Cuộc Khổ Nạn Của Chúa Giêsu

31 Tháng Ba 201510:09 CH(Xem: 1393)
Theo linh mục Victor Hoagland, Dòng Khổ Nạn (Passionist), cái chết khổ nhục đau đớn và công khai của Chúa Giêsu qua hình phạt đóng đinh là một câu truyện được các Kitô hữu kể lại vì nó hết sức chủ yếu đối với đức tin của họ. Đây là câu truyện chính Chúa Giêsu đã thuật lại trước hết, Đấng đã sống lại từ cõi chết.

I. Chính Người mạc khải

Như ta thấy ngày nay, Cuộc Khổ Nạn của Chúa Giêsu sẽ không bao giờ được truyền tụng qua các thế kỷ, nếu chính Chúa Giêsu không biến nó thành một phần trong mặc khải Phục Sinh của Người. Các sử gia thời Người không bao giờ nhắc đến nó; Chúa Giêsu quá vô nghĩa không đủ để họ chú ý. Mà giả dụ Người có đáng để ý chăng nữa, thì câu truyện đóng đinh vẫn khó mà được thuật lại. Rải rác lắm mới có một vài lời nhắc tới việc đóng đinh trong các trước tác của người đương thời với Chúa Giêsu; tất cả những người này đều tởm gớm hành vi man rợ này. 
jesus_cross_crucifixion
Cả các môn đệ của Chúa Giêsu nữa, để mặc họ, không ai kể lại cho ta câu truyện này cả. Thực thế, các Tin Mừng mô tả các môn đệ của Người hoàn toàn thất vọng bởi các biến cố diễn ra tại Giêrusalem trong những ngày định mệnh kia; họ không muốn thuật lại sự thất bại ê chề ấy, cũng là sự thất bại của chính họ. Ta hãy đọc lại trình thuật nói về hai môn đệ rời thành phố vào ngày Phục Sinh để trẩy đi Emmau (Lc 24:13-35). Họ là những môn đệ muốn vứt lại phía sau cái ký ức khủng khiếp của Ngày Thứ Sáu Tuần Thánh. Không, tự ý họ, họ sẽ không bao giờ để lại cho chúng ta câu truyện về những gì chính họ được chứng kiến.

Chính Chúa Giêsu, khi sống lại từ cõi chết, đã dẫn khởi việc thuật lại câu truyện khổ nạn và cái chết của Người, và Người đã thay đổi ý nghĩa của nó mãi mãi. 

Các tin mừng Phục Sinh đều mô tả về nó. Hiện ra với các môn đệ vào hôm đó “Chúa Giêsu đến đứng giữa họ và nói: ‘Bình an cho các con’. Khi nói điều đó, Người giơ tay và cạnh sườn Người cho họ thấy. Lúc ấy, các môn đệ rất vui mừng vì được thấy Chúa” (Ga 20:19-21). Cuốc bộ với hai môn đệ trên đường Emmau cùng ngày này, Chúa Giêsu nói: “Há không cần thiết sao việc Chúa Kitô phải chịu những sự việc ấy mới vào được vinh quang của Người?’ Rồi bắt đầu với Môsê và mọi tiên tri, Người giải thích cho họ mọi điều Thánh Kinh nói liên quan tới Người” (Lc 24:26-27). Các trình thuật Khổ Nạn như ta có hiện nay trong các Tin Mừng đã phát triển từ việc kể lại đầu tiên bởi Chúa Kitô Sống Lại. 

Cuộc Khổ Nạn của Chúa Giêsu là một câu truyện Phục Sinh, và do đó, nó đem lại niềm hy vọng. Sống lại từ cõi chết, Chúa Giêsu không dấu diếm các thương tích của Người; Người giơ chúng ra cho các môn đệ xem thấy. Chúa Giêsu không bác bỏ các đau khổ và cái chết của Người như một thất bại đáng xấu hổ; Người mặc khải quyền năng Thiên Chúa nơi chúng. Và thay vì là một câu truyện lên án họ, Chúa Giêsu đã làm trái tim các môn đệ bừng cháy lên bằng cách tưởng nhớ tới nó, và đem họ tới niềm vui khôn tả. 

Và do đó, chúng ta lưu giữ trong tâm trí cuộc Khổ Nạn của Người như một câu truyện Phục Sinh. Không nên mổ xẻ nó bằng con mắt sử gia, dù nó bắt nguồn từ lịch sử. Đúng hơn, giống các môn đệ Emmau, ta nên nhìn nó từ viễn tượng đau khổ và nan đề của chính ta. Và cũng như đối với các môn đệ xưa, Chúa Kitô Phục Sinh cũng sẽ giúp ta tái giải thích đời ta dưới ánh sáng đời Người. Từ mầu nhiệm này, ơn phúc mênh mông sẽ tuôn chẩy ra: ơn hân hoan, kiên vững và cảm thương.

Các dòng này được viết ra để ta lưu giữ mầu nhiệm vĩ đại trên trong tâm trí. Nó là câu truyện cứu rỗi của ta, câu truyện hy vọng của ta. Như một cuốn sách khôn ngoan và dịu dàng, nó cho ta hay phải suy nghĩ ra sao về cuộc đời, phải sống như thế nào, phải sử dụng thế giới này ra sao, phải chờ mong điều gì, phải hy vọng những gì. 

Thánh nữ Julian thành Norwich từng nói: “cuộc Khổ Nạn của Chúa Kitô là niềm an ủi cho ta. Người an ủi ta cách sẵn lòng và nhân hậu và cho hay: mọi sự sẽ đâu vào đó, và mọi loại sự vật đều sẽ đâu vào đó cả”.

Mục tiêu của càc dòng này là chia sẻ niềm an ủi của tình yêu Thiên Chúa, như đã được tỏ hiện nơi cuộc Khổ Nạn của Chúa Giêsu. 

Cuộc Khổ Nạn của Chúa Giêsu: Lịch sử và ký ức sống động

Theo Cha Donald Senior,C.P., cuộc Khổ Nạn của Chúa Giêsu vừa là một biến cố lịch sử bắt nguồn từ quá khứ vừa là một ký ức sống động đầy năng lực đem lại ý nghĩa cho hiện tại. 

Là một biến cố quá khứ, cuộc Khổ Nạn của Chúa Giêsu diễn ra đâu đó khoảng năm 30 CN trong thế giới đầy biến động của Do Thái Giáo tại Palestine, thế kỷ thứ nhất. Chúa Giêsu, lúc ấy đang là một vị thầy tôn giáo đầy thuyết phục, bị bắt ở Giêrusalem và bị xử đóng đinh công khai, một hình thức tử hình của người Rôma. Các Tin Mừng mô tả cái chết của Chúa Giêsu như đỉnh cao sứ mệnh của Người, hành vi yêu thương và phục vụ vô vị lợi cuối cùng dùng để niêm ấn cho một cuộc đời hoàn toàn dấn thân cho người khác. Cái chết của Chúa Giêsu làm chứng một cách tiên tri cho chính nghĩa công lý của Thiên Chúa. Bất chấp chống đối và thù nghịch nhắm vào mình và sứ mệnh của mình, Chúa Giêsu vẫn trung thành đến tận cùng và cuối cùng đã được tình yêu Thiên Chúa, một tình yêu mạnh hơn sự chết, làm cho sáng tỏ. 

Nhưng đối với đức tin Kitô Giáo, cuộc Khổ Nạn của Chúa Giêsu không đơn thuần chỉ là một cái chết anh hùng và thương tâm bị giới hạn vào lịch sử đã qua. Cuộc khổ nạn này tiếp tục sống mãi trong đức tin và cảm nghiệm của cộng đồng Kitô Giáo. Qua hiệp thông huyền nhiệm của Thiên Chúa với nhân loại, các đau khổ của Chúa Giêsu tiếp tục nơi sự đau khổ của mọi con cái Thiên Chúa, cho tới tận thời khắc hiện nay. Người già lo lắng và cô đơn trong viện dưỡng lão hướng mặt về phía tượng chịu nạn treo trên tường. Bậc cha mẹ đớn đau khôn lường vì mất đứa con thân yêu đang khụyu đầu gối như Chúa Giêsu trong Vườn Diệtsimani. Người tị nạn mất nhà mất cửa, mất hết vợ con, vì bạo lực bất nhân và không bút nào tả xiết đang kêu cầu như Chúa Giêsu “Lạy Chúa, Lạy Chúa, tại sao Chúa bỏ rơi con?”. Nhà lãnh tụ dưới sự đe dọa của cái chết vẫn cứ nói sự thật về chế độ bạo tàn vì nhớ lại rằng tiên tri Giêsu vẫn cứ hướng mặt mình về Giêrusalem. Người y tá lau mồ hôi khỏi trán một bệnh nhân AIDS mà nhận ra gương mặt của Chúa Giêsu chịu đóng đinh. 

Cuộc Khổ Nạn của Chúa Giêsu quả là một biến cố lịch sử cuối cùng đã đem ý nghĩa và sức mạnh lại cho toàn bộ sứ mệnh của Người và là một ký ức sống động, một ơn thánh mạnh mẽ đem ý nghĩa và hy vọng lại cho mọi đau khổ của con người. Các trình thuật Tin Mừng về khổ nạn gồm tóm cả hai chiều kích vừa nói, nghĩa là vừa bén rễ các trình thuật của mình trong các lưu truyền lịch sử về những ngày sau hết của Chúa Giêsu vừa mời gọi người đọc tìm thấy nơi cuộc khổ nạn này ý nghĩa tối hậu cho kiếp người và cho dấn thân Kitô Giáo. 

Những dòng trình bày ở đây, vì thế chứa đựng cả hai chiều kích trong cuộc Khổ Nạn của Chúa Giêsu. Chúng không dành cho các nhà chuyên môn mà dành cho các Kitô hữu và những người suy tư nào muốn biết nhiều hơn về câu truyện đầy cảm kích này. Qua việc nhắc lại cách mô tả khác biệt sự đau khổ của Chúa Giêsu trong mỗi Tin Mừng, những dòng này muốn mời gọi độc giả bước sâu vào mầu nhiệm khổ nạn và đem các trải nghiệm riêng của mình vào cuộc tiếp xúc sinh tử với điều cốt lõi này của sứ điệp Kitô Giáo. Việc này từng được mọi thế hệ Kitô hữu thực hành bằng lời nói, bằng nghệ thuật và bằng thực hành đạo đức, như chất liệu lòng sùng kính cuộc khổ nạn từng gợi lên cho ta. Đồng thời, việc thông tri có tính lịch sử phát sinh từ việc nghiên cứu các bản văn Tin Mừng sẽ nhắc ta nhớ rằng cái chết của Chúa Giêsu không phải là một bịa đặt do trí tưởng tượng Kitô Giáo tạo ra mà là một biến cố bắt nguồn từ các phức tạp và căng thẳng của thế kỷ thứ nhất trong lịch sử. 

Dẫn vào các chú giải Tin Mừng Khổ Nạn

Linh mục Donald Senior, C.P., cho rằng các trình thuật khổ nạn cung cấp đỉnh điểm cho cả bốn sách Tin Mừng bằng cách nắm được các chủ đề xuyên suốt toàn bộ việc mô tả cuộc đời Chúa Giêsu cho tới lúc được hoàn tất cách đầy cảm kích. Với những nét khéo léo, các Tin Mừng gia đã kể lại cho ta những giờ phút sau cùng của đời Chúa Giêsu: bữa ăn cuối cùng của Người với các môn đệ; việc Người bị bắt tại Diệtsimani; việc Người bị các lãnh tụ tôn giáo tra vấn; việc Người bị Philatô xử án; và cuối cùng khung cảnh nát lòng của đóng đinh, chết và an táng. 

Các hoài niệm lịch sử, các nơi thánh

Các trình thuật khổ nạn bắt nguồn từ những ký ức có tính lịch sử của Giáo Hội sơ khai và chắc chắn rất phản ảnh thế giới Do Thái Giáo mà Chúa Giêsu vốn biết và yêu thương. Không như phần lớn câu truyện Tin Mừng được định vị ở miền bắc Galilê nơi Chúa Giêsu thi hành phần lớn thừa tác vụ công khai của Người, các trình thuật khổ nạn diễn ra ở Giêrusalem, thủ đô của tỉnh Giuđêa phía nam và, đối với phần đông người Do Thái kể từ thời Vua Đavít thế kỷ thứ 9 trước CN, là trung tâm có tính bản sắc của đời sống Do Thái. 

Tại đây có Đền Thờ, địa điểm thánh thiêng nhất tại Israel nơi thánh nhan Thiên Chúa tỏ tường hơn cả. Cung thánh phía trong Đền Thờ có chứa Hòm Bia Giao Ước, tức chiếc hòm lưu động chứa hai tấm bảng lề luật mà dân Do Thái đem theo trong hành trình sa mạc từ Ai Cập tới Đất Hứa. Không ai được bước quá tấm màn che cung thánh phía trong này mà bước vào nơi tuyệt đối thánh thiêng, ngoại trừ vị thượng tế, là người mỗi năm một lần vào ngày Lễ Yom Kippur, tức ngày xá tội, được vào để thanh tẩy cung thánh này một cách biểu tượng khỏi tác dụng của tội lỗi có thể đã lọt vào nơi đây. 

Phụng vụ đền thờ là các tư tế và các thầy Lêvi, là những người bảo quản nền phụng vụ đền thờ và trợ giúp các khách hành hương từ Israel và các nước trong thế giới Địa Trung Hải tới dâng hy lễ và cầu nguyện trong các ngày đại lễ của niên lịch Do Thái Giáo. Thời Chúa Giêsu, đền thờ là một cấu trúc nguy nga, do Hêrốt Đại Vương xây dựng, người đã để lại cả một di sản đồ sộ gồm nhiều dự án xây dựng ồ ạt khắp Israel: thành phố cảng Xêdarê, thủ đô phía bắc Samaria, các lâu đài kiên cố tại Masada và Herodium… Nhưng đền thờ Giêrusalem là công trình tuyệt hảo hơn hết của vị vua này với những bức tường đồ sộ, trang trí tinh xảo và nhất là những quảng trường bao la. Khi Chúa Giêsu tới đây vào khoảng năm 30 CN để hoàn tất sứ mệnh của Người, thì ngôi đền đang ở giai đoạn xây dựng cuối cùng của nó. 

Giêrusalem, trung tâm chính trị của một bi kịch tôn giáo

Từ thời Vua Đavít, Giêrusalem vốn cũng là một trung tâm chính trị; là thủ phủ của nền quân chủ thống nhất dưới quyền Vua Đavít và Vua Salômôn. Rồi sau đó là thủ phủ của Vương Quốc Giuđêa phương Nam trong nhiều thế kỷ. Tuy nhiên, vào thời Chúa Giêsu, Giêrusalem và các tỉnh Giuđêa và Samaria dưới quyền cai trị trực tiếp của Rôma. Đây là những vùng duy nhất của Israel chịu một số phận như thế. Ác-ki-laô, một trong các con trai của Đại Vương Hêrốt, người được Rôma chỉ định làm vua Do Thái chư hầu, là người tàn ác và bất tài, cuối cùng bị người Rôma hạ bệ vào năm 6 CN. Từ đó, một loạt các tổng trấn Rôma thay nhau đảm nhiệm việc cai trị trực tiếp Giuđêa và Samaria, sử dụng thành phố duyên hải Xêdarê Maritima làm thủ đô cai trị và chỉ tới Giêrusalem trong những ngày lễ lớn, nhất là dịp đại lễ theo niên lịch Do Thái Giáo. Năm 30 CN, tổng trấn Giuđêa lúc đó là Phôngxiô Philatô và, theo tập tục, ông phải tới Giêrusalem dự lễ Vượt Qua của Do Thái Giáo. 

Thế là sân khấu cho vở bi kịch khổ nạn đạ được xếp đặt. Chúa Giêsu, vị tiên tri quê Galilêa, người chữa bệnh và vị thầy ngoại thường, sẽ đem sứ mệnh của Người tới Giêrusalem. Vài ngày trước ngày lễ, quây quần bởi những người ái mộ và tò mò, Người vào thành phố và đền thờ nguy nga. Ở đấy, đúng theo phong cách một tiên tri, Người thực hiện hàng loạt hành động cảm kích và táo bạo, dám cắt đứt các dịch vụ giúp khách hành hương đổi tiền “dơ” Rôma lấy tiền “sạch” của đền thờ và ngăn cản những ai vào đó để thực hành việc đạo đức. Tất cả các cử chỉ này dường như đều được tính toán như những lời tuyên bố tiên tri rằng đền thờ này, dù tráng lệ nguy nga, cũng sẽ được phá hủy trong thời đại Kitô đang đến. 

Tiếng tăm của Chúa Giêsu như một bậc thầy đầy khiêu khích và một người chữa bệnh đáng nể sợ hình như đã tới Giêrusalem trước Người, ta không biết chắc điều này, nhưng chắc chắn hành động tại đền thờ của Người hẳn bị cả người Do Thái lẫn người Rôma coi là nguy hiểm. Dù người Rôma nắm giữ quyền lực tối hậu tại Giuđêa, họ vẫn phải trông nhờ các thẩm quyền Do Thái địa phương: đó là các tư tế hàng đầu và những trưởng lão khác, để duy trị trật tự công cộng. Các lãnh tụ tôn giáo chẳng ưa gì người Rôma và thẩy đều là những người tha thiết đối với việc giải phóng Israel, nhưng họ cũng rất thận trọng đối với bất cứ ai làm cớ cho người Rôma can thiệp và đàn áp hơn, nhất là người nói ra nhiều chủ trương tôn giáo đầy khiêu khích về chính mình và về sứ mệnh của mình. 

Các trình thuật khổ nạn không phải là các trình thuật kiểu cảnh sát

Các câu truyện về khổ nạn nhất trí với nhau về các giai đoạn căn bản trong những ngày sau cùng của Chúa Giêsu. Người tới Giêrusalem để cùng các môn đệ cử hành Lễ Vượt Qua, là lễ tưởng niệm hàng năm biến cố giải phóng Israel khỏi cảnh nô lệ của Ai Cập và lời khẳng định của họ vào sự giải thoát trong tương lai của Chúa. Đêm trước khi chết, sau bữa ăn sau cùng với các môn đệ, Người cùng với họ đi cầu nguyện ở vườn ôliu trên sườn đồi phía tây Núi Cây Dầu, đối diện với đồi đền thờ. Ở đây, Người bị bắt bởi một băng có vũ khí do các lãnh tụ tôn giáo ủy nhiệm, và rất có thể được cả các thẩm quyền Rôma hỗ trợ. Một trong các môn đệ của Người là Giuđa Iscariốt thông báo tung tích của Người cho các nhà cầm quyền. Khuya đêm đó, Chúa Giêsu bị tra vấn bởi một một cuộc hội họp của các lãnh tụ tôn giáo, có lẽ trong mưu toan lên công thức cho các cáo buộc chống lại Người. Ngày hôm sau, Người bị điệu tới Philatô để lấy khẩu cung chính thức, vì Philatô, hình như lúc đó đang ngụ tại dinh cũ của Hêrốt, có thẩm quyền pháp lý trong những trường hợp như thế này. Sau một chút do dự, Philatô kết án đóng đinh Chúa Giêsu, một hình thức xử tử công khải đầy kinh hãi của Rôma thường chỉ dành cho các trường hợp dấy loạn. Có lẽ Philatô nghĩ Chúa Giêsu là người hơi điên điên nhưng vẫn nguy hiểm, có tham vọng nắm quyền. 

