những điều đã trình bày cho nên năm nay tôi muốn tìm một lối tiếp cận mới liên quan đến danh hiệu bổn mạng tỉnh dòng, qua tựa đề: “Nữ Vương các tử đạo hay Nữ vương các chứng nhân?” Xin anh em hãy kiên nhẫn chịu tử đạo khi nghe bài suy niệm hơi dài, và có thể gây nhiều cú sốc.
Phan Tấn Thành Tại một số nhà thờ mới cất bên Việt Nam, người ta thấy trên Thập giá thay vì tượng Chúa chịu nạn lại có tượng Chúa Phục sinh hay Linh mục Thượng phẩm. Tại sao lại có sự thay đổi ấy? Từ sau công đồng Vaticanô II, người ta chứng kiến một số thay đổi trong lãnh vực phụng vụ. Thoạt tiên xem ra có vẻ mới, và khiến cho có người băn khoăn: phải chăng công đồng Vaticanô II đã thay đổi đức tin của Giáo hội? Thế nhưng nếu xét kỹ ra, thì nhiều sự thay đổi không hoàn toàn mới nhưng lấy lại truyền thống từ lâu đời của Giáo hội mà thôi. Tỉ như ngôn ngữ dùng trong phụng vụ: vào những thế kỷ đầu, phụng vụ được cử hành bằng tiếng địa phương, và thậm chí tại Rôma ngôn ngữ của phụng vụ là tiếng Hy-lạp, tức là tiếng giao thông thương mại thời đó, chứ không phải là tiếng La-tinh. Ta cũng có thể nói một cách tương tự như vậy về việc thay đổi tượng Chúa chịu nạn bằng tượng Chúa Phục sinh: đây không phải là sự canh tân, song là trở về nguồn.
Trả lời: Vâng, quả thật hộp sọ xuất hiện rất thường xuyên trong nghệ thuật Ki-tô Giáo và ngay cả ngày nay. Tôi có thể hiểu câu hỏi của bạn về thực hành này; bởi vì việc đặt hộp sọ ở khắp mọi nơi có vẻ như là một cái gì đó không lành mạnh – đặc biệt đối với những người đang sống trong một xã hội tiêu dùng và thế tục, nơi người ta thường lảng tránh suy nghĩ về những điều sâu sắc chẳng hạn như cái chết và những gì xảy ra sau đó. Một hộp sọ lành mạnh Khi nghệ thuật Ki-tô Giáo miêu tả những hộp sọ ở gần các vị thánh, nó tượng trưng cho sự khôn ngoan và thận trọng của các ngài. Hộp sọ là hình ảnh đại diện một cách sống động và hấp dẫn về cái chết của con người.
Giải đáp của Cha Edward McNamara, Dòng Đạo Binh Chúa Kitô (LC), giáo sư phụng vụ của Đại học Regina Apostolorum (Nữ Vương các Thánh Tông Đồ), Rôma. Hỏi: Thưa cha, liệu Thánh lễ cầu cho người khi còn sống là hiệu lực hơn (mạnh hơn) so với Thánh lễ cầu nguyện sau khi đã chết không? Thánh Anselmô (Anselm) và ĐGH Biển Đức XV đã nói Thánh lễ cầu cho khi còn sống là hiệu lực hơn. Xin cha bình luận việc này cho nhiểu người biết. - S. T., Chicago, Hoa Kỳ Đáp: Trong khi bạn đọc trên không cung cấp nguồn của các ý kiến này của thánh Anselmô (Anselm) và ĐGH Biển Đức XV, tôi vẫn cho đó là ý riêng của bạn ấy.Bằng cách nào chúng ta có thể nói rằng Thánh Lễ này là "mạnh hơn" (hiệu lực hơn) so với Thánh lễ kia?
Phụng vụ mừng lễ Các Thánh vào ngày đầu tháng 11, và ngày hôm sau, tưởng nhớ các người qua đời. Xét theo nguồn gốc lịch sử, lễ kính nào ra đời trước: việc kính nhớ các người qua đời có trước, hay lễ các thánh có trước? Linh mục Phan Tấn Thành trả lời. Để trả lời câu hỏi này, chúng ta phải phân biệt nhiều vấn đề. Việc kính nhớ các linh hồn qua đời là một chuyện, còn việc dành ra một ngày trong năm để tưởng nhớ tất cả các linh hồn là chuyện khác. Một cách tương tự như vậy, kính nhớ các thánh là một chuyện, còn dành ra một ngày để kính nhớ tất cả các thánh là một chuyện khác. Chúng ta sẽ cố gắng đi từng bước một: chúng ta hãy khởi hành với thực tại ngày nay, rồi chúng ta sẽ đi lùi ngược lại dòng lịch sử. Ngày nay lễ tưởng nhớ các người qua đời diễn ra vào ngày hôm sau lễ các thánh. Từ khi nào lịch phụng vụ ấn định việc cử hành hai ngày lễ đó?
Cùng với lời kinh cầu nguyện với Đức Mẹ đã được Đức Thánh Cha đọc trong video trong Thánh lễ do Đức Hồng y Giám quản Roma cử hành tại đền thánh Đức Mẹ Tình yêu Chúa ngày 11/03 vừa qua, Đức Thánh Cha đề nghị thêm một kinh nguyện để các tín hữu cầu nguyện vào cuối buổi đọc kinh Mân Côi, xin Đức Mẹ bảo vệ thế giới khỏi đại dịch. Hồng Thủy - Vatican
Đây là lời nguyện chính thức của Hội đồng Giám mục Việt Nam để cầu nguyện trong cơn dịch bệnh Covid-19. Lạy Thiên Chúa Ba Ngôi toàn năng chúng con đang họp nhau cầu nguyện, tha thiết nài xin cho cơn dịch bệnh mau chấm dứt. Lạy Chúa Cha giàu lòng thương xót xin nhìn đến nỗi thống khổ của đoàn con trên khắp thế giới, đặc biệt tại những nơi dịch bệnh đang hoành hành. Xin củng cố đức tin của chúng con, cho chúng con hoàn toàn tín thác vào tình yêu quan phòng của Cha. Lạy Chúa Giêsu là Đấng cứu độ duy nhất, là vị lương y đầy quyền năng và lòng thương xót, xin thương cho các bệnh nhân sớm được chữa lành, và an ủi các gia đình đang gặp khó khăn thử thách. Xin cho lời chúng con khiêm tốn cầu nguyện, được chạm tới trái tim nhân lành của Chúa, xin giảm bớt gánh nặng khổ đau, và cho chúng con cảm nhận được bàn tay Chúa đang ân cần nâng đỡ chúng con.
Bảo Trợ