Như thường lệ, vụ xử tử diễn ra nhanh chóng. Chúa Giêsu bị đánh rồi bị diễu qua phố xá để tới một ngọn đồi dành cho các vụ xử tử công khai gần nghĩa địa bên ngoài một trong các cổng của Giêrusalem. Ở đấy, Người bị lột trần truồng rồi bị đóng đinh vào thập giá. Đóng đinh là một biến cố công cộng, nhằm nhục mạ nạn nhân bằng một cái chết từ từ và đau đớn và nhờ đó biến chính nghĩa của nạn nhân thành vô giá trị. Chúa Giêsu chết chỉ vài giờ sau khi bị đóng đinh vào thập giá, có lẽ vì nhiều yếu tố hoà lẫn với nhau như sốc, kiệt sức, và bị nghẹt thở từ từ. Một người có thiện cảm với Chúa Giêsu, người dường như sở hữu một chiếc mộ kiểu hang đá tại nghĩa địa đá vôi gần đó, xin được phép tháo xác chúa Giêsu xuống khỏi thập giá và đã chôn Người trước lúc mặt trời lặn, theo phong tục Do Thái.

Đó là những “sự kiện” căn bản không chút tô điểm của những giờ phút cuối cùng của Chúa Giêsu tìm thấy trong các trình thuật khổ nạn. Ấy thế nhưng, nguyên các sự kiện thô sơ này mà thôi chưa lôi kéo được sự quan tâm của các soạn giả Tin Mừng. Đối với họ, điều quan trọng hơn nhiều là ý nghĩa của câu truyện đau thương và chết chóc này: đau khổ này là vì ai. Các trình thuật khổ nạn không phải là các trình thuật kiểu cảnh sát, tức là chỉ tường trình những sự kiện lạnh lùng của một vụ xử tử công cộng, nhưng là thành phần chủ yếu của câu truyện Kitô Giáo về Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa, và việc Người chiến thắng sự chết cách hân hoan. Các sách Tin Mừng là lời công bố hay rao giảng, thuật lại bằng hình thức kể truyện ý nghĩa đời sống, sự chết và sự sống lại của Chúa Giêsu đối với chúng ta. 

Tưởng nhớ câu truyện

Bởi thế, ngay từ thuở đầu của Giáo Hội, các Kitô hữu đã tụ họp nhau không những để tưởng nhớ câu truyện cái chết của Chúa Giêsu mà còn để hiểu sự chết này dưới ánh sáng việc Người sống lại và dưới cái phông lời Thiên Chúa, tức Cựu Ước, vốn là Thánh Kinh của Giáo Hội sơ khai. Khi thuật lại câu truyện cái chết của Chúa Giêsu từ vọng nhìn đức tin phục sinh, các Kitô hữu sơ khai hy vọng hiểu rõ hơn không những về Chúa Giêsu mà cả ý nghĩa của chính việc họ gặp gỡ đau khổ và cái chết. Câu truyện nguyên khởi về khổ nạn mà sau này gây ảnh hưởng cho trình thuật khổ nạn của Thánh Máccô có lẽ đã được lên khuôn trong khung cảnh thờ phượng, không khác Tam Nhật Tuần Thánh khi các Kitô hữu tụ họp nhau hàng năm để cử hành trong cầu nguyện bữa tiệc ly của Chúa Giêsu với các môn đệ, cuộc khổ nạn, cái chết và sự sống lại vinh hiển của Người. Cũng thế, các cộng đồng Kitô hữu tiên khởi nhất cũng đã tụ họp nhau trong tinh thần cầu nguyện và suy gẫm để nhắc lại các biến cố chủ chốt của những ngày định mệnh tại Giêrusalem nhưng cũng để đọc các thánh vịnh và suy gẫm về các tiên tri và các đoạn văn vĩ đại nào trong Sách Thánh của họ có thể đem lại ý nghĩa cho các biến cố ấy. Với thời gian, việc đọc có tính lịch sử này kèm theo các lời nguyện và các bài đọc Sách Thánh đã được hòa lẫn với nhau một cách không thể nào tách biệt nhau được nữa trong các trình thuật khổ nạn được các sách Tin Mừng truyền lại cho ta. 

Khi lãnh nhận trách vụ soạn thảo sách Tin Mừng của mình, thánh Máccô hẳn đã có sẵn trình thuật khổ nạn như trên, có thể là một trình thuật được truyền tụng qua ký ức và được trân quí trong việc thờ phượng tại cộng đồng Kitô hữu của chính ngài. Khi Thánh Máccô thuật lại câu truyện về cuộc đời Chúa Giêsu, trình thuật khổ nạn này hẳn đã tạo nên tận điểm và đỉnh cao của nó, một khuôn mẫu sẽ được mỗi sách Tin Mừng khác rập theo.

Tinh thần trong đó các trình thuật khổ nạn được viết ra

Do đó, mục đích ở đây là đọc các truyện kể về khổ nạn trong tinh thần chúng được viết ra, với ý hướng không hẳn nhằm chép lại lịch sử đứng đàng sau các bản văn này nhưng đúng hơn để thấm nhập cái hiểu đức tin về sự chết của Chúa Giêsu là điều đã tràn ngập các bản văn này. Mất hút trong sự thân quen đối với các câu truyện mà phần đông chúng ta từng được nghe suốt cả đời này, có thể là sự kiện: mỗi soạn giả Tin Mừng kể lại trình thuật đau khổ và sự chết của Chúa Giêsu một cách khác nhau hẳn. Vì mỗi soạn giả Tin Mừng viết cho một cộng đoàn Kitô hữu khác nhau và vì mỗi vị được phú cho một văn phong kể truyện độc đáo và một quan điểm đặc thù, nên bốn trình thuật đã ra khác nhau. Giống như bốn nghệ sĩ vĩ đại, mỗi soạn già Tin Mừng sản xuất ra bức chân dung tuyệt hảo về Chúa Giêsu chịu đóng đinh. Điều này đúng đối với trọn bộ Tin Mừng của họ và cũng đúng đối với cách các vị trình bày cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu.

II. Cuộc Khổ Nạn theo cái nhìn của Thánh Máccô



Một phần vì Tin Mừng Chúa Nhật Khổ Nạn năm nay trích từ Tin Mừng Máccô, phần khác vì dù gì Tin Mừng này cũng được phần đông các học giả Thánh Kinh coi là Tin Mừng đầu hết, nên chúng tôi xin bắt đầu việc đọc cuộc Khổ Nạn của Chúa Giêsu dưới cái nhìn của Tin Mừng này. 

Linh mục Donald Senior, C.P., cho rằng: giống như toàn bộ Tin Mừng của ngài, trình thuật Khổ Nạn của Thánh Máccô khá ngắn gọn nhưng cô đọng, chuyển động nhanh và ám ảnh ta không thôi từ biến cố Bữa Tiệc Ly cho tới cái chết và việc chôn cất Chúa Giêsu. 

1. Khổ Nạn bắt đầu với lòng trung thành và sự phản bội: Mc 14:1-11

Hai ngày trước lễ Vượt Qua và lễ Bánh Không Men, các thượng tế và kinh sư tìm cách dùng mưu bắt Đức Giêsu và giết đi; vì họ nói: "Đừng làm vào chính ngày lễ, kẻo dân chúng náo động".

Lúc đó, Đức Giêsu đang ở làng Bêtania, tại nhà ông Simon Cùi. Giữa lúc Người dùng bữa, có một người phụ nữ đến, mang theo một bình bạch ngọc đựng dầu thơm cam tùng nguyên chất thứ đắt tiền. Cô đập ra, đổ dầu thơm trên đầu Người. Có vài người lấy làm bực tức, nói với nhau: "Phí dầu thơm như thế để làm gì? Dầu đó có thể đem bán lấy trên ba trăm quan tiền mà bố thí cho người nghèo". Rồi họ gắt gỏng với cô. Nhưng Đức Giêsu bảo họ: "Cứ để cho cô làm. Sao lại muốn gây chuyện? Cô ấy vừa làm cho tôi một việc nghĩa. Người nghèo thì lúc nào các ông chẳng có bên cạnh mình, các ông muốn làm phúc cho họ bao giờ mà chẳng được! Còn tôi, các ông chẳng có mãi đâu! Điều gì làm được thì cô đã làm: cô đã lấy dầu thơm ướp xác tôi, để chuẩn bị ngày mai táng. Tôi bảo thật các ông: Hễ Tin Mừng được loan báo đến đâu trong khắp thiên hạ, thì nơi đó việc cô vừa làm cũng sẽ được kể lại để nhớ tới cô".

Và Giuđa Ítcariốt, một người trong Nhóm Mười Hai, đi gặp các thượng tế để nộp Người cho họ. Nghe hắn nói, họ rất mừng và hứa cho tiền. Giuđa liền tìm cách nộp Người sao cho tiện.


Thánh Máccô bắt đầu trình thuật Khổ Nạn bằng ba câu truyện âm mưu, phản bội và trung thành. Các kẻ thù của Chúa Giêsu, thông thường là phe Biệt Phái và nay các tư tế và trưởng lão tại Giêrusalem, chưa bao giờ từ bỏ các đặc điểm mà Thánh Máccô vốn dùng để mô tả họ ngay từ đầu Tin Mừng của ngài: Họ từng săn đuổi Chúa Giêsu lúc Người thi hành thừa tác vụ tại Galilê và càng tăng cường hơn nữa sự chống đối của họ đối với giáo huấn của Người khi Người tới Giêrusalem. Giờ đây, lòng thù hận khôn nguôi của họ được đóng ấn bằng một âm mưu sát hại Người. 

Tuy nhiên, một yếu tố mới khiến ta rùng mình đã được thêm vào: Giuđa, một trong các môn đệ của Chúa Giêsu, vốn được tuyển lựa, yêu thương và ủy thác tham gia vào sứ mệnh của Chúa Giêsu, đi gặp các lãnh tụ và hứa sẽ phản bội Thầy mình. Các lãnh tụ rất vui và hứa trả cho anh một món tiền hậu hĩnh. 

Giữa hai câu truyện trên, Thánh Máccô đã khéo léo và hết sức đặc trưng chen vào một câu truyện tuyệt diệu về lòng trung thành. Khi Chúa Giêsu tới thăm Simong Cùi ở Bethany, trên sườn phía đông của Đồi Cây Dầu, một người đàn bà vô danh đập bể bình dầu thơm đắt tiền, rồi xức lên đầu Chúa Giêsu. Trong Thánh Kinh, chỉ các ông vua và tiên tri mới được xức dầu trên đầu, và Thánh Máccô nhắc tới ký ức ấy ở đây. 

Mùi dầu thơm vừa lan khắp phòng, những người hiện diện cạnh Chúa Giêsu đều ngỡ ngàng trước cử chỉ quá hoang phí của người đàn bà. Nhưng Chúa Giêsu bênh vực nàng. Nàng đã làm một hành vi trung thành và yêu thương đích thực. Chúa nói với mọi người “cô đã lấy dầu thơm ướp xác tôi, để chuẩn bị ngày mai táng” (14:8). Vì thế, Chúa hứa, nàng sẽ được tưởng nhớ tại bất cứ nơi nào Tin Mừng được rao giảng, người duy nhất trong trọn bộ Tân Ước được hưởng vinh dự này.

Ba cảnh rất tương phản nhau trên đây dẫn độc giả tới tâm điểm của sứ điệp Thánh Máccô. Hai chủ đề chính xuyên suốt trọn bộ trình thuật khổ nạn: một tập chú vào Chúa Giêsu, Đấng cương quyết tự hiến thân vì người khác; chủ đề kia tập chú vào những người vây quanh Chúa Giêsu, một số héo mòn trước nồi nung đau khổ, số khác thành điển hình của đức tin và lòng can đảm. 

Khổ nạn vạch trần dụng tâm khủng khiếp của Giuđa và các lãnh tụ, nhưng nó cũng cho ta thoáng thấy tư cách môn đệ chân chính nơi người đàn bà vô danh ở Bethany. Giống Chúa Giêsu, nàng hiểu cả việc Người là ai lẫn việc số phận Người sẽ dẫn tới đâu, và không do dự, nàng đã hành động dựa trên trực giác ấy. Do đó, nàng đã xức dầu thơm để an táng Người và thừa nhận phẩm giá vương đế của Người. Vì tình yêu ấy, nàng sẽ không bao giờ bị quên lãng.

2. Lễ Vuợt Qua cuối cùng: Mc 14:12-31

Ngày thứ nhất trong tuần Bánh Không Men, là ngày sát tế chiên Vượt Qua, các môn đệ thưa với Đức Giêsu: "Thầy muốn chúng con đi dọn cho Thầy ăn lễ Vượt Qua ở đâu?" Người sai hai môn đệ đi, và dặn họ: "Các anh đi vào thành, và sẽ có một người mang vò nước đón gặp các anh. Cứ đi theo người đó. Người đó vào nhà nào, các anh hãy thưa với chủ nhà: Thầy nhắn: 'Cái phòng dành cho tôi ăn lễ Vượt Qua với các môn đệ của tôi ở đâu?' Và ông ấy sẽ chỉ cho các anh một phòng rộng rãi trên lầu, đã được chuẩn bị sẵn sàng: và ở đó, các anh hãy dọn tiệc cho chúng ta". Hai môn đệ ra đi. Vào đến thành các ông thấy mọi sự y như Người đã nói. Và các ông dọn tiệc Vượt Qua.

Chiều đến, Đức Giêsu tới cùng với Nhóm Mười Hai. Đang khi dùng bữa, Người nói: "Thầy bảo thật anh em, có người trong anh em sẽ nộp Thầy, mà lại là người đang cùng ăn với Thầy". Các môn đệ đâm ra buồn rầu, và lần lượt hỏi Người: "Chẳng lẽ con sao?" Người đáp: "Chính là một trong Nhóm Mười Hai đây, mà là người chấm chung một đĩa với Thầy. Đã hẳn, Con Người ra đi theo như lời đã chép về Người. Nhưng khốn cho kẻ nào nộp Con Người: thà kẻ đó đừng sinh ra thì hơn!"

Cũng đang bữa ăn, Đức Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, rồi bẻ ra, trao cho các ông và nói: "Anh em hãy cầm lấy, đây là mình Thầy". Và Người cầm chén rượu, dâng lời tạ ơn, rồi trao cho các ông, và tất cả đều uống chén này. Người bảo các ông: "Đây là máu Thầy, máu Giao Ước, đổ ra vì muôn người. Thầy bảo thật anh em: chẳng bao giờ Thầy còn uống sản phẩm của cây nho nữa, cho đến ngày ấy, ngày Thầy được uống thứ rượu mới trong Nước Thiên Chúa".

Hát thánh vịnh xong, Đức Giêsu và các môn đệ ra đi lên núi Ôliu. Đức Giêsu nói với các ông: "Tất cả anh em sẽ vấp ngã, vì Kinh Thánh đã chép: Ta sẽ đánh người chăn chiên, và chiên sẽ tan tác. Nhưng sau khi sống lại, Thầy sẽ đến Galilê trước anh em". Ông Phêrô liền thưa: "Dầu tất cả có vấp ngã đi nữa, thì con cũng nhất định là không". Đức Giêsu nói với ông: "Thầy bảo thật anh: hôm nay, nội đêm nay, gà chưa kịp gáy hai lần, thì chính anh, anh đã chối Thầy đến ba lần". Nhưng Phêrô lại nói quả quyết hơn: "Dầu có phải chết với Thầy, con cũng không chối Thầy". Tất cả các môn đệ cũng đều nói như vậy.


Tin Mừng Máccô nổi danh vì cung cách đóng khung cảnh chủ yếu bằng hai câu truyện có liên quan. Điều này thấy rõ ở phần tiếp theo của trình thuật khổ nạn: Các lời Chúa Giêsu phán trên bánh và rượu được đóng khung bởi hai lời tiên báo Giuđa phản bội, còn Phêrô và các môn đệ khác thì sai phạm. Một lần nữa, tập chú kép của Thánh Máccô về Kitô học và việc làm môn đệ, rất đặc trưng trong Tin Mừng của ngài, được trình bày rõ ràng. Việc mừng lễ Vượt Qua là khung cảnh của cả ba câu truyện này. Lễ hành hương vĩ đại này của Israel là để tưởng niệm cuộc xuất hành ra khỏi Ai Cập, tức hành động yêu thương đầy giải phóng của Thiên Chúa vốn là căn bản cho niềm hy vọng của Israel. Do đó, Tin Mừng muốn làm nổi bật sự kiện này: cái chết của Chúa Giêsu, một cái chết sẽ giải phóng người khác, đã được quện chặt vào biến cố Vượt Qua. 

Thánh Máccô dùng nghi thức đơn giản của bữa ăn Vượt Qua để công bố bằng chính lời Chúa Giêsu ý nghĩa của khổ nạn. Người cầm lấy bánh, tạ ơn, bẻ ra, trao cho các môn đệ mà phán: “Này là mình Thầy” và rồi cầm lấy chén, một lần nữa tạ ơn, trao cho các môn đệ, “Này là máu giao ước của Thầy, sẽ đổ ra cho mọi người…”

Ở đây, ta thấy ý nghĩa bên trong của mọi hành vi thừa tác của Chúa Giêsu mà Thánh Máccô đã kể trước đó trong Tin Mừng của ngài: việc Người chữa lành đầy cảm thương, việc Người làm bạn với những ai bị bỏ rơi ở bên lề, việc Người giảng dạy một cách mạnh bạo, việc Người đối đầu với sự ác, việc Người nuôi ăn đám đông bị đói. Tất cả những điều này nói lên một cuộc sống hoàn toàn vì người khác, tất cả đều là “bánh bị bẻ ra” và “máu… đổ ra cho mọi người”. Đó chính là tinh thần của sứ mệnh Người, một sứ mệnh cuối cùng sẽ hóa thành chiến thắng và đó cũng là sứ mệnh mà các môn đệ của Người được mời gọi tiếp tục. Nhưng đường còn dài ở phía trước, đau khổ và hồi hướng còn rất cần trước khi họ sẵn sàng. Do đó, lời lẽ long trọng và các cử chỉ hùng hồn của Chúa Giêsu tại Bữa Tiệc Ly đã được đóng khung bằng những lời tiên báo Giuđa sẽ phản bội và các môn đệ còn lại sẽ bỏ rơi Người. Ngay cả Simong Phêrô, người môn đệ đầu tiên của Người (1:16-20) và là lãnh tụ của họ cũng công khai chối Thầy vị sợ hãi và đã bỏ rơi Thầy.

3. Diệtsimani: cầu nguyện và bị bắt: Mark 14:32-52

Sau đó, Đức Giêsu và các môn đệ đến một thửa đất gọi là Ghếtsêmani. Người nói với các ông: "Anh em ngồi lại đây, trong khi Thầy cầu nguyện". Rồi Người đem các ông Phêrô, Giacôbê và Gioan đi theo. Người bắt đầu cảm thẩy hãi hùng xao xuyến. Người nói với các ông: "Tâm hồn Thầy buồn đến chết được. Anh em ở lại đây mà canh thức". Người đi xa hơn một chút, quỵ xuống đất mà cầu xin cho giờ ấy rời khỏi mình, nếu có thể được. Người nói: "Ápba, Cha ơi! Cha có thể làm được mọi sự, xin tha cho con khỏi uống chén này. Nhưng xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha". Rồi Người trở lại, thấy các môn đệ đang ngủ, liền nói với ông Phêrô: "Simon, anh ngủ à ? Anh không thức nổi một giờ sao? Anh em hãy canh thức và cầu nguyện kẻo sa chước cám dỗ. Vì tinh thần thì hăng hái, nhưng thể xác lại yếu đuối". Người lại đi cầu nguyện, kêu xin như lần trước. Rồi Người trở lại, thấy các môn đệ vẫn ngủ, vì mắt họ nặng trĩu. Các ông chẳng biết trả lời làm sao với Người. Lần thứ ba, Người trở lại và bảo các ông: "Lúc này mà còn ngủ, còn nghỉ sao? Thôi, đủ rồi. Giờ đã điểm. Này Con Người bị nộp vào tay phường tội lỗi. Đứng dậy, ta đi nào! Kìa kẻ nộp Thầy đã tới!"

Ngay lúc đó, khi Người còn đang nói, thì Giuđa, một người trong Nhóm Mười Hai, xuất hiện. Cùng đi với hắn, có một đám đông mang gươm giáo gậy gộc. Họ được các thượng tế, kinh sư và kỳ mục sai đến. Kẻ nộp Đức Giêsu đã cho họ một ám hiệu, hắn dặn rằng: "Tôi hôn ai thì chính là người đó. Các anh bắt lấy và điệu đi cho cẩn thận". Vừa tới, Giuđa tiến lại gần Người và nói: "Thưa Thầy!", rồi hôn Người. Họ liền tra tay bắt Người. Nhưng một trong những kẻ đang có mặt tại đó tuốt gươm ra, chém phải tên đầy tớ của thượng tế, làm nói đứt tai.

Đức Giêsu nói với họ: "Các ông đem gươm giáo gậy gộc đến bắt tôi như bắt một tên cướp vậy? Ngày ngày, tôi vẫn ở giữa các ông, vẫn giảng dạy ở Đền Thờ, mà các ông không bắt. Nhưng thế này là để lời Sách Thánh được ứng nghiệm". Bấy giờ các môn đệ bỏ Người mà chạy trốn hết. Trong khi đó có một cậu thanh niên đi theo Người, mình khoác vỏn vẹn một tấm vải gai. Họ túm lấy anh. Anh liền trút tấm vải lại, bỏ chạy trần truồng.


Giờ đây, khung cảnh đã thay đổi: từ thượng lầu tới Diệtsimani, khu rừng ôliu ở bên ngoài thành phố, và tại đây, trong hai cảnh chính, nhịp độ câu truyện khổ nạn đã tăng tốc. 

Bóng ma cái chết bạo hành lởn vởn trong đầu Chúa Giêsu và làm Người khốn khổ. Giống như nhiều lần trong Tin Mừng, Chúa Giêsu tìm sức mạnh trong lời cầu nguyện. Đây không hẳn là một lời cầu ngoan ngoãn hay anh hùng mà là một lời cầu nói lên niềm tin nguyên vẹn như từng thấy trong các thánh vịnh: “Ápba, Cha ơi! Cha có thể làm được mọi sự, xin tha cho con khỏi uống chén này. Nhưng xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha” (14:36). Phần lớn tinh thần của Chúa Giêsu là ở đây: kiên tâm, thân mật sùng kính Thiên Chúa, “Ba” của Người, và các cuộc chiến đấu khốc liệt với sức mạnh sự ác cũng như thần chết từng đánh dấu thừa tác vụ của Người tại Galilê (xem 5:1-20). 

Thánh Máccô, trước đó, đã cho các độc giả của ngài hay: Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa, Đấng mà Chúa Thánh Thần vốn ngự bên trong và là Đấng mà tên đã được Thiên Chúa nhắc đến tại Sông Giócđăng (1:9-11) và trên núi Hiển Dung (9:7). Nhưng Chúa Giêsu cũng là con người đích thực, biết sợ chết và tan nát cõi lòng khi nghĩ rằng sứ mệnh của mình sẽ thất bại. Bởi thế, Thánh Máccô đã dám trình bày với ta cảnh này, một cảnh sẽ mãi mãi nằm trong ký ức Kitô Giáo: một lời cầu nguyện nghẹn ngào tuy đầy đức tin nhưng cũng không thiếu sợ hãi từ môi miệng Chúa Giêsu. 

Thánh Máccô tiếp tục phương pháp diễn tả các môn đệ đi ngược chiều rõ rệt với Chúa Giêsu. Ba lần, Người tới tìm hỗ trợ bằng sự hiện diện của họ, chỉ để thấy họ ngủ mê ngủ mệt. Tin Mừng cho thấy rõ “giấc ngủ” này không hẳn chỉ vì mỏi mệt sau một lễ lạc lâu dài. Loại ngủ này nguy hiểm hơn nhiều, nó là trạng thái lờ đờ thiêng liêng của những người không nhận ra giờ phút nguy kịch trong lịch sử và do đó không sẵn sàng đương đầu với cơn nguy kịch này. Chúa Giêsu từng cảnh giác các môn đệ về thứ mê ngủ này: “Vậy anh em phải canh thức, vì anh em không biết khi nào chủ nhà đến: Lúc chập tối hay nửa đêm, lúc gà gáy hay tảng sáng. Anh em phải canh thức, kẻo lỡ ra ông chủ đến bất thần, bắt gặp anh em đang ngủ. Điều Thầy nói với anh em đây, Thầy cũng nói với hết thảy mọi người là: phải canh thức!" (13:35-37). 

Giờ phút nguy kịch trên đến rất nhanh. Giuđa và đám đông có trang bị xông vào cảnh tĩnh mịch của Diệtsimani để bắt Chúa Giêsu, người môn đệ bỏ đạo này nhận diện Chúa Giêsu bằng nụ hôn phản bội. Lộn xộn diễn ra sau đó: họ tra tay bắt Chúa Giêsu; trong khi ấy, một “người bàng quan” (một người trong đám đông? một người trong các môn đệ của Người?) rút kiếm ra và chém đứt tai một đầy tớ của vị thượng phẩm. 

Chúa Giêsu đối mặt với bức tường bạo hành ấy và lên án nó: “Các ông đem gươm giáo gậy gộc đến bắt tôi như bắt một tên cướp vậy? Ngày ngày, tôi vẫn ở giữa các ông, vẫn giảng dạy ở Đền Thờ, mà các ông không bắt. Nhưng thế này là để lời Sách Thánh được ứng nghiệm” (14:49). Biết bao lần cảnh này được lặp lại trong các thế kỷ từ ngày Thánh Máccô soạn tác: bắt người ban đêm; các lực lượng của bạo hành tìm cách giập tắt tiếng nói công lý; bạo hành đẻ ra bạo hành nhiều hơn; thái độ anh hùng đơn độc của vị tử đạo từ khước không phản bội tinh thần Thiên Chúa. 

Một lần nữa, Thánh Máccô đã tương phản phản ứng của môn đệ với phản ứng của Chúa Giêsu. Cơn nguy kịch đã diễn ra, và họ chịu không thấu. Tất cả đã bỏ trốn, bỏ rơi Chúa Giêsu, một trong số họ hoảng sợ đến nỗi bỏ cả quần mà chạy trần truồng. Các môn đệ quả đã để phẩm giá mình, ơn gọi của mình và Đấng đã hiến mình để họ được sống ở phía sau. 

4. Xưng thú và chối bỏ: thượng hội đồng tra khảo: Mark 14, 53-72

Họ điệu Đức Giêsu đến vị thượng tế. Các thượng tế, kỳ mục và kinh sư, tất cả đều tựu lại. Ông Phêrô theo Người xa xa, vào tận bên trong dinh thượng tế, và ngồi sưởi bên đống lửa với bọn lính canh.

Bấy giờ các thượng tế và toàn thể Thượng Hội Đồng tìm lời chứng buộc tội Đức Giêsu để lên án tử hình, nhưng họ tìm không ra, vì tuy có nhiều kẻ đưa chứng gian tố cáo Người, nhưng các chứng ấy lại không ăn khớp với nhau. Có vài kẻ đứng lên cáo gian Người rằng: "Chúng tôi nghe ông ấy nói: Tôi sẽ phá Đền Thờ này do tay người phàm xây dựng, và nội ba ngày, tôi sẽ xây một Đền Thờ Khác, không phải do tay người phàm!" Nhưng ngay về điểm này, chứng của họ không ăn khớp với nhau.

Bấy giờ vị thượng tế đứng lên giữa hội đồng hỏi Đức Giêsu: "Ông không nói lại được một lời sao? Mấy người này tố cáo ông gì đó?" Nhưng Đức Giêsu vẫn làm thinh, không đáp một tiếng. Vị thượng tế lại hỏi Người: "Ông có phải là Đấng Kitô, Con của Đấng Đáng Chúc Tụng không?" Đức Giêsu trả lời: "Phải, chính thế. Rồi các ông sẽ thấy Con Người ngự bên hữu Đấng Toàn Năng và ngự giá mây trời mà đến". Vị thượng tế liền xé áo mình ra và nói: "Chúng ta cần gì nhân chứng nữa? Quý vị vừa nghe hắn nói phạm đến Thiên Chúa, quý vị nghĩ sao?" Tất cả đều lên án Người đáng chết.

Thế là một số bắt đầu khạc nhổ vào Người, bịt mặt Người lại, vừa đánh đấm Người vừa nói: "Hãy nói tiên tri đi!" Và bọn lính canh túm lấy Người mà tát túi bụi

Ông Phêrô đang ở dưới sân, có một người tớ gái của thượng tế đi tới; thấy ông ngồi sưởi, cô ta nhìn ông chòng chọc mà nói: "Cả bác nữa, bác cũng đã ở với cái ông Người Nadarét, ông Giêsu đó chứ gì!" Ông liền chối: "Tôi chẳng biết, chẳng hiểu cô muốn nói gì!" Rồi ông bỏ đi ra phía tiền sảnh. Bấy giờ có tiếng gà gáy. Người tớ gái thấy ông, lại bắt đầu nói với những người đứng đó: "Bác này cũng thuộc bọn chúng đấy". Nhưng ông Phêrô lại chối. Một lát sau, những người đứng đó lại nói với ông: "Đúng là bác thuộc bọn chúng, vì bác cũng là người Galilê!" Nhưng ông Phêrô liền thốt lên những lời độc địa và thề rằng; "Tôi thề là không có biết người các ông nói đó!" Ngay lúc đó, gà gáy lần thứ hai. Ông Phêrô sực nhớ điều Đức Giêsu đã nói với mình: "Gà chưa kịp gáy hai lần, thì anh đã chối Thầy đến ba lần". Thế là ông oà lên khóc.


Khung cảnh lại thay đổi một lần nữa: từ Diệtsimani qua trú sở của Thượng Phẩm, nơi Chúa Giêsu bị các lãnh tụ tra vấn. Văn phong bậc thầy của Thánh Máccô về tường thuật một lần nữa lại hiển hiện. Ngài đóng khung cảnh thẩm vấn bằng cảnh Phêrô chối Chúa, rõ ràng nhằm tương phản nỗi sợ sệt của các môn đệ với lòng can đảm của Chúa Giêsu. 

Một loạt các nhân chứng giả được đưa tới để chống lại Chúa Giêsu, nhưng các lời tố cáo của họ mâu thuẫn nhau. Tuy nhiên, một số người đưa ra lời tố cáo gợi trí nhớ các độc giả Tin Mừng: “Tôi sẽ phá Đền Thờ này do tay người phàm xây dựng, và nội ba ngày, tôi sẽ xây một Đền Thờ khác, không phải do tay người phàm!"

Trước đó, Tin Mừng Máccô vốn đã mô tả Chúa Giêsu như một tiên tri nóng như lửa, thanh tẩy Đền Thờ và tiên đoán sự tàn phá của nó (11:15-19; 13:1-2). Thực vậy, Chúa Kitô Sống Lại sẽ là đền thờ mới của Thiên Chúa, là “hòn đá bị loại bỏ” sẽ trở thành viên đá góc của một dân thánh mới, nơi Thiên Chúa sẽ cư ngụ (12:10-11). Lời tố cáo này sẽ được nhớ lại khi màn trong cung thánh bị xé làm hai lúc Chúa Giêsu qua đời (15:38). 

Thất vọng vì lời chứng thiếu sót của các nhân chứng, vị thượng phẩm hỏi Chúa Giêsu một câu hỏi có tính chủ chốt: “"Ông có phải là Đấng Kitô, Con của Đấng Đáng Chúc Tụng không?" Chúa Giêsu không do dự trả lời: "Phải, chính thế”. Và Người thêm một thách thức cho những kẻ chống đối Người: một ngày kia họ sẽ thấy tù nhân của họ đến như “Con Người”, nhân vật ám ảnh kia sẽ bị sỉ nhục và bác bỏ, nhưng rồi sẽ được Thiên Chúa hiển dương và sẽ trở lại vinh quang vào ngày tận thế. 

Lời tuyên bố mạnh dạn của Chúa Giêsu về căn tính của mình bị địch thủ bác bỏ như lời phạm thượng; họ kết án tử hình Người và bắt đầu nhục mạ Người. Độc giả nào biết rõ căn tính của Chúa Giêsu sẽ chỉ có thể buồn bã sâu xa mà thắc mắc rằng không biết tại sao ta lại có thể mù quáng đến thế về phương diện thiêng liêng. 

Thánh Máccô hướng chú ý của ta từ cảnh Chúa Giêsu đứng trước những kẻ bắt giam Người trở lại với sân trước nhà vị thượng phẩm nơi ông Phêrô mệt mỏi xích lại gần một đám nữ tỳ đang quây quần quanh đống lửa ấm. Trong một chuyển động chậm, ta được chứng kiến cảnh sức mạnh của sợ sệt bẻ gẫy quyết tâm của một môn đệ. Ba lần, Phêrô chối, đến biết Thầy ông cũng không, sau cùng còn văng tục mà thề nữa khi bị tràn ngập bởi sợ hãi. Gà bèn gáy và ông nhớ lại lời cảnh cáo của Chúa Giêsu tại Bữa Tiệc Ly. Hãi hùng hiểu ra sự sai phạm của mình khiến ông òa lên khóc. 

Câu truyện quen thuộc với ta đến nỗi ta mất cả khả năng ngỡ ngàng vì nó. Chỉ một câu truyện đầy cảm kích này cũng đủ nói lên trọn bộ sự thất bại ê chề của thân phận môn đệ: nhà lãnh đạo của những người được Chúa Giêsu công khai kêu gọi làm môn đệ đã từ bỏ lòng trung thành với Thầy chí ái. 

5. Phiên tòa Rôma: Mark 15:1-15

Vừa tảng sáng, các thượng tế đã họp bàn với các kỳ mục và kinh sư, tức là toàn thể Thượng Hội Đồng. Sau đó, họ trói Đức Giêsu lại và giải đi nộp cho ông Philatô.

Ông Philatô hỏi Người: "Ông là vua dân Dothái sao?" Người trả lời: "Chính ngài nói đó". Các thượng tế tố cáo Người nhiều tội, nên ông Philatô lại hỏi Người: "Ông không trả lời gì sao? Nghe kìa, họ tố cáo ông biết bao nhiêu tội!" Nhưng Đức Giêsu không trả lời gì nữa, khiến ông Philatô phải ngạc nhiên.

Vào mỗi dịp lễ lớn, ông thường phóng thích cho họ một người tù, tuỳ ý họ xin. Khi ấy có một người tên là Baraba, đang bị giam với những tên phiến loạn đã giết người trong một vụ nổi dậy. Đám đông kéo nhau lên yêu cầu tổng trấn ban ân xá như thường lệ. Đáp lời họ yêu cầu, ông Philatô hỏi: "Các ông có muốn ta phóng thích cho các ông vua dân Dothái không?" Bởi ông thừa biết chỉ vì ghen tỵ mà các thượng tế nộp Người. Nhưng các thượng tế sách động đám đông đòi ông Philatô phóng thích tên Baraba thì hơn. Ông Philatô lại hỏi: "Vậy ta phải xử thế nào với người mà các ông gọi là vua dân Dothái?" Họ la lên: "Đóng đinh nó vào thập giá!" Ông Philatô lại hỏi: "Nhưng ông ấy đã làm điều gì gian ác?" Họ càng la to: "Đóng đinh nó vào thập giá!" Vì muốn chiều lòng đám đông, ông Philatô phóng thích tên Baraba, truyền đánh đòn Đức Giêsu, rồi trao Người cho họ đóng đinh vào thập giá.


Các lãnh tụ Do Thái dẫn Chúa Giêsu tới Philatô để Người bị kết án đóng đinh.Thánh Máccô khiến ta chỉ chú mục vào vấn đề duy nhất này: căn tính vua của Chúa Giêsu, vì lần đầu tiên, quyền lực Rôma được đưa vào câu truyện khổ nạn. 

Cảnh này đầy nghịch lý. Philatô, người đại diện của quyền lực đế quốc, chạm trán với tù nhân Do Thái tả tơi này và hỏi Người về tham vọng làm “vua Dân Do Thái”. Trong khi dân của Chúa Giêsu bác bỏ vị vua đích thực của họ mà chọn Baraba, một tên sát nhân, thì Philatô, một Dân Ngoại và là người Rôma, rõ ràng tin chắc sự vô tội của Chúa Giêsu và tìm cách thả tự do cho Người. 

Bên dưới tất cả các điều trên là vấn đề vương quyền, biểu thức mạnh mẽ nhất của quyền lực chính trị được độc giả của Thánh Máccô biết tới. Philatô và các địch thủ của Chúa Giêsu đồng ý với nhau ở một điều: Chúa Giêsu không hề là vua. Trong đầu óc Philatô, Người là nạn nhân vô hại của lòng ghanh ghét nơi các lãnh tụ Do Thái; đối với các lãnh tụ này, Người là kẻ tự đòi cho mình thẩm quyền tôn giáo một cách sai lầm và nguy hiểm. Ấy thế nhưng cuối cùng, Người vẫn bị chế nhạo vì tham vọng làm vua: một áo khoác mầu tím, một triều thiên bằng gai nhọn, một vương trượng bằng sậy, và những lời tán tụng nhại sau đó trở thành bạo hành. Nhưng độc giả câu truyện khổ nạn của Thánh Máccô biết rằng không phải Chúa Giêsu mà các biểu tượng của quyền lực đế quốc và lạm dụng bị chế nhạo. 

Chúa Giêsu là vua nhưng là một vị vua mà quyền lực không được phát biểu bằng bóc lột hay “áp đặt quyền bá chủ lên người khác” (10:42) mà là hiến mạng sống cho họ. Trước đó, trong hành trình lên Giêrusalem, Chúa Giêsu vốn thúc giục các môn đệ của Người đừng thi hành thứ quyền lực ấy mà chỉ thi hành các quyền lực mà nguồn gốc và ý hướng là hiến mạng sống cho người khác, là quyền lực vốn sinh động hóa chính Chúa Giêsu (10:42-45). Bởi thế, câu truyện khổ nạn đã lên án mọi hình thức quyền lực gian dối. 

6. Đóng đinh: Mc 15:16-47:

Lính điệu Đức Giêsu vào bên trong dinh, tức là dinh tổng trấn và tập trung cả cơ đội lại. Chúng khoác cho Người một tấm áo điều, và kết một vòng gai làm vương miện đặt lên đầu Người. Rồi chúng chào bái Người: "Vạn tuế đức vua dân Dothái!" Chúng dùng cây sậy đập đầu Người, khạc nhổ vào Người, và quỳ gối bái lạy. Chế giễu chán, chúng lột áo điều Người ra để đóng đinh vào thập giá.

Lúc ấy, có một người từ miền quê lên, đi ngang qua đó, tên là Simon, gốc Kyrênê. Ông là thân phụ hai ông Alêxanđê và Ruphô. Chúng bắt ông vác thập giá đỡ Đức Giêsu. Chúng đưa Người lên một nơi gọi là Gôngôtha, nghĩa là Đồi Sọ.

Chúng trao rượu pha mộc dược cho Người, nhưng Người không uống. Chúng đóng đinh Người vào thập giá, rồi đem áo Người ra bắt thăm mà chia nhau, xem ai được cái gì. Lúc chúng đóng đinh Người là giờ thứ ba. Bản án xử tội Người viết rằng: "Vua người Dothái". Bên cạnh Người, chúng còn đóng đinh hai tên cướp, một đứa bên phải, một đứa bên trái. Thế là ứng nghiệm lời Kinh Thánh: Người bị liệt vào hạng những tên phạm pháp.]

Kẻ qua người lại đều nhục mạ Người, vừa lắc đầu vừa nói: "Ê, mi là kẻ phá Đền Thờ, và nội trong ba ngày xây lại được, có giỏi thì xuống khỏi thập giá mà cứu mình đi!" Các thượng tế và kinh sư cũng chế giễu Người như vậy, họ nói với nhau: "Hắn cứu được thiên hạ, mà chẳng cứu nổi mình. Ông Kitô vua Ítraen ấy, cứ xuống khỏi thập giá ngay bây giờ đi, để chúng ta thấy và tin". Cả những tên cùng chịu đóng đinh với Người cũng nhục mạ Người.

Vào giờ thứ sáu, bóng tối bao phủ khắp mặt đất mãi đến giờ thứ chín. Vào giờ thứ chín, Đức Giêsu kêu lớn tiếng: "Êlôi, Êlôi, lama sabácthani!" Nghĩa là: "Lạy Thiên Chúa, Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?" Nghe vậy, một vài người đứng đó liền nói: "Kìa hắn kêu cứu ông Êlia". Rồi có kẻ chạy đi lấy một miếng bọt biển, thấm đầy giấm, cắm vào một cây sậy, đưa lên cho Người uống mà nói: "Để xem ông Êlia có đến đem hắn xuống không. Đức Giêsu lại kêu lên một tiếng lớn, rồi tắt thở. Bức màn trướng trong Đền Thờ bỗng xé ra làm hai từ trên xuống dưới. Viên đại đội trưởng đứng đối diện với Đức Giêsu, thấy Người tắt thở như vậy liền nói: "Quả thật, người này là Con Thiên Chúa".

Nhưng cũng có mấy phụ nữ đứng xa xa mà nhìn, trong đó có bà Maria Mácđala, bà Maria mẹ các ông Giacôbê thứ và Gioxê, cùng bà Salômê. Các bà này đã đi theo và giúp đỡ Đức Giêsu khi Người còn ở Galilê. Lại có nhiều bà khác đã cùng với Người lên Giêrusalem, cũng có mặt tại đó.

Chiều đã đến, mà vì hôm ấy lại là ngày sửa soạn, tức là áp ngày sabát, nên ông Giôxép tới. Ông là người thành Arimathê, thành viên có thế giá của hội đồng, và cũng là người vẫn mong đợi Triều Đại của Thiên Chúa. Ông đã mạnh dạn đến gặp tổng trấn Philatô để xin thi hài Đức Giêsu. Nghe nói Người đã chết, ông Philatô lấy làm ngạc nhiên, và cho đòi viên đại đội trưởng đến, hỏi xem Người đã chết lâu chưa. Sau khi nghe viên sĩ quan cho biết sự việc, tổng trấn đã cho ông Giôxép lãnh lấy thi hài. Ông này mua một tấm vải gai, hạ xác Đức Giêsu xuống, lấy tấm vải ấy liệm Người lại, đem đặt vào ngôi mộ đã đục sẵn trong núi đá, rồi lăn tảng đá lấp cửa mộ. Còn bà Maia Mácđala và bà Maria mẹ ông Gioxê, thì để ý nhìn xem chỗ họ mai táng Người.


Trong trình thuật Máccô, đoạn kết thúc đã đến rất nhanh; câu truyện được thuật lại trong ít chữ, như thể quá đau lòng không tìm được lời để viết thêm. Philatô từ bỏ cố gắng thả Người ra và đã kết án Người chịu đóng đinh. Chi tiết cuộc hành quyết cho thấy Chúa Giêsu bị đưa lên Golgôtha, nơi Người được cung cấp một loại thuốc mê nhưng Người từ chối; Người bị lột áo xống và bị đóng đinh vào thập giá. Hai kẻ nổi loạn cùng bị đóng đinh cạnh Chúa Giêsu, mỗi kẻ một bên, tạo thành một hàng xóm buồn bã. Chiếc bảng nhỏ trên thập giá ghi hàng chữ chế giễu: “Vua người Do Thái”. 

Trong khi ngắm Người qua đời, hàng loạt những châm chọc được ngỏ với người trên thập giá: đe dọa phá đền thờ; có khả năng cứu người khác nhưng lại không có khả năng tự cứu mình. Thánh Máccô mô tả lời châm chọc cuối cùng bằng một giọng hết sức mỉa mai: “Ông Kitô vua Ítraen ấy, cứ xuống khỏi thập giá ngay bây giờ đi, để chúng ta thấy và tin” (15:32). Nhưng độc giả của Thánh Máccô biết rằng quyền lực của Chúa Giêsu được chứng minh không phải bằng cách đập bể tan tành cây thập giá mà bằng cách mang lấy nó, hiến mạng sống cho người khác. “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo. Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì tôi và vì Tin Mừng, thì sẽ cứu được mạng sống ấy. Vì được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống, thì người ta nào có lợi gì? Quả thật, người ta lấy gì mà đổi lại mạnh sống mình?” (8:34-37).

Bóng tối trùm phủ Golgôtha và trong cảnh mù mịt ấy, lời than cuối cùng của Chúa Giêsu vang lên: "Lạy Thiên Chúa, Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?". Đó là câu đầu của Thánh Vịnh 22, lời cầu nguyện vĩ đại của đức tin đau khổ Do Thái Giáo. Trình thuật khổ nạn của Thánh Máccô vốn được mô tả như một “vượt qua đêm đen”: Chúa Giêsu bị lột hết các môn đệ, hết tự do, hết phẩm giá, hết sự sống khi Người trao đi từng sợi hữu thể của Người vì thế giới.

Và như thế, trong trình thuật của Thánh Máccô, Chúa Giêsu chết với một tiếng kêu không lời nhưng vang vọng khắp ngọn đồi thương đau, xé đôi màn trong đền thờ và đốt lên ngọn lửa đức tin trong trái tim viên bách quản. Chứng nhân bất ngờ này nhìn thấy trong cung cách chết của Chúa Giêsu cho người khác cả một mạc khải chân thực của Thiên Chúa. Việc nhìn thấy Chúa Giêsu chịu đóng đinh đã bật khởi trong ông lời tuyên xưng đức tin trọn vẹn đầu tiên trong Tin Mừng: "Quả thật, người này là Con Thiên Chúa" (15:39). Một mạc khải đầy ngạc nhiên: quyền lực Thiên Chúa được biểu lộ không qua những người phi thường xuất chúng mà qua cái chết vị tha vì yêu thương.

Thánh Máccô hay để ý những điều khó xẩy ra. Các môn đệ được tuyển chọn đều chạy trốn. Nhưng đứng xa xa là những môn đệ trung thành khác, những phụ nữ vốn theo chân Người ở Galilê và cùng tới Giêrusalem với Người. Từ nay, họ ở với Người qua cái chết và việc mai táng, không bao giờ bỏ rơi Người. Hai người trong số họ, Maria Magđalêna và Maria, Mẹ Giosê, sẽ canh chừng phần mộ của Người và sẽ là những người đầu tiên khám phá ra ngôi mộ trống và biết chắc Chúa Giêsu đã chiến thắng tử thần (16:1-8). Những môn đệ “khó có” này đã tự chứng minh mình chân thực trong khi các môn đệ lỗi lạc khác đã sai phạm. Họ sẽ là các môn đệ đem sứ điệp hân hoan và hòa giải của Chúa Kitô Phục Sinh đến cho các môn đệ sai phạm. 

III. Khổ nạn dưới cái nhìn của Thánh Gioan


Chúng tôi đã trình bày đôi nét về trình thuật Khổ Nạn trong Tin Mừng Máccô. Nay xin đề cập tới trình thuật của Tin Mừng Gioan về Khổ Nạn. Trình thuật này luôn được dùng trong cử hành Phụng Vụ Thứ Sáu Tuần Thánh. Đàng khác, Tin Mừng Gioan có cái nhìn thần học khá biệt lập đối với ba Tin Mừng Nhất Lãm, đến nỗi linh mục Donald Senior, Dòng Khổ Nạn (C.P.), gọi nó là Tin Mừng “không theo qui tắc” (maverick, như có người gọi Đức Phanxicô). Theo Thánh Gioan, Chúa Giêsu là mạc khải tình yêu Thiên Chúa cho thế giới, là “lời thành xác phàm” mà cái chết là một hành vi yêu thương bằng hữu, dấu chỉ Thiên Chúa ôm ẵm toàn thể nhân loại và là chiến thắng sau cùng trên sự ác. Cách Thánh Gioan mô tả cuộc Khổ Nạn của Chúa Giêsu độc đáo ở chỗ hoàn hợp tuyệt tác giữa đau khổ và chiến thắng, rất phù hợp với tinh thần của Tam Nhật Vượt Qua. 

1.Bị bắt: Ga 18:1-11

Sau khi nói những lời đó, Đức Giêsu đi ra cùng với các môn đệ, sang bên kia suối Kítrôn. Ở đó, có một thửa vườn, Người cùng với môn đệ đi vào. Giuđa, kẻ nộp Người, cũng biết nơi này, vì Người thường tụ họp ở đó với các môn đệ. Vậy, Giuđa tới đó, dẫn một toán quân cùng đám thuộc hạ của các thượng tế và nhóm Pharisêu; họ mang theo đèn đuốc và khí giới. Đức Giêsu biết mọi việc sắp xảy đến cho mình, nên tiến ra và hỏi: "Các anh tìm ai?" Họ đáp: "Tìm ông Giêsu Nadarét". Người nói: "Chính tôi đây". Giuđa, kẻ nộp Người, cũng đứng chung với họ. Khi Người vừa nói: "Chính tôi đây", thì họ lùi lại và ngã xuống đất. Người lại hỏi một lần nữa: "Các anh tìm ai?" Họ đáp: "Tìm ông Giêsu Nadarét". Đức Giêsu nói: "Tôi đã bảo các anh là chính tôi đây. Vậy, nếu các anh tìm bắt tôi, thì hãy để cho những người này đi". Thế là ứng nghiệm lời Đức Giêsu đã nói:"Những người Cha đã ban cho con,con không để mất một ai".

Ông Simon Phêrô có sẵn một thanh gươm, bèn tuốt ra, nhằm người đầy tớ vị thượng tế, mà chém đứt tai phải của y. Người đầy tớ ấy tên là Mankhô. Đức Giêsu nói với ông Phêrô: "Hãy xỏ gươm vào bao. Chén đắng Chúa Cha đã trao cho Thầy, lẽ nào Thầy chẳng uống?"


Màn mở đầu trong trình thuật của Thánh Gioan đã xác định sắc khí cho toàn bộ câu truyện khổ nạn. Trên một bình diện, nó là câu truyện kinh hoàng: sự phản bội của một bằng hữu, việc bắt người vô tội trong đêm khuya, việc lạm dụng quyền lực của thẩm quyền võ trang. Qủa là một màn rùng rợn, rất quen thuộc và rất đồng thời với nhiều Kitô Hữu tại một số vùng trên thế giới.

Nhưng còn một bình diện khác trong màn này: Chúa Giêsu tự quyết định đặt Người trước kẻ thù; thế giá áp đảo của con người Chúa đã quật ngã quyền lực của tối tăm; Chúa vẫn giữ quyền điều khiển ngay trong giờ phút bị bắt. 

Trọn bộ câu truyện khổ nạn trong Tin Mừng Gioan cũng thế: thảm kịch cái chết thương đau đã bị quyền lực của tình yêu cứu chuộc áp đảo. Đối với Thánh Gioan, Chúa Giêsu là Ngôi Lời thành xác phàm, được sai đi để mạc khải tình yêu bền vững của Thiên Chúa dành cho thế giới. Tuyên ngôn thuyết phục nhất của tình yêu này, nghịch lý thay, là chính cái chết của Chúa Giêsu. Khi tự hiến sự sống mình cho các “bằng hữu” (15:13), cao thượng nhất trong các hành vi nhân linh, Chúa Giêsu đã mạc khải tình yêu trổi vượt của Thiên Chúa dành cho thế giới. Từ vọng nhìn của đức tin, cái chết của Chúa Giêsu là lời ban sự sống. 

Cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu bắt đầu một cách đường đột so với các tin mừng Nhất Lãm. Không nhắc gì tới các âm mưu chống lại Chúa Giêsu, không có việc xức dầu thơm tại Bethany và không thuật lại bữa ăn cuối cùng, mà Chúa Giêsu cũng không cầu nguyện thống thiết tại Diệtsimani trước khi bị bắt. Ở một mức độ nào đó, Thánh Gioan từng đề cập tới các biến cố này hay các biến cố tương đương trước đó trong Tin Mừng của ngài rồi. Một khi đã hoàn tất diễn văn từ biệt khá dài của Người với các môn đệ (các chương 13-17), Chúa Giêsu dẫn họ băng qua thung lũng Kítrôn tới một thửa vườn và bi kịch khổ nạn bắt đầu (18:1). 

Trình thuật của Thánh Gioan không chùn bước trước thực tại hãi hùng của sự chết. Trước hết, thực tại này xuất hiện dưới lốt Giuđa, người môn đệ phản bội Chúa Giêsu. Theo cái nhìn của Thánh Gioan, “Satan”, hiện thân của sự ác, đã rù quyến Giuđa tới chỗ phản bội Chúa Giêsu (13:2). Liên minh của Giuđa là binh sĩ Rôma (chỉ có Thánh Gioan nhắc tới việc này) và các lính canh của các tư tế và bọn Biệt Phái (18:3). Trọn bộ hệ thống quyền lực đã được triển khai chống lại Chúa Giêsu: người Do Thái và Dân Ngoại; thế quyền và giáo quyền. 

Nhưng đội hình quyền lực áp chế và quỉ ma này không biến Chúa Giêsu thành một nạn nhân bất lực. Trước đó, Chúa Giêsu của Thánh Gioan đã tuyên bố sự tự do của Người trước thần chết: “Sở dĩ Chúa Cha yêu mến tôi, là vì tôi hy sinh mạng sống mình để rồi lấy lại. Mạng sống của tôi, không ai lấy được, nhưng chính tôi tự ý hy sinh mạng sống mình. Tôi có quyền hy sinh và có quyền lấy lại mạng sống ấy. Đó là mệnh lệnh của Cha tôi mà tôi đã nhận được” (10:17-18).

Chúa Giêsu chạm trán với quyền lực bằng chính thánh danh “Tôi đây” (I am), tức thánh danh Thiên Chúa được chính Chúa Giêsu Ngôi Lời mạc khải cho thế giới. Trước thánh danh đó, quyền lực sự chết tàn rũ và té nhào dưới đất, không phải một mà tới hai lần. Chúa Giêsu nắm quyền điều khiển ở đây, chứ không phải tử thần. Người để các môn đệ của Người rời bỏ (18:8, họ không chạy trốn như trong các Tin Mừng Máccô và Mátthêu) và Người hạn chế Phêrô, không muốn ông dùng bạo lực dù là để bênh vực Người. 

Chúa Giêsu sẽ tự ý “uống chén” khổ nạn vì làm như thế, Người đã làm trọn sứ mệnh của Người là mạc khải tình yêu Thiên Chúa dành cho thế giới.

2. Tại sân trước nhà vị thượng phẩm: Ga 18:12-27

Bấy giờ toán quân và viên chỉ huy cùng đám thuộc hạ của người Dothái bắt Đức Giêsu và trói Người lại. Trước tiên, họ điệu Đức Giêsu đến ông Khanna là nhạc phụ ông Caipha. Ông Caipha làm thượng tế năm đó. Chính ông này đã đề nghị với người Dothái là nên để một người chết thay cho dân thì hơn.

Ông Simon Phêrô và một môn đệ khác đi theo Đức Giêsu. Người môn đệ này quen biết vị thượng tế, nên cùng với Đức Giêsu vào sân trong của tư dinh vị thượng tế. Còn ông Phêrô đứng ở phía ngoài, gần cổng. Người môn đệ kia quen biết vị thượng tế ra nói với chị giữ cổng, rồi dẫn ông Phêrô vào. Người tớ gái giữ cổng nói với Phêrô: "Cả bác nữa, bác không thuộc nhóm môn đệ của người ấy sao?" Ông liền đáp: "Đâu phải". Vì trời lạnh, các đầy tớ và thuộc hạ đốt than và đứng sưởi ở đó; ông Phêrô cũng đứng sưởi với họ. Vị thượng tế tra hỏi Đức Giêsu về các môn đệ và giáo huấn của Người. Đức Giêsu trả lời: "Tôi đã nói công khai trước mặt thiên hạ; tôi hằng giảng dạy trong hội đường và tại Đền Thờ, nơi mọi người Dothái tụ họp. Tôi không hề nói điều gì lén lút. Sao ông lại hỏi tôi? Điều tôi đã nói, xin cứ hỏi những người đã nghe tôi. Chính họ biết tôi đã nói gì". Đức Giêsu vừa dứt lời, thì một tên trong nhóm thuộc hạ đứng đó vả vào mặt Người mà nói: "Anh trả lời vị thượng tế như thế ư?" Đức Giêsu đáp:

"Nếu tôi nói sai, anh chứng minh xem sai ở chổ nào; còn nếu tôi nói phải, sao anh lại đánh tôi?" Ông Khanna cho giải Người đến thượng tế Caipha, Người vẫn bị trói.

Còn ông Simon Phêrô thì vẫn đứng sưởi ở đó. Người ta nói với ông: "Cả bác nữa, bác không thuộc nhóm môn đệ của ông ấy sao?" Ông liền chối: "Đâu phải". Một trong các đầy tớ của vị thượng tế, có họ với người bị ông Phêrô chém đứt tai, lên tiếng hỏi: "Tôi đã chẳng thấy bác ở trong vườn với ông ấy sao?" Một lần nữa ông Phêrô lại chối, và ngay lúc ấy gà liền gáy.


Lúc này, cảnh thay đổi từ Thửa Vườn bên kia thung lũng Kítrôn qua sân trước dinh thượng phẩm. Theo tường thuật của Thánh Gioan, đầu tiên, Chúa Giêsu được điệu tới Khanna, bố vợ thượng phẩm đương nhiệm Caipha. Rõ ràng, dù bị người Rôma hạ bệ, Khanna vẫn là người có uy thế. Chúa Giêsu sẽ bị giáo quyền hạch hỏi trước khi bị Philatô xét xử chính thức. 

Nhưng đối với Thánh Gioan, chủ đề sâu xa hơn của cảnh này vẫn là chủ đề tương phản: giữa Chúa Giêsu và các địch thủ của Người cũng như giữa Chúa Giêsu và Thánh Phêrô. 

Giống như trong cảnh bị bắt, Chúa Giêsu mạnh bạo chạm trán với các địch thủ của Người. Bằng những lời khiến ta nhớ lại chương 8 Tin Mừng của ngài, Thánh Gioan trình bày Chúa Giêsu như hiện thân của “sự thật”, sự thật tối hậu về tình yêu Thiên Chúa dành cho thế giới. Chúa Giêsu công khai công bố sự thật này bằng lời lẽ và hành động của Người (18:20). Trong thần học của Thánh Gioan, sự thật có đặc điểm “công cộng” một cách cơ hữu. Những ai nói sự thật hay tìm cách khám phá ra nó, không sợ phải bước vào ánh sáng (3: 19-21) nhưng những ai có đời sống xây dựng trên dối trá hay những ai sợ sự thật thích sống trong tối tăm hơn và hành xử trong bí mật hơn. Bởi thế, Giuđa và băng võ trang của hắn mới tới bắt Chúa Giêsu trong bóng đêm (một cách oái oăm, còn mang theo đèn đuốc 18:3). Và cả vị thượng phẩm cũng thế, không nhận ra Sự Thật của Thiên Chúa đang đứng sờ sờ trước mặt ông ta, bị trói như một tù nhân. 

Thánh Gioan cũng kể cho ta nghe câu truyện Phêrô chối Thầy. Ở đây, sự tương phản diễn ra giữa chứng tá công khai không hề sợ hãi được Chúa Giêsu trình bày trước những kẻ bắt bớ Người và sự yếu đuối của người môn đệ bác bỏ tư cách môn đệ của mình trước câu hỏi của một người đầy tớ gái. Trước đó, Phêrô mạnh mẽ quả quyết rằng mình sẵn sàng hiến mạng sống vì Chúa Giêsu và nằng nặc cho rằng mình sẽ theo chân Chúa Giêsu dù Người đi bất cứ nơi đâu (13:36-38). Nhưng ngài đã đánh giá thấp quyền lực của tối tăm và cái giá làm môn đệ. Trong khủng hoảng khổ nạn, ngài đã thất bại. 

Nhưng Tin Mừng không bỏ rơi Thánh Phêrô. Ngài sẽ chứng kiến ngôi mộ trống và suy nghĩ ý nghĩa của nó (20:6-9) và cuối cùng, trong câu truyện thú vị về bữa ăn sáng bên bờ hồ (chương 21), Chúa Kitô Phục Sinh sẽ chữa lành tư cách môn đệ từng bị gẫy đổ của Thánh Phêrô bằng ba lần tuyên hứa yêu thương và tin tưởng vào Người và sứ mệnh phục vụ cộng đồng. 

Thánh Gioan cũng đưa vào câu truyện này một yếu tố mới. Thánh Phêrô vào được sân trước nhờ “một môn đệ khác” vốn quen biết với vị thượng phẩm (20:15). Đây chắc chắn là “môn đệ yêu dấu”, nhân vật bí mật trong Tin Mừng Gioan tượng trưng cho tư cách môn đệ chân chính. Vị này, cùng với Mẹ Chúa Giêsu, sẽ là các chứng nhân đối với cái chết của Chúa Giêsu (19:26, 35-36). 

Cảm thức tương phản và nghịch lý của Thánh Gioan tiếp tục mang thêm nhiều bình diện ý nghĩa sâu sắc cho trình thuật khổ nạn: sự thật và gian dối, mạnh mẽ và yếu đuối được tỏ hiện vào giờ phút khủng hoảng đau đớn. 

3. Chúa Giêsu trước Philatô: Ga 18:28-40

Vậy, người Dothái điệu Đức Giêsu từ nhà ông Caipha đến dinh tổng trấn. Lúc đó trời vừa sáng. Nhưng họ không vào dinh kẻo bị nhiễm uế mà không ăn lễ Vượt Qua được. Vì thế, tổng trấn Philatô ra ngoài gặp họ và hỏi: "Các người tố cáo người này về tội gì?" Họ đáp: "Nếu ông này không làm điều ác, thì chúng tôi đã chẳng đem nộp cho quan". Ông Philatô bảo họ: "Các người cứ đem ông ta đi mà xét xử theo luật của các người". Người Dothái đáp: "Chúng tôi không có quyền xử tử ai cả". Thế là ứng nghiệm lời Đức Giêsu đã nói, khi ám chỉ Người sẽ phải chết cách nào.

Ông Philatô trở vào dinh, cho gọi Đức Giêsu và nói với Người: "Ông có phải là vua dân Dothái không?" Đức Giêsu đáp: "Ngài tự ý nói điều ấy, hay những người khác đã nói với ngài về tôi?" Ông Philatô trả lời: "Tôi là người Dothái sao? Chính dân của ông và các thượng tế đã nộp ông cho tôi. Ông đã làm gì?" Đức Giêsu trả lời:"Nước tôi không thuộc về thế gian này. Nếu Nước tôi thuộc về thế gian này, thuộc hạ của tôi đã chiến đấu không để tôi bị nộp cho người Dothái. Nhưng nay Nước tôi không thuộc chốn này".

Ông Philatô liền hỏi: "Vậy ông là vua sao?" Đức Giêsu đáp:"Chính ngài nói rằng tôi là vua. Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian vì điều này: đó là để làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi".

Ông Philatô nói với Người: "Sự thật là gì?" Nói thế rồi, ông lại ra gặp người Dothái và bảo họ: "Phần ta, ta không tìm thấy lý do nào để kết tội ông ấy. Theo tục lệ của các người, vào dịp lễ Vượt Qua, ta thường tha cho một người nào đó cho các người. Vậy các người có muốn ta tha vua dân Dothái cho các người không?" Họ lại la lên rằng: "Đừng tha nó, nhưng xin tha Baraba!" Mà Baraba là một tên cướp.


Phiên xử Chúa Giêsu bởi tổng trấn Rôma Phôngxiô Philatô đã chi phối trọn rình thuật khổ nạn của Thánh Gioan. Ngài tổ chức phiên xử thành một loạt những đoạn nhỏ, thay đổi nhau: hết diễn ra ở bên trong dinh lại diễn ra ở bên ngoài, trước sự chứng kiến của đám đông. Các màn này dần dần tăng cường độ, bắt đầu với cuộc thảo luận có vẻ mệt mỏi của Philatô với các lãnh tụ tôn giáo, qua cảnh càng ngày ông càng khó hiểu người tù của mình, và lên đỉnh điểm với việc ông toan tính thả tự do cho Chúa Giêsu nhưng bị đám đông bác bỏ. 

Một lần nữa, Thánh Gioan lại chêm nghịch lý vào trình thuật của ngài. Trong cảnh thứ nhất, các lãnh tụ tôn giáo quan tâm tới việc duy trì sự sạch sẽ theo nghi lễ nhưng họ lại dấn thân vào việc trao nộp Con Thiên Chúa cho người Rôma. Họ lo lắng tới việc chuẩn bị cho ngày lễ Vượt Qua (18:20) nhưng còn Chiên Vượt Qua thực sự thì lại sắp sửa bị sát tế. Việc họ đối chất với viên tổng trấn Rôma về quyền hợp pháp oái oăm thay đã dẫn tới việc Chúa Giêsu bị đóng đinh, điều mà Chúa Giêsu của Thánh Gioan từng tiên đoán về chính Người rằng Người sẽ “được giương cao” lên để thế gian được sống (xem 3:14-15; 12:32-33). 

Biểu tượng mạnh mẽ trọn trong phiên xử này là biểu tượng vương quyền, một chủ đề xuất hiện khi Philatô bắt đầu tra hỏi Chúa Giêsu (18:33-38). Philatô đại diện cho sức mạnh chính trị do triều thiên hoàng đế biểu thị. Nhưng vương quyền của Chúa Giêsu “không thuộc đời này”, nghĩa là, nó đại diện cho một loại quyền lực khác hẳn, quyền lực trao ban sự sống. Như tự ngôn của Tin Mừng này từng công bố dưới hình thức thi ca (1:1-18), Chúa Giêsu bước vào thế giới này để công bố sự thật tối hậu về tình yêu Thiên Chúa: ai nghe tiếng Chúa Giêsu đều biết sự thật của Thiên Chúa và đem nó ra sống trong cuộc sống của mình (8:47). Sự thật về tình yêu của Thiên Chúa, chứ không phải sức mạnh tàn bạo, áp chế, mới là nguồn sức mạnh của Chúa Giêsu. Giống các lãnh tụ tôn giáo, Philatô không có khả năng nhận biết sự thật này (18:37). 

Dù không thể hiểu Chúa Giêsu, Philatô vẫn tin chắc Người vô tội và ông ra ngoài thông báo cho các lãnh tụ biết quyết định của ông. Để làm họ vui lòng, ông đề nghị phóng thích Chúa Giêsu nhân dịp Lễ Vượt Qua (18:39). Nhưng “người Do Thái” đòi thả Baraba, chứ không phải Chúa Giêsu. Tin Mừng, theo Bản Dịch của Nhóm Các Giờ Kinh PHụng Vụ, nói rằng Baraba là một người “tên cướp” (18:40), nhưng theo Cha Donald Senior phải dịch là người “cách mạng” mới đúng (1). Và cha tự hỏi: phải chăng ở đây cũng là một nghịch lý? Vì tin mừng gia rõ ràng muốn hàm ý cho rằng đám đông đã hóa mù trước sự kiện cuộc cách mạng sâu sắc nhất chính là cuộc cách mạng do Chúa Giêsu mở màn!

4. Chúa Giêsu, Vua bị đóng đinh: Ga 19:1-16

Bấy giờ ông Philatô truyền đem Đức Giêsu đi và đánh đòn Người. Bọn lính kết một vòng gai làm vương miện, đặt lên đầu Người, và khoác cho Người một áo choàng đỏ. Họ đến gần và nói: "Kính chào Vua dân Dothái!", rồi vả vào mặt Người.

Ông Philatô lại ra ngoài và nói với người Dothái: "Đây ta dẫn ông ấy ra ngoài cho các người, để các người biết là ta không tìm thấy lý do nào để kết tội ông ấy". Vậy, Đức Giêsu bước ra ngoài, đầu đội vương miện bằng gai, mình khoác áo choàng đỏ. Ông Philatô nói với họ: "Đây là người!" Khi vừa thấy Đức Giêsu, các thượng tế cùng các thuộc hạ liền kêu lên rằng: "Đóng đinh, đóng đinh nó vào thập giá!" Ông Philatô bảo họ: "Các người cứ đem ông này đi mà đóng đinh vào thập giá, vì phần ta, ta không tìm thấy lý do để kết tội ông ấy". Người Dothái đáp lại: "Chúng tôi có Lề Luật; và chiếu theo Lề Luật, thì nó phải chết, vì nó đã xưng mình là Con Thiên Chúa".

Nghe lời đó, ông Philatô càng sợ hơn nữa. Ông lại trở vào dinh và nói với Đức Giêsu: "Ông từ đâu mà đến?" Nhưng Đức Giêsu không trả lời. Ông Philatô mới nói với Người: "Ông không trả lời tôi ư? Ông không biết rằng tôi có quyền tha và cũng có quyền đóng đinh ông vào thập giá sao?" Đức Giêsu đáp lại: "Ngài không có quyền gì đối với tôi, nếu Trời chẳng ban cho ngài. Vì thế, kẻ nộp tôi cho ngài thì mắc tội nặng hơn".

Từ đó, ông Philatô tìm cách tha Người. Nhưng dân Dothái kêu lên rằng: "Nếu ngài tha nó, ngài không phải là bạn của Xêda. Ai xưng mình là vua, thì chống lại Xêda". Khi nghe thấy thế, ông Philatô truyền dẫn Đức Giêsu ra ngoài. Ông đặt Người ngồi trên tòa, ở nơi gọi là Nền Đá, tiếng Hípri là Gápbatha. Hôm ấy là ngày áp lễ Vượt Qua, vào khoảng mười hai giờ trưa. Ông Philatô nói với người Dothái: "Đây là vua các người!" Họ liền la lớn: "Đem đi! Đem nó đi! Đóng đinh nó vào thập giá!" Ông Philatô nói với họ: "Chẳng lẽ ta lại đóng đinh vua các người sao?" Các thượng tế đáp: "Chúng tôi không có vua nào cả, ngoài Xêda". Bấy giờ ông Philatô trao Đức Giêsu cho họ đóng đinh vào thập giá.


Trong các cảnh kết thúc, chủ đề vương quyền mỗi lúc mỗi tăng cường độ. Khi đám đông chọn Baraba để thả tự do, Philatô cho đánh đòn Chúa Giêsu (19:1-3). Binh sĩ thủ diễn một màn chế nhạo đầy tàn ác: sau khi bị đánh, Chúa Giêsu bị đội một mão gai, mặc áo tím và được nhạo cười: “kính chào Vua Dân Do Thái!”. Màn giễu cợt này được chêm bằng những trận hành hạ dã man. 

Tất cả các điều trên chuẩn bị cho màn kỳ lạ tiếp theo khi Philatô cho dẫn người tù bị đánh đập, mặc đồ vương giả giễu cợt ra cho đám đông trông thấy. Philatô hy vọng rằng cảnh tượng này sẽ làm nguôi lòng hận thù muốn tiêu diệt Chúa Giêsu. 

Đối với Philatô và các nhân vật khác trong bi kịch, đây là một sự nhục mạ hoàn toàn đối với người tự cho mình là vua này. Cái ông Giêsu này chỉ là một anh hề, không một chút quyền lực hay người theo, trang phục bằng các biểu hiệu vương giả đầy trò cười. Nhưng đối với độc giả Tin Mừng, sự thật lại khác hẳn. Chúa Giêsu quả là “vua”; Người là Con vương giả của Thiên Chúa. Điều đáng chế giễu ở đây không phải là Chúa Giêsu mà là bất cứ vương miện nào mà quyền lực đặt cănbản trên bạo lực và giả dối. Philatô giới thiệu Chúa Giêsu như “một người” đáng thương nhưng con mắt đức tin biết rõ: con người nhân bản này chính là Ngôi Lời thành xác phàm, là “Con Người” từ trời xuống mạc khải tình yêu Thiên Chúa cho thế giới.

Một lần nữa, nghịch thường cũng đã xuất hiện khắp trong trình thuật của Thánh Gioan: Chúa Giêsu phải chết, các địch thủ của Người la lên như thế, “vì nó đã xưng mình là Con Thiên Chúa” (19:7). Tin Mừng của Thánh Gioan vốn công bố rằng Chúa Giêsu sẽ chịu chết chính vì Người là Con Thiên Chúa, Đấng sẽ hiến mạng sống mình cho thế giới.

Giận vì đám đông bác bỏ Chúa Giêsu và vẫn còn tìm cách tha người tù khó hiểu này, Philatô lại thẩm vấn Chúa Giêsu một lần nữa. Việc ông cho mình có quyền đã bị gạt qua một bên: quyền lực duy nhất chỉ có thể là quyền lực phát xuất từ Thiên Chúa (19:11).

Một lần nữa, khi Philatô nài nỉ đám đông cho Chúa Giêsu, họ đe dọa sẽ tố ông tội bất trung đối với Xêda (19:12). Một lần nữa, nghịch thường lại xuất hiện trong các lời lẽ của đám đông: “ai xưng mình là vua, thì chống lại Xêda”. Đúng thế, các độc giả của Tin Mừng dĩ nhiên nhất trí. Chúa Giêsu là vua và bản chất vương quyền của Người 180 độ đi ngược hẳn lại quyền lực bạo chúa, chuyên cướp mạng sống của người vô tội. 

Cảnh này kết thúc với việc đám đông yêu cầu đóng đinh Chúa Giêsu.Tính biểu tượng ở đây rất mạnh. Philatô dẫn Chúa Giêsu ra và ngồi trên ghế xử án. Ông ta nói để trêu chọc đám đông “đây là vua các người!”, nhưng họ đáp: “chúng tôi không có vua nào cả, trừ Xêda”. Theo cái nhìn của Tin Mừng Gioan, Philatô đúng và đám đông ở Giêrusalem không thực hiện bất cứ lựa chọn khủng khiếp nào nữa. 

5. Con Người giương lên cao: Ga 19:17-30

Vậy họ điệu Đức Giêsu đi. Chính Người vác lấy thập giá đi ra, đến nơi gọi là Cái Sọ, tiếng Hípri là Gôngôtha; tại đó, họ đóng đinh Người vào thập giá, đồng thời cũng đóng đinh hai người khác nữa, mỗi người một bên, còn Đức Giêsu thì ở giữa. Ông Philatô cho viết một tấm bảng và treo trên thập giá; bảng đó có ghi: "Giêsu Nadarét, Vua dân Dothái". Trong dân Dothái, có nhiều người đọc được bảng đó, vì nơi Đức Giêsu bị đóng đinh là một địa điểm ỏ gần thành. Tấm bảng này viết bằng các tiếng Hípri, Latinh và Hylạp. Các thượng tế của người Dothái nói với Philatô: "Xin ngài đừng viết: "Vua dân Dothái" nhưng viết: "Tên này đã nói: Ta là Vua dân Dothái". "Ông Philatô trả lời: "Ta viết sao, cứ để vậy!"

Đóng đinh Đức Giêsu vào thập giá xong, lính tráng lấy áo xống của Người chia làm bốn phần; họ lấy cả chiếc áo dài nữa. Nhưng chiếc áo dài này không có đường khâu, dệt liền từ trên xuống dưới. Vậy họ nói với nhau: "Đừng xé áo ra, cứ bắt thăm xem ai được". Thế là ứng nghiệm lời Kinh Thánh:Áo xống tôi, chúng đem chia chác, còn áo dài, cũng bắt thăm luôn. Đó là những điều lính tráng đã làm.

Đứng gần thập giá Đức Giêsu, có thân mẫu Người, chị của bà thân mẫu, bà Maria vợ ông Cơlôpát, cùng với bà Maria Mácđala. Khi thấy thân mẫu và môn đệ mình thương mến đứng bên cạnh, Đức Giêsu nói với thân mẫu rằng: "Thưa Bà, đây là con của Bà". Rồi Người nói với môn đệ: "Đây là mẹ của anh". Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình.

Sau đó, Đức Giêsu biết là mọi sự đã hoàn tất. Và để ứng nghiệm lời Kinh Thánh, Người nói: "Tôi khát!"

Ở đó, có một bình đầy giấm. Người ta lấy miếng bọt biển có thấm đầy giấm, buộc vào một nhành hương thảo, rồi đưa lên miệng Người. Nhắp xong, Đức Giêsu nói: "Thế là đã hoàn tất!" Rồi Người gục đầu xuống và trao Thần Khí.


Đỉnh cao khổ nạn diễn ra trên Đồi Canvariô nơi Chúa Giêsu bị đóng đinh. Thánh Gioan tiếp tục nhấn mạnh tới sáng kiến có tính chiến thắng của Chúa Giêsu ngay trong giờ phút đen tối nhất của khổ nạn. Không có Simong Kyrênê vác đỡ thập giá; Chúa Giêsu của Thánh Gioan tự vác lấy nó hết đoạn đường thập tự. 

Giờ phút đóng đinh chính là giờ phút lên ngôi: Chúa Giêsu bị đóng đinh, vây quanh bởi một đoàn tùy tùng đâu đâu gồm hai người cùng chết một cách như Người. Trên đầu thập giá là tấm bảng viết bằng ba thứ tiếng: Hípri, La Tinh và Hy Lạp hàng chữ: Giêsu Nadarét, Vua người Do Thái. Mặc cho các trưởng tế phản đối, Philatô vẫn một mực: đó sẽ là tước hiệu của ông Giêsu Bị Đóng Đinh.

Sử dụng biểu tượng khó quên của rắn đồng trong câu truyện về Môsê trong Dân Số 14:21 (xem Ga 3:14), Tin Mừng Gioan trình bày việc đóng đinh như một cuộc “giương lên”, không chỉ là cuộc giương lên thân xác bị đóng đinh của Chúa Giêsu trong cái thống khổ của chết chóc, mà qua cái chết ấy, là một “giương lên” đầy hiển dương vinh thắng khi Ngôi Lời Thành Xác Phàm hoàn tất sứ mệnh yêu thương của Người và trở về cùng Chúa Cha (13:1).

Thánh Gioan thêm vào cảnh cao điểm này nhiều biểu tượng mạnh mẽ khác. Chiếc áo dài không có đường khâu của Chúa Giêsu (có ý nhắc đến phẩm phục của thượng phẩm? hay sự hợp nhất mà Chúa Giêsu tới để tạo ra?) không bị xé ra (19:23-24). Lúc gần chết, Chúa Giêsu kêu “khát” khiến ta nhớ lại lời Người nói với Thánh Phêrô ở Vườn Cây Dầu “Há Ta không phải uống chén Cha Ta đã ban cho Ta sao?” (18:11).

Một trong các hành động sau cùng khác có sự can dự của Mẹ Chúa Giêsu và người môn đệ yêu qúy (19:25-27). Ý nghĩa chính xác của biến cố này khó có thể xác định. Người môn đệ yêu qúy là thành viên của gia hộ Chúa Giêsu hay là cộng đoàn (“Hỡi con, này là mẹ con”)? Mẹ Chúa Giêsu tượng trưng cho Do Thái Giáo và nay “hạ sinh” một cộng đoàn mới tượng trưng bởi người môn đệ của Chúa Giêsu, trong khi cùng một lúc, cộng đoàn Kitô Giáo phải tỏ ra tôn kính đối với Do Thái Giáo vốn là bậc phụ huynh của mình? Hay Mẹ Chúa Giêsu tượng trưng cho đức tin vĩ đại của Do Thái mà cái đau đẻ nay hoàn tất trong cộng đoàn đức tin bắt đầu với cái chết và sự sống lại của Chúa Giêsu (xem hình ảnh này vốn được dùng trong diễn văn từ biệt của Chúa Giêsu tại 16:21-22). 

Tin Mừng Gioan rất hay nhử độc giả, chứ không chỉ thị họ phải rút ra loạt ý nghĩa nào từ bản văn. Thánh Gioan diễn tả cái chết của Chúa Giêsu bằng những nét vắn vỏi nhưng mạnh bạo. Lời cuối cùng của Người là: “Thế là đã hoàn tất” (19:30). Nó vang vọng tinh thần Gioan, Động từ Hy Ngữ dùng ở đây, teleo, quả có nghĩa “hoàn tất”, “tới mục tiêu đã định” mà Chúa Giêsu đã đặt ra để thực thi thánh ý Chúa Cha, kính yêu Chúa Cha “cho đến chết” (13:1, chữ cùng một gốc là telos đã được sử dụng). Gục đầu một cách thanh nhã và điềm tĩnh, Chúa Giêsu Ngôi Lời Thành Xác Phàm phó thần khí sống của Người cho Thiên Chúa. Có một âm hưởng tuyệt diệu nào đó của lòng thanh thản và mạnh mẽ lúc Chúa Giêsu của Thánh Gioan đối diện với cái chết. Cái chết này không hề đóng kịch (Thánh Gioan sẽ chứng minh điều này trong đoạn giáo đâm sau đây) nhưng nỗi kinh hoàng của sự chết đã được tình yêu gỡ ngòi. 

6. Chứng từ: Ga 19: 31-42

Hôm đó là ngày áp lễ, người Dothái không muốn để xác chết trên thập giá trong ngày sabát, mà ngày sabát đó lại là ngày lễ lớn. Nên họ xin ông Philatô cho đánh giập ống chân các người bị đóng đinh và lấy xác xuống. Quân lính đến, đánh giập ống chân người thứ nhất và người thứ hai cùng bị đóng đinh với Đức Giêsu. Khi đến gần Đức Giêsu và thấy Người đã chết, họ không đánh giập ống chân Người. Nhưng một người lính lấy giáo đâm cạnh sườn Người. Tức thì, máu cùng nước chảy ra. Người xem thấy việc này đã làm chứng, và lời chứng của người ấy xác thực; và người ấy biết mình nói sự thật để cho cả anh em nữa cũng tin. Các việc này đã xảy ra để ứng nghiệm lời Kinh Thánh: Không một khúc xương nào của Người sẽ bị đánh giập.

Lại có lời Kinh Thánh khác: Họ sẽ nhìn lên Đấng họ đã đâm thâu.

Sau đó, ông Giôxép, người Arimathê, xin ông Philatô cho phép hạ thi hài Đức Giêsu xuống. Ông Giôxép này là một môn đệ theo Đức Giêsu, nhưng cách kín đáo, vì sợ người Dothái. Ông Philatô chấp thuận. Vậy, ông Giôxép đến hạ thi hài Người xuống. Ông Nicôđêmô cũng đến. Ông này trước kia đã tới gặp Đức Giêsu ban đêm. Ông mang theo chừng một trăm cân mộc dược trộn với trầm hương. Các ông lãnh thi hài Đức Giêsu, lấy băng vải tẩm thuốc thơm mà cuốn, theo tục lệ chôn cất của người Dothái. Nơi Đức Giêsu bị đóng đinh có một thửa vườn, và trong vườn, có một ngôi mộ còn mới, chưa chôn cất ai. Vì hôm ấy là ngày áp lễ của người Dothái, mà ngôi mộ lại gần bên, nên các ông mai táng Đức Giêsu ở đó.


Câu truyện khổ nạn của Thánh Gioan kết thúc bằng hai màn khá tàn bạo trong nghi thức đóng đinh nhưng được Tin Mừng này dành cho một ý nghĩa hoàn toàn mới. 

Các lý hình đến đập ống chân người bị đóng đinh để làm cái chết mau đến trước khi ngày Sabát bắt đầu. Nhưng họ không đập ống chân Chúa Giêsu; một cách vô tình, họ đã ứng nghiệm lời Sách Thánh nói tới chiên vượt qua (xin xem Xh 12:46 chẳng hạn). Trước đó, trong lời chứng của Gioan Tẩy Giả, Chúa Giêsu vốn đã được ví là “chiên Thiên Chúa”, một con chiên sẽ đến để gánh lấy tội lỗi thế giới (1:29, 36). 

Để chắc chắn Chúa Giêsu đã chết, một trong binh sĩ đâm ngọn giáo vào cạnh sườn Người. Máu và nước tuôn ra từ thân thể Người. Một lần nữa, hành vi dã man đã mang một ý nghĩa mới dưới con mắt Tin Mừng. Tin Mừng này trích dẫn Tiên Tri Dacaria 12:10, một bản văn khó quên nói tới việc cư dân Giêrusalem thống hối và được Thiên Chúa tha thứ nhờ nhìn lên Đấng “họ đâm thâu qua”. Nước và máu có một ý nghĩa phong phú trong Tin Mừng Gioan. Tại chương 7, Chúa Giêsu dùng biểu tượng nước để nói về Thần Khí sẽ tuôn vào thế giới qua cái chết ban sự sống của mình (xem 7:37-39). Và trong diễn văn bánh hằng sống, Chúa Giêsu nói tới máu ban sự sống của Người cho những ai tham dự (6:53, 54, 55-56).

Tất cả các dấu chỉ trên xác nhận sức mạnh cứu chuộc của cái chết của Chúa Giêsu trong Tin Mừng Gioan và vì thế, tin mừng gia này đã nhấn mạnh lời chứng dứt khoát của “nhân chứng” dưới chân thập giá (19:35), mà người ta vốn cho là Người Môn Đệ Yêu Qúy vốn là gạch nối chủ chốt giữa cộng đoàn nguyên thủy của Chúa Giêsu và Giáo Hội của Thánh Gioan. 

Đoạn kết diễn ra với việc thân xác bị đóng đinh của Chúa Giêsu được tháo xuống từ thập giá để chôn cất. Ngay lúc này, hiệu quả sứ mệnh của Chúa Giêsu đã hiển hiện. Giuse Arimêtêa, người, vì sợ, đã chỉ là môn đệ của Người trong bóng tối nhưng nay đủ can đảm, tiến ra đòi xác Thầy. Ông được sự tham gia của Nicôđêmô, một Biệt Phái từng tới gặp Chúa Giêsu “ban đêm” (3:1) và đức tin là một đức tin dò dẫm (7:50-52). Ông mang theo một lượng lớn hương liệu, đủ cho một cuộc mai táng vương giả! 

Cả hai người gạt sợ sệt và công khai tỏ lòng tôn kính Chúa Giêsu bị đóng đinh. Những người trong bóng tối nay bước ra ánh sáng. Lời yêu thương của Thiên Chúa đã chiến thắng sự chết.
____________________________________________________________________________________________________________
(1) Cha An Sơ Vị dịch chữ Hy Lạp “lestés” ở đây là “du kích” theo nghĩa của phe ái quốc (Zealots) nhằm giải phóng dân mình khỏi ách thống trị của Rôma và nhóm cầm quyền bóc lột cấu kết với thực dân.

IV.Khổ nạn dưới cái nhìn của Thánh Mátthêu


Trong suốt Tin Mừng của ngài, Thánh Mátthêu theo sát dòng truyện của Thánh Máccô, nhưng vẫn tô điểm câu truyện ấy bằng những chủ đề khá đặc trưng của riêng ngài.

Câu truyện khổ nạn của Chúa Giêsu cũng thế: Thánh Mátthêu hầu như thấm nhiễm trọn câu truyện của Thánh Máccô; tuy nhiên, ở đây cũng thế, ngài dựng lại trình thuật để nhấn mạnh các chủ đề của riêng ngài. Chấp nhận cái chết, Chúa Giêsu đã hoàn tất số phận “Thiên Chúa định” của Người như Sách Thánh đã tiên báo và khai mở một thời đại lịch sử mới đầy sự sống phục sinh. Chúa Giêsu là Con vâng lời của Thiên Chúa, trì chí trung thành ngay giữa đau khổ cùng cực. Lòng tín thác của Chúa Giêsu vào Thiên Chúa, được thử thách trong cơn cuồng phong dữ dằn của cái chết, không vô ích. 

1. Gom bão: Mt 26:1-16

Khi Đức Giêsu giảng dạy tất cả những điều ấy xong, Người bảo các môn đệ của Người rằng: "Anh em biết còn hai ngày nữa là đến lễ Vượt Qua, và Con Người sẽ bị nộp để chịu đóng đinh vào thập giá".

Lúc ấy, các thượng tế và kỳ mục trong dân nhóm họp tại dinh của vị thượng tế tên là Caipha, và cùng nhau quyết định dùng mưu bắt Đức Giêsu và giết đi. Nhưng họ lại nói: "Không nên làm vào chính ngày lễ, kẻo gây náo động trong dân".

Đức Giêsu đang ở làng Bêtania tại nhà ông Simon Cùi, thì có một người phụ nữ đến gần Người, mang theo một bình bạch ngọc, đựng một thứ dầu thơm đắt giá. Cô đổ dầu thơm trên đầu Người, lúc Người đang dùng bữa. Thấy vậy, các môn đệ lấy làm bực tức nói: "Sao lại phí của như thế? Dầu đó có thể bán được nhiều tiền mà cho người nghèo". Biết thế, Đức Giêsu bảo các ông: "Sao lại muốn gây chuyện với người phụ nữ này? Quả thật, cô ấy vừa làm cho Thầy một việc nghĩa. Người nghèo thì lúc nào anh em cũng có với anh em; còn Thầy, thì không phải lúc nào anh em cũng có đâu! Cô ấy đổ dầu thơm trên mình Thầy để mai táng Thầy đấy. Thầy bảo thật anh em: khắp thế gian, Tin Mừng này được loan báo ở đâu, người ta cũng kể lại việc cô vừa làm mà nhớ tới cô".

Bấy giờ, một người trong Nhóm Mười Hai tên là Giuđa Ítcariốt, đi gặp các thượng tế mà nói: "Quý vị muốn cho tôi bao nhiêu? Tôi đây sẽ nộp ông ấy cho quý vị". Họ quyết định cho hắn ba mươi đồng bạc. Từ lúc đó, hắn cố tìm dịp thuận tiện để nộp Đức Giêsu.


Thánh Mátthêu mô tả cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu như một gặp gỡ với định mệnh, không phải thứ định mệnh mù quáng nhưng là một định mệnh được sự dấn thân mạnh mẽ của Chúa Giêsu đối với sứ mệnh do Thiên Chúa chỉ định và sự kháng cự quyết liệt của quyền lực sự chết biến thành không thể nào tránh được. 

Các màn mở đầu của trình thuật khổ nạn đã xác định ra sắc khí. Thánh Mátthêu bắt đầu bằng một dẫn nhập long trọng (26:1-5): giờ đây, khi Chúa Giêsu đã ngỏ hết những lời ban sự sống của Người cho Israel, Người sẵn sàng thực thi giáo huấn mạnh mẽ nhất và gương sáng thuyết phục nhất của Người. Với cái nhìn thấu suốt của Con Thiên Chúa, Chúa Giêsu bình thản tiên đoán cho các môn đệ hay các biến cố sắp tới của khổ nạn. 

Tương phản với sự thanh thản của Chúa Giêsu, các lãnh tụ tôn giáo tụ tập để đưa ra một âm mưu đen tối. Dù cương quyết bắt cho được Người dưới tội “phản bội”, họ vẫn sợ sức lôi cuốn của Chúa Giêsu đối với dân chúng. Xuyên suốt Tin Mừng của ngài, Thánh Mátthêu mô tả các lãnh tụ tôn giáo trong chiều kích tiêu cực của họ. Họ tượng trưng cho sự chống đối Chúa Giêsu và sứ điệp của Người và các tác phong xấu của họ làm nổi bật những gì một môn đệ không hề là. 

Không phải ai ai cũng bác bỏ Chúa Giêsu, như cảnh xức dầu thơm đã chứng minh (26:6-13). Khi ở tại Bethany, một khu ngoại ô của Giêrusalem, ăn tối tại nhà Simong Cùi (chứng tỏ lòng cảm thương của Người dành cho người bệnh và người bị hắt hủi), một phụ nữ vô danh đã dâng tặng Chúa Giêsu một cử chỉ hiếu khách và yêu thương hậu hĩnh. Nàng xức đầu Người bằng thứ dầu thơm qúy giá.

Dù trong thế kỷ thứ nhất, việc xức dầu thơm cho khách là chuyện thông thường tại các yến tiệc của người giầu, các môn đệ của Chúa Giêsu vẫn coi hành động của người phụ nữ này là quá hoang phí. Nhưng đối với Chúa Giêsu và Tin Mừng, hành vi yêu thương đằm thắm này hoàn toàn thích đáng đối với thời khắc định mệnh của khổ nạn. Người phụ nữ xức dầu lên đầu Chúa Giêsu, giống như xức cho các tiên tri và vua chúa vậy; do đó, nàng đã dâng lên Người lòng tôn kính Người đáng được. Và, như Chúa Giêsu đã tuyên bố, khi âu yếm xức dầu cho thân xác Người, nàng đã chuẩn bị cho cái chết và cuộc mai táng của Người. Âu yếm tôn kính Chúa Giêsu và hiểu rõ cái chết của Người là các dấu chỉ tư cách môn đệ chân chính, và do đó, cử chỉ can đảm của người phụ nữ vô danh này sẽ được tưởng nhớ ở “bất cứ nơi nào Tin Mừng được công bố khắp thế giới”. Đây quả là một hồng ân ngoại thường mà trong toàn bộ Tân Ước, chỉ một mình nàng được hưởng. 

Hoàn toàn ngược với tình yêu âu yếm và can đảm của người phụ nữ trên, Giuđa, một trong 12 tông đồ của Chúa Giêsu, đã tới gặp các trưởng tế và bán linh hồn hắn bằng cách phản bội Chúa Giêsu. Thánh Mátthêu là tin mừng gia duy nhất đếm đủ “ba mươi đồng bạc”, cái giá của một nô lệ theo Xuất Hành 21:32. Hiển nhiên, Giuđa là một bí ẩn đau lòng đối với cộng đoàn tiên khởi: làm sao một trong Nhóm Mười Hai, được chính Chúa Giêsu tuyển chọn, lại có thể phản bội Người như thế? Tin Mừng Mátthêu không đánh giá thấp ảnh hưởng sói mòn của tiền bạc và lòng tham: “của cải các ông ở đâu, lòng các ông ở đó… Các ông không thể phục vụ cả Thiên Chúa lẫn tiền bạc” (6:21, 24). 

Toàn bộ các nhân vật đều đồng loạt xuất hiện: Chúa Giêsu, các môn đệ, các địch thủ. Bộ máy phản bội và chết chóc bắt đầu chạy. Và, Thánh Mátthêu cho hay, Giuđa ra ngoài “cố tìm dịp thuận tiện để nộp Người” (26:16). Chữ Hy Lạp được Thánh Mátthêu sử dụng chỉ “dịp thuận tiện” là eukairian, do gốc kairos, chỉ lúc chọn lọc, lúc của định mệnh. Có một nghịch thường ở đây: cả Giuđa lẫn Chúa Giêsu đều hướng tới cùng một giây phút định mệnh: với Giuđa đây là thời điểm phản bội và tự hủy; với Chúa Giêsu, đây là thời điểm của trung thành và hiến sinh tối hậu. 

2. Thời thuận tiện (kairos): Mt 26:17-35

Ngày thứ nhất trong tuần bánh không men, các môn đệ đến thưa với Đức Giêsu: "Thầy muốn chúng con dọn cho Thầy ăn lễ Vượt Qua ở đâu?" Người bảo: "Các anh đi vào thành, đến nhà một người kia và nói với ông ấy: "Thầy nhắn: thời của Thầy đã gần tới, Thầy sẽ đến nhà ông để ăn mừng lễ Vượt Qua với các môn đệ của Thầy". Các môn đệ làm y như Đức Giêsu đã truyền, và dọn lễ Vượt Qua.

Chiều đến, Đức Giêsu vào bàn tiệc với mười hai môn đệ. Đang bữa ăn, Người nói: Thầy bảo thật anh em, một người trong anh em sẽ nộp Thầy". Các môn đệ buồn rầu quá sức, bắt đầu lần lượt hỏi Người: "thưa Ngài, chẳng lẽ con sao?" Người đáp: "Kẻ giơ tay chấm chung một đĩa với Thầy, đó là kẻ nộp Thầy. Đã hẳn Con Người ra đi theo như lời đã chép về Người, nhưng khốn cho người nào nộp Con Người: thà người đó đừng sinh ra thì hơn!" Giuđa, kẻ nộp Người cũng hỏi: "Rápbi, chẳng lẽ con sao?" Người trả lời: "Chính anh đó!".

Cũng đang bữa ăn, Đức Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, rồi bẻ ra, trao cho môn đệ và nói: "Anh em cầm lấy mà ăn, đây là mình Thầy". Rồi Người cầm lấy chén, dâng lời tạ ơn, trao cho môn đệ và nói: "Tất cả anh em hãy uống chén này, vì đây là máu Thầy, máu Giao Ước, đổ ra cho muôn người được tha tội. Thầy bảo cho anh em biết: từ nay, Thầy không còn uống thứ sản phẩm này của cây nho, cho đến ngày ấy, ngày Thầy được cùng anh em uống thứ rượu mới trong Nước của Cha Thầy".

Hát thánh vịnh xong, Đức Giêsu và các môn đệ ra đi lên núi Ôliu. Bấy giờ Đức Giêsu nói với các ông: "Đêm nay tất cả anh em sẽ vấp ngã vì Thầy. Vì có lời đã chép: Ta sẽ đánh người chăn chiên, và đàn chiên sẽ tan tác. Nhưng sau khi chỗi dậy, Thầy sẽ đến Galilê trước anh em". Ông Phêrô liền thưa: "Dầu tất cả có vấp ngã vì Thầy đi nữa, thì con đây cũng chẳng bao giờ vấp ngã". Đức Giêsu bảo ông: "Thầy bảo thật anh: nội đêm nay, gà chưa kịp gáy, thì anh đã chối Thầy ba lần". Ông Phêrô lại nói: "Dầu có phải chết với Thầy, con cũng không chối Thầy". Tất cả các môn đệ cũng đều nói như vậy.


Loạt cảnh tiếp theo tập chú vào bữa tối cuối cùng của Chúa Giêsu với các môn đệ. Đó là ngày áp Lễ Vượt Qua, khởi đầu cho ngày hành hương vĩ đại khi người Do Thái khắp Israel và khắp thế giới Rôma mừng cuộc Xuất Hành, tức việc Thiên Chúa giải phóng dân khỏi nô lệ và chết chóc. Với một sự long trọng uy nghi, Chúa Giêsu bắt đầu cuộc chuẩn bị cho Lễ Vượt Qua sau cùng của Người. Người sai môn đệ vào Giêrusalem, chỉ thị một cách chính xác cho các ông chuẩn bị bữa ăn tối. Lời Chúa Giêsu, chỉ có trong Tin Mừng Mátthêu, tràn đầy ý nghĩa: “thời của Thầy đã gần tới” (26:18). Chữ Hy Lạp kairos lại được sử dụng ở đây, để chỉ thời khắc có tính quyết định của lịch sử khi thế giới cũ sẽ chết đi và một thời đại mới được khai sinh. Đối với Thánh Mátthêu, cái chết và sự sống lại của Chúa Giêsu thực sự là điểm ngoặt của toàn bộ định mệnh con người. 

Các môn đệ ngoan ngoãn làm theo lệnh của Chúa Giêsu và mọi sự đã sẵn sàng để cử hành Lễ Vượt Qua. Sắc khí bữa ăn tối từ biệt này pha lẫn cả buồn bã lẫn hân hoan. Trong văn hóa Sêmitích, cũng như trong nhiều nền văn hóa khác, bữa ăn là thời khắc thánh thiêng, thời khắc trong đó, sợi dây chung của sự sống và tình bạn cần được cử hành. Trước cái phông này, Chúa Giêsu tiên đoán rằng một trong nhóm mười hai sẽ bẻ gẫy sợi dây liên kết giữa trò và thầy. Các môn đệ khác tỏ ra buồn bã và đã hỏi một câu sẽ mãi mãi vang vọng trong trái tim mỗi Kitô Hữu khi họ giáp mặt với sự bất trung của mình: “thưa ngài, chẳng lẽ con sao?” (26:22). 

Giuđa trở thành phản mẫu của người môn đệ, một khuôn mặt xem ra gây chú ý nơi Thánh Mátthêu. Mọi lịch sử nhân bản đều được quện chặt một cách huyền nhiệm vào sự quan phòng của Thiên Chúa, kể cả cuộc bỏ đạo và phản bội khiếp đảm nhất. Nhưng thực tại Chúa quan phòng thương yêu ta không lấy đi trách nhiệm của ta. Xuyên suốt Tin Mừng của ngài, Thánh Mátthêu luôn lui tới với chủ đề này: ta phải tính sổ với Thiên Chúa về các chọn lựa và hành động của mình. Nếu Giuđa chọn cái chết, hắn sẽ cảm nghiệm cái chết. Như để đóng ấn cho số phận mình, Giuđa cũng đã lặp lại câu hỏi của các môn đệ khác: “Rápbi, chẳng lẽ con sao?” (26:25), một câu hỏi đầy oái oăm mà chỉ trình thuật Mátthêu mới có. 

Lúc kết thúc bữa ăn tối, Chúa Giêsu trở lại với chủ đề phản bội và sai phạm đầy bi thảm (26: 31-34). Không phỉ chỉ Giuđa mà mọi môn đệ, kể cả Phêrô, người mà Chúa Giêsu đã chúc phúc làm lãnh tụ của họ (16:16) và nâng đỡ giữa cảnh biển động (14:28-31), sẽ để dạ trung thành của họ bị bờ đá đau khổ và sợ sệt cùng cực đập nát. Tuy nhiên, ngay những giờ phút ảm đạm nhất như thế cũng vẫn được Ngôi Lời Thiên Chúa ôm ẵm; sự thất bại của các môn đệ đã ứng nghiệm lời tiên tri Dacaria 13:7: “Ta sẽ đánh người chăn chiên, và đoàn chiên sẽ tan tác”.

Các lời tiên đoán phản bội và sai phạm trên tạo nên cái khung nhức nhối quanh thời khắc chủ chốt của bữa ăn Vượt Qua. Sử dụng các biểu tượng sống động, không thể nào xóa nhòa, Chúa Giêsu cho các môn đệ hay ý nghĩa cái chết của Người. Bánh bẻ ra là thân xác Người được trao ban cho họ; chén đổ ra là máu của Người, “máu giao ước” cung hiến ơn tha thứ và tình yêu không bao giờ cạn dành cho tất cả. Trọn thừa tác vụ của Chúa Giêsu, mọi lời của sự thật giải thoát, mọi đụng chạm chữa lành, mọi đối kháng bất công, đều được tinh chế ở đây trong bánh và chén rượu, trong thân xác và máu huyết Chúa Giêsu trao ban trọn vẹn cho thế giới. 

Bữa tối cuối cùng trên không thực sự là Bữa Vượt Qua sau cùng đối với Chúa Giêsu và các môn đệ. Người sẽ cử hành nó như “mới” một lần nữa nơi Vương Quốc Thiên Chúa. Bất chấp sự yếu đuối của họ, tình yêu nồng nàn hết sức trung thành của Chúa Giêsu đối với các môn đệ sẽ tụ họp họ lại một lần nữa bên kia cái chết. 

3. Diệtsimani: Mt 26:36-56

Bấy giờ Đức Giêsu đi cùng với các ông đến một thửa đất gọi là Ghếtsêmani. Người nói với các môn đệ: "Anh em ngồi lại đây, trong lúc Thầy đi đến đàng kia cầu nguyện". Rồi Người đưa ông Phêrô và hai người con ông Dêbêđê đi theo. Người bắt đầu cảm thấy buồn rầu xao xuyến. Bấy giờ Người nói với các ông: "Tâm hồn Thầy buồn đến chết được. Anh em ở lại đây mà canh thức với Thầy". Người đi xa hơn một chút, sấp mặt xuống, cầu nguyện rằng: "Cha ơi, nếu được, xin cho chén này rời khỏi con. Nhưng xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha". Rồi Người đến chỗ các môn đệ, thấy các ông đang ngủ, liền nói với ông Phêrô: "Thế ra anh em không thể canh thức nổi với Thầy một giờ sao? Anh em hãy canh thức và cầu nguyện, để khỏi lâm vào cơn cám dỗ. Vì tinh thần thì hăng hái,nhưng thể xác lại yếu đuối". Người lại đi cầu nguyện lần thứ hai và nói: "Lạy Cha, nếu chén này không thể rời khỏi con, nhất định con phải uống, thì xin cho ý Cha được thể hiện". Rồi Người lại đến, thấy các môn đệ vẫn đang ngủ, vì mắt họ nặng trĩu. Người để mặc các ông mà đi cầu nguyện lần thứ ba, nói lại cũng một lời đó. Bấy giờ Người đến chỗ các môn đệ và nói với các ông: "Lúc này mà còn ngủ, còn nghỉ sao? Này, đến giờ Con Người bị nộp vào tay những kẻ tội lỗi. Đứng dậy, ta đi nào! Kìa kẻ nộp Thầy đã tới!"

Người còn đang nói, thì Giuđa, một trong Nhóm Mười Hai, đã đến. Cùng đi với hắn, có cả một đám người đông đảo mang gươm giáo gậy gộc. Họ được các thượng tế và kỳ mục trong dân sai đến. kẻ nộp Người đã cho họ một dấu hiệu, hắn dặn rằng: "Tôi hôn ai thì chính là người đó. Các anh bắt lấy!" Ngay lúc đó, Giuđa tiến lại gần Đức Giêsu và nói: "Rápbi, xin chào Thầy!", rồi hôn Người. Đức Giêsu bảo hắn: "Này bạn, bạn đến đây làm gì thì cứ làm đi!" Bấy giờ họ tiến đến, tra tay bắt Đức Giêsu. Và kìa, một trong những kẻ theo Đức Giêsu liền vung tay tuốt gươm của mình ra, chém phải tên đầy tớ của thượng tế, làm nó đứt tai. Đức Giêsu bảo người ấy: "Hãy xỏ gươm vào vỏ, vì tất cả những ai cầm gươm sẽ chết vì gươm. hay anh tưởng là Thầy không thể kêu cứu với Cha Thầy sao? Người sẽ cấp ngay cho Thầy hơn mười hai đạo binh thiên thần! Nhưng như thế, thì lời Kinh Thánh ứng nghiệm sao được? Vì theo đó, mọi sự phải xảy ra như vậy". Vào giờ ấy Đức Giêsu nói với đám đông: "Các ông đem gươm giáo gậy gộc đến như để bắt tôi một tên cướp sao? Ngày ngày tôi vẫn ngồi giảng dạy ở Đền Thờ thì các ông không bắt. Nhưng toàn bộ việc này xảy ra là để ứng nghiệm những lời chép trong Sách Các Ngôn Sứ". Bấy giờ các môn đệ bỏ Người mà chạy trốn hết.


Nhịp độ khổ nạn bắt đầu gia tốc. Chúa Giêsu và các môn đệ rời thượng lầu, đến một khu vườn ôliu vắng vẻ (Thánh Luca gọi nó là Diệtsimani trên Đồi Ôliu). Tại đây, Chúa Giêsu đem theo 3 môn đệ và bắt đầu cuộc canh thức cầu nguyện sốt sắng và đầy xao xuyến. Lời của Người vọng lại Thánh Vịnh 42: “Tâm hồn Thầy buồn đến chết được” (26:38). Vị thầy trước đây từng dạy môn đệ sự quan trọng của việc cầu nguyện trực tiếp, trung thực và tín thác (6:5-15) nay chính Người cầu nguyện với hết trái tim mình khi giáp mặt với cái chết. Chúa Giêsu phủ phục dưới đất và mở lòng ra với Thiên Chúa: "Cha ơi, nếu được, xin cho chén này rời khỏi con. Nhưng xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha" (26:39). Trọn vẹn mầu nhiệm Chúa Giêsu được biểu thị trong lời cầu nguyện này: một con người nhân bản bám vào sự sống và sợ sự chết; một người con trung thành của Thiên Chúa đặt trọn tương lai của mình trong bàn tay của Người Cha yêu thương.

Chúa Giêsu lặp lại lời cầu nguyện này ba lần. Người xin các môn đệ canh thức với Người nhưng họ bị áp đảo bởi cơn buồn ngủ nặng nề và một lần nữa lại sai phạm với Thầy mình. Cơn ngủ của họ tượng trưng cho trạng thái lờ đờ thiêng liêng: họ không sẵn sàng đón nhận cái dữ dằn của sự chết đang sắp sửa sụp xuống khắp Diệtsimani và đe doạ mạng sống Thầy. 

Cơn bão tử thần ập tới khi Giuđa dẫn một đám thật đông trang bị giáo mác gậy gộc ào vào vườn bắt Chúa Giêsu (26:47). Một lần nữa, Tin Mừng Thánh Mátthêu lưu ý đặc biệt tới người môn đệ khốn nạn này. Bằng một cử chỉ oái oăm hết cỡ, nụ hôn của hắn trở thành dấu hiệu của phản bội. Giống lúc ở bữa tối sau cùng, Giuđa ngụy trang sự phản bội của hắn bằng những lời xem ra vô tội: “Rápbi, xin chào Thầy!” Nhưng Chúa Giêsu thấy tận đáy lòng Giuđa, và ngay trong chính thời khắc phản bội ấy, vẫn nói với hắn như một “người bạn”.

Đám đông vũ trang bắt giam Chúa Giêsu và trong một cử chỉ vô ích, một trong các môn đệ rút kiếm ra, chém đứt tai người đầy tớ của vị thượng phẩm. Trong trình thuật Mátthêu, đây là cơ hội để Chúa Giêsu dạy dỗ. Người cảnh cáo người môn đệ này đừng lấy bạo lực đáp trả bạo lực, ai sống nhờ gươm sẽ chết vì gươm. Trong Bài Giảng Trên Núi, Chúa Giêsu vốn đã thúc giục các môn đệ đừng sử dụng bạo lực (5:21-26, 38-42); con cái Thiên Chúa phải yêu thương cả kẻ thù (5:43-48). Nếu chỉ là vấn đề biểu dương quyền lực, thì Thiên Chúa đã áp đảo những kẻ tấn công Chúa Giêsu bằng các đạo binh thiên thần rồi. Nhưng nước Thiên Chúa, như đã được mạc khải trong Sách Thánh, sẽ không nhờ bạo lực mà được thiết dựng. Lòng trung thành của Chúa Giêsu sẽ dẫn Người tới thung lũng sự chết nhưng cuối cùng, Sách Thánh sẽ được ứng nghiệm và tình yêu sẽ đánh bại bạo lực và sự chết. 

Nhưng lúc này, sức mạnh của sự ác xem ra đang ở thế thượng phong. Giáp mặt với viễn tượng này, các môn đệ đã đầu hàng sợ sệt và để mặc Chúa Giêsu cho những kẻ bắt giam Người. 

4. Xử án Chúa Giêsu: Mt 26:57-27:10

Họ bắt Đức Giêsu, rồi điệu đến thượng tế Caipha. Các kinh sư và kỳ mục đã tề tựu sẵn đó. Ông Phêrô theo Người xa xa, đến tận dinh thượng tế. Ông vào bên trong ngồi với bọn nha dịch, xem kết cuộc ra sao.

Còn các thượng tế và toàn thể Thượng Hội Đồng thì tìm chứng gian buộc tội Đức Giêsu để lên án tử hình. Nhưng họ tìm không ra, mặc dầu có nhiều kẻ đã đứng ra làm chứng gian. Sau cùng, có hai người bước ra, khai rằng: "Tên này đã nói: tôi có thể phá Đền Thờ Thiên Chúa, và nội trong ba ngày, sẽ xây cất lại". Và vị thượng tế đứng lên hỏi Đức Giêsu: "Ông không nói lại được một lời sao? Mấy người này tố cáo ông gì đó?" Nhưng Đức Giêsu vẫn làm thinh. Vị thượng tế nói với Người: "Tôi nại đến Thiên Chúa hằng sống, mà truyền cho ông phải nói cho chúng tôi biết: ông có phải là Đấng Kitô Con Thiên Chúa không? Đức Giêsu trả lời: "Chính ngài nói đó. Hơn nữa, tôi nói cho các ông hay: từ nay, các ông sẽ thấy Con Người ngự bên hữu Đấng Toàn Năng và ngự giá mây trời mà đến". Bấy giờ vị thượng tế liền xé áo mình ra và nói: "Hắn nói phạm thượng! Chúng ta cần gì nhân chứng nữa? Đấy, quý vị vừa nghe hắn nói phạm đến Thiên Chúa, quý vị nghĩ sao?" Họ liền đáp: "Hắn đáng chết!"

Rồi họ khạc nhổ vào mặt và đấm đánh Người. Có kẻ lại tát Người và nói: "Ông Kitô ơi, hãy nói tiên tri cho chúng tôi nghe đi: ai đánh ông đó?"

Còn ông Phêrô đang ngồi ngoài sân, thì có một người tớ gái đến bên ông và nói: "Cả bác nữa, bác cũng đã theo ông Giêsu, người Galilê đó chứ gì?" Ông liền chối trước mặt mọi người mà nói: "Tôi không biết cô nói gì!" Ông đi ra đến cổng, thì một người tớ gái khác thấy ông, liền nói với những người ở đó: "Bác này cũng theo ông Giêsu người Nadarét đấy". Nhưng ông Phêrô lại thề mà chối: "Tôi không biết người ấy". Một lát sau, những người đứng đó xích lại gần ông Phêrô mà nói: "Đúng là bác cũng thuộc bọn họ. Cứ nghe giọng nói của bác là biết ngay". Bấy giờ ông Phêrô liền thốt lên những lời độc địa và thề rằng: "Tôi không biết người ấy". Ngay lúc đó, có tiếng gà gáy. Ông Phêrô sực nhớ lời Đức Giêsu đã nói: Gà chưa kịp gáy thì anh đã chối Thầy ba lần". Ông ra ngoài, khóc lóc thảm thiết.

Trời vừa sáng, tất cả các thượng tế và kỳ mục trong dân cùng nhau bàn kế hại Đức Giêsu, để xử tử Người. Sau đó, họ trói Người lại và giải đi nộp cho tổng trấn Philatô.

Bấy giờ, Giuđa, kẻ nộp Người, thấy Người bị kết án thì hối hận. Hắn đem ba mươi đồng bạc trả lại cho các thượng tế và kỳ mục mà nói: "Tôi đã phạm tội nộp người vô tội, khiến Người phải chết oan". Nhưng họ đáp: "Can gì đến chúng tôi. Mặc kệ anh!" Giuđa ném số bạc vào Đền Thờ rồi lui ra và đi thắt cổ. Các thượng tế lượm lấy số bạc ấy mà nói: "Không được phép bỏ vào quỷ Đền Thờ, vì đây là giá máu". Sau khi bàn định với nhau, họ dùng tiền đó tậu "Thửa Ruộng Ông Thợ Gốm" để làm nơi chôn cất khách ngoại kiều. Vì vậy mà thửa ruộng ấy gọi là "Ruộng Máu" cho đến ngày nay. Thế là ứng nghiệm lời ngôn sứ Giêrêmia: "Họ đã lượm lấy ba mươi đồng bạc, tức là cái giá mà một số con cái Ítraen đã đặt khi đánh giá Người. Và họ lấy số bạc đó mà mua "Thửa Ruộng Ông Thợ Gốm", theo những điều Đức Chúa đã truyền cho tôi".


Đám đông dẫn người tù của họ tới thượng phẩm Caipha và các luật sĩ và trưởng lão đang tụ họp. Thánh Mátthêu mô tả việc này như một phiên tòa chính thức trong đó, các lãnh tụ lắng nghe lời chứng chống lại Chúa Giêsu, hỏi cung Người và cuối cùng kết án Người. 

Chiều hướng bi đát của tin mừng khá rõ rệt. Toàn bộ cảnh Chúa Giêsu bị xử, không sợ sệt trực diện với những kẻ bắt bớ mình, được đóng khung bằng câu truyện Phêrô chối Thầy. Trong khi các môn đệ khác trốn chạy vì hoảng sợ, Phêrô đi theo đám đông từ xa xa và theo vị thầy bị giam giữ của mình vào sân nhà thượng phẩm. Nhưng ở đây, lòng can đảm trồi sụt đã lìa khỏi ngài. Một số nữ tỳ nhận ra ngài là bạn đồng hành của người Galilê tên Giêsu; dưới sự soi mói này, Phêrô đã bác bỏ tư cách môn đệ của mình, thề rằng “tôi không biết người này!” Chúa Giêsu từng cảnh cáo các môn đệ của Người đừng thề thốt mà chỉ nên nói sự thật (5:33-37); thế là Phêrô đã cộng hưởng các sai phạm của ngài. Ngay lúc ấy, gà gáy và người môn đệ tan nát cõi lòng nhớ lại lời Thầy cảnh cáo ở bữa ăn tối. Sự lớn lao của sai phạm đè nặng lên ngài, khiến ngài rời bỏ sân nhà thượng phẩm và bật khóc thảm thiết.

Trong lúc ấy, Chúa Giêsu đứng trước vị thượng phẩm và Thượng Hội Đồng. Hàng loạt nhân chứng chống Chúa Giêsu không gây được ấn tượng, nên cuối cùng vị thượng phẩm phải đối chất với người tù lặng im: “Ông có phải là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa?” (26:63). Độc giả nào theo dõi Chúa Giêsu qua khắp Tin Mừng hẳn biết rõ câu trả lời cho câu hỏi này: Chúa Giêsu, sinh ra trong Chúa Thánh Thần; Chúa Giêsu, Đấng mạc khải sự thật của Thiên Chúa và là Đấng mang sức mạnh chữa lành của Thiên Chúa, quả là Đấng Kitô hằng mong đợi và là Con độc nhất của Thiên Chúa. 

Câu hỏi của vị thượng phẩm nói lên một sự thật mà ông không thể thừa nhận. Chúa Giêsu tiếp tục nói tiên tri rằng Người sẽ được hiển dương như Con Người vinh hiển, ngự bên hữu Thiên Chúa và vào ngày tận cùng của thời gian sẽ hiện đến trên mây trời (26:64). Nhưng hiện nay, sự vinh hiển ấy chỉ hiển hiện dưới con mắt đức tin; đối với các lãnh tụ, con người này không hề là đấng kitô mà chỉ là kẻ lừa đảo và lộng ngôn đáng phải chết. Sự thù nghịch của họ biến thành bạo lực và nhạo báng khi họ khạc nhổ vào Chúa Giêsu và đánh đập Người, nhạo cười Người vì cho mình có quyền lực kitô (26:67). Tảng sáng, phiên tòa tái tục và họ chính thức kết án tử hình Chúa Giêsu và điệu Người tới Philatô, tổng trấn Rôma. 

Trước khi kết thúc màn này, Thánh Mátthêu nhắc tới số phận của Giuđa (27:3-10). Kẻ phản bội tràn ngập hối hận nên đã cố gắng trả 30 đồng bạc lại cho các lãnh tụ tôn giáo, thú nhận rằng hắn đã hại máu người vô tội. Nhưng họ cự lại hắn và trong cơn thất vọng, hắn liệng ba mươi đồng này vào đền thờ và đi tự vận. Dù bị từ chối, khoản tiền máu này vẫn ám ảnh họ. Họ bèn lượm lấy nó và dùng nó mua một thửa đất chôn cất người ngoại quốc.

Đối với Thánh Mátthêu, câu truyện bi thảm này nhắc lại câu truyện đầy tính tiên tri trong Giêrêmia 19, trong đó, vị tiên tri đập bể chiếc bình thợ gốm ở ngoài đồng như dấu chỉ phán xét Giêrusalem, một cánh đồng sau đó được dùng chôn ngoại kiều. Một lần nữa, đối với Tin Mừng Mátthêu, ngay những thời khắc đáng khinh nhất của kiếp nhân sinh cũng không rơi ra ngoài mục tiêu bao trùm của Thiên Chúa. 

5. Đấng Kitô bị kết án: Mt 27:11-31

Đức Giêsu bị điệu ra trước mặt tổng trấn; tổng trấn hỏi Người: "Ông là vua dân Dothái sao?" Đức Giêsu trả lời: "Chính ngài nói đó". Nhưng khi các thượng tế và kỳ mục tố Người, thì Người không trả lời một tiếng. Bấy giờ ông Philatô hỏi Người: "Ông không nghe bao nhiêu điều họ làm chứng chống lại ông đó sao?" Nhưng Đức Giêsu không trả lời ông về một điều nào, khiến tổng trấn rất đỗi ngạc nhiên.

Vào mỗi dịp lễ lớn, tổng trấn có lệ phóng thích cho đám đông một người tù, tùy ý họ muốn. Mà khi ấy có một người tù khét tiếng, tên là Baraba. Vậy khi đám đông đã tụ họp lại, thì tổng trấn Philatô nói với họ: "Các ngươi muốn ta phóng thích ai cho các người đây? Baraba hay Giêsu, cũng gọi là Kitô?" Bởi ông thừa biết chỉ vì ghen tị mà họ nộp Người.

Lúc tổng trấn đang ngồi xử án, thì bà vợ sai người đến nói với ông: Ông đừng nhúng tay vào vụ xử người công chính này, vì hôm nay, trong chiêm bao, tôi đã khổ nhiều vì ông ấy". Nhưng các thượng tế và kỳ mục lại xúi đám đông đòi tha tên Baraba mà giết Đức Giêsu. Tổng trấn hỏi họ: "Trong hai tên này, các ngươi muốn ta tha ai cho các ngươi?" Họ thưa: "Baraba!" Tổng trấn Philatô nói tiếp: "Thế còn ông Giêsu, cũng gọi là Kitô, ta sẽ làm gì đây?" Mọi người đồng thanh: "Đóng đinh nó vào thập giá!" Tổng trấn lại nói: "Thế ông ấy đã làm điều gì gian ác?" Họ càng la to: "Đóng đinh nó vào thập giá!" Tổng trấn Philatô thấy đã chẳng được ích gì mà còn thêm náo động, nên lấy nước rửa tay trước mặt đám đông mà nói: "Ta vô can trong vụ đổ máu người này. Mặc các ngươi liệu lấy!" Toàn dân đáp lại: "Máu hắn đổ xuống đầu chúng tôi và con cháu chúng tôi!" Bấy giờ, tổng trấn phóng thích tên Baraba cho họ, còn Đức Giêsu, thì sau khi truyền đánh đòn, ông trao cho họ đóng đinh vào thập giá.

Bấy giờ lính của tổng trấn đem Đức Giêsu vào trong dinh, và tập trung cả cơ đội quanh Người. Chúng lột áo Người ra, khoác cho Người một tấm áo choàng đỏ. Rồi kết một vòng gai làm vương miện đặt lên đầu Người, và trao vào tay mặt Người một cây sậy. Chúng quỳ gối trước mặt Người mà nhạo rằng: "Vạn tuế Đức Vua dân Dothái!" Rồi chúng khạc nhổ vào Người và lấy cây sậy mà đập vào đầu Người. Chế giễu chán, chúng lột áo choàng ra và cho Người mặc lại áo của mình, rồi điệu Người đi đóng đinh vào thập giá.


Câu truyện khổ nạn chuyển sang một màn mới khi Chúa Giêsu bị điệu tới Philatô, tổng trấn Rôma. Giờ đây, chủ đề vương quyền và trung quân được đẩy lên hàng đầu. 

Philatô hỏi Chúa Giêsu về căn tính vua của Người nhưng người tù khó hiểu không lên tiếng đáp lại các lời tố cáo do các lãnh tụ tôn giáo đổ lên đầu Người. Độc giả Kitô Giáo biết rõ: Chúa Giêsu thực sự là vua nhưng là một vị vua không giống vị vua mà Philatô có thể hiểu chút nào.

Rõ ràng có tập tục thả một tù nhân được đám đông chọn vào dịp Lễ Vượt Qua. Philatô đề nghị để đám đông chọn hoặc Baraba, “người tù khét tiếng” (27:16) hoặc Chúa Giêsu. Các bản chép tay cổ gợi ý rằng Thánh Mátthêu rất có thể đã làm nổi bật hơn nữa việc chọn lựa này khi cho rằng Baraba thực ra có tên là “Giêsu, người được gọi là Baraba” song song với “Giêsu, người được gọi là Kitô”. 

Mỗi lần Philatô đề nghị như thế, các lãnh tụ và đám đông đều chọn thả tự do cho Baraba và yêu cầu đóng đinh Chúa Giêsu. Thánh Mátthêu dựng bi kịch cho tới giây phút cuối cùng. Trong một cử chỉ khiến ta nhớ tới nghi thức tuyên bố vô tội trong Đệ Nhị Luật 21, Philatô rửa tay và nói với đám đông: “ta vô can trong việc đổ máu người này. Mặc các ngươi liệu lấy”. Để trả lời, “toàn thể nhân dân” tuyên bố: "Máu hắn đổ xuống đầu chúng tôi và con cháu chúng tôi!" (27:24-25).

Gần hai ngàn năm nay, đoạn văn trên đã bị giải thích sai một cách bi thảm như là lời bào chữa cho việc trừng phạt người Do Thái vì tội người ta cho rằng họ giết Chúa Giêsu. Chắc chắn Thánh Mátthêu muốn thời khắc này trở thành thời khắc bi thảm và có tính quyết định. Chúa Giêsu, Con Ápraham, Con Đavít, đã đến với dân của Người và, cũng như các tiên tri đi trước Người, đã bị họ từ khước. Mọi chống đối do các lãnh tụ sai lầm điều hướng lên tới tột đỉnh ở đây trong trình thuật khổ nạn này. Trong khi người Dân Ngoại Philatô tuyên bố mình vô tội, thì dân của chính Chúa Giêsu lại nhận trách nhiệm đã đổ máu Người. Ở đây, Thánh Mátthêu nhìn thấy một điểm ngoặt trong lịch sử; điểm ngoặt này, cuối cùng, sẽ dẫn tới việc truyền giáo cho Dân Ngoại. 

Nhưng liệu tin mừng gia có ý biến bản văn này thành lời kết án vĩnh viễn chính dân tộc Do Thái của mình không? Chắc chắn không! Thánh Mátthêu chắc chắn qui lỗi cho người đương thời của Chúa Giêsu vì đã không mở lòng mình ra đón nhận Tin Mừng, mà còn giải thích việc phá hủy Đền Thờ và Giêrusalem trong cuộc nổi loạn Do Thái năm 66-70 CN như là dấu chỉ Thiên Chúa trừng phạt thế hệ ấy (nghĩa là “chúng tôi và con cháu chúng tôi”). Nhưng không hề có chứng cớ nào cho thấy ngài có ý biến bản văn này thành lời biện hộ cho chủ nghĩa phản Do Thái hay tin rằng dân riêng Do Thái của Chúa phải bị loại ra khỏi vòng cảm thương, tha thứ và công bằng mà các môn đệ của Chúa Giêsu từng tỏ cho mọi con người nhân bản. 

Vua Giêsu nay bị kết án bởi chính dân của Người và bởi nhà cầm quyền Rôma. Binh lính nhạo cười sự bất lực trông thấy của Người, bằng cách sử dụng các biểu tượng của quyền lực đế quốc: mão vua, vương trượng, và nghi thức chúc tụng, để nhạo cười Chúa Giêsu. Nhưng độc giả biết rõ một sự thật khác: Chúa Giêsu được trao quyền lực của Thiên Chúa, không phải quyền lực áp chế của sức mạnh hay ách thống trị dã man, mà là sức mạnh giải thoát của yêu thương và công lý. 

6. Bình minh một thời đại mới: Mat 27:32-66

Đang đi ra, thì chúng gặp một người Kyrênê, tên là Simon; chúng bắt ông vác thập giá của Người. Khi đến nơi gọi là Gôngôtha, nghĩa là Đồi Sọ, chúng cho người uống rượu pha mật đắng, nhưng Người chỉ nếm một chút mà không chịu uống. Đóng đinh Người vào thập giá xong, chúng đem áo Người ra bắt thăm mà chia nhau. Rồi chúng ngồi đó mà canh giữ Người.

Phía trên đầu Người, chúng đặt bản án xử tội Người viết rằng: "Người này là Giêsu, vua người Dothái". Bấy giờ, có hai tên cướp cùng bị đóng đinh với Người, một tên bên phải, một tên bên trái.

Kẻ qua người lại đều nhục mạ Người, vừa lắc đầu vừa nói: "Mi là kẻ phá được Đền Thờ, và nội trong ba ngày xây lại được, hãy cứu lấy mình đi! Nếu mi là Con Thiên Chúa, thì xuống khỏi thập giá xem nào!" Các thượng tế, kinh sư và kỳ mục cũng chế giễu Người mà nói: "Hắn cứu được thiên hạ, mà chẳng cứu nổi mình. Hắn là vua Ítraen! bây giờ hắn cứ xuống khỏi thập giá đi, thì chúng ta tin hắn liền! Hắn cậy vào Thiên Chúa, thì bây giờ Người cứu hắn đi, nếu quả thật Người thương hắn! Vì hắn đã nói: "Ta là Con Thiên Chúa!" Cả những tên cướp cùng bị đóng đinh với Người cũng sỉ vả Người như thế.

Từ giờ thứ sáu, bóng tối bao phủ cả mặt đất, mãi đến giờ thứ chín. Vào giờ thứ chín, Đức Giêsu kêu lớn tiếng: "Êli, Êli, lêmasabácthani", nghĩa là "Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?" Nghe vậy, một vài người đứng đó liền nói: "Hắn ta gọi ông Êlia!" Lập tức, một người trong bọn chạy đi lấy miếng bọt biển, thấm đầy giấm, buộc vào đầu cây sậy và đưa lên cho Người uống. Còn những người khác lại bảo: "Khoan đã, để xem ông Êlia có đến cứu hắn không!" Đức Giêsu lại kêu một tiếng lớn, rồi trút linh hồn.

Và kìa, bức màn trướng trong Đền Thờ bị xé ra làm hai từ trên xuống dưới. Đất rung đá vỡ. Mồ mả bật tung, và xác của nhiều vị thánh đã an nghỉ được chỗi dậy. Sau khi Chúa chỗi dậy, các ngài ra khỏi mồ, vào thành thánh, và hiện ra với nhiều người. Thấy động đất và các sự việc xảy ra, viên đại đội trưởng và những người cùng ông canh giữ Đức Giêsu đều rất đỗi sợ hãi và nói: "Quả thật ông này là Con Thiên Chúa".

Ở đó, cũng có nhiều người phụ nữ nhìn xem từ đàng xa. Các bà này đã theo Đức Giêsu từ Galilê để giúp đỡ Người. Trong số đó, có bà Maria Mácđala, bà Maria mẹ các ông Giacôbê và Giôxép, và bà mẹ các con ông Dêbêđê.

Chiều đến, có một người giàu sang tới. Ông này là người thành Arimathê, tên là Giôxép, và cũng là môn đệ Đức Giêsu. Ông đến gặp ông Philatô để xin thi hài Đức Giêsu. Bấy giờ tổng trấn Philatô ra lệnh trao trả thi hài cho ông. Khi đã nhận thi hài, ông Giôxép lấy tấm vải gai sạch mà liệm, và đặt vào ngôi mộ mới, đã đục sẵn trong núi đá, dành cho ông. Ông lăn tảng đá to lấp cửa mồ, rồi ra về. Còn bà Maria Mácđala và một bà Maria khác ở lại đó, ngồi đối diện vào mồ.

Hôm sau, tức là khi ngày áp lễ đã qua, các thượng tế và những người Pharisêu kéo nhau đến ông Philatô, và nói: "Thưa ngài, chúng tôi nhớ tên bịp bợm ấy khi còn sống có nói: "Sau ba ngày, Ta sẽ chỗi dậy". Vậy xin quan lớn truyền canh mộ kỹ càng cho đến ngày thứ ba, kẻo môn đệ hắm đến lấy trộm hắn đi, rồi phao với dân là hắn đã từ cõi chết chỗi dậy. Và như thế, chuyện bịp bợm cuối cùng này sẽ còn tệ hại hơn chuyện trước". Ông Philatô bảo họ: "Thì có sẵn lính đó, các người hãy đi mà canh giữ theo cách các ngươi biết!" Thế là họ ra đi canh giữ mồ, niêm phong tảng đá và cắt lính canh mồ.


Tuyệt đỉnh trình thuật khổ nạn của Thánh Mátthêu đầy tính bi kịch. Thập giá của Người được Simong, người Kirênê, mang đỡ, Chúa Giêsu bị điệu lên Gôngôhta để bị đóng đinh. Các lý hình đóng một tấm biển lên thập giá: “Đây là Giêsu: Vua người Do Thái”. Họ rõ ràng có ý định dùng các lời lẽ này để chế nhạo vị tự nhận là kitô đang đại bại lúc lâm chung. Cũng thế, hàng loạt người qua lại nhạo cười Chúa Giêsu về việc Người cho rằng Người có thẩm quyền đối với đền thờ và nhạo báng Người bằng cách nhắc Người nhớ lại rằng Người có thể cứu người khác nhưng lại không thể tự cứu được mình. Ngay hai người nổi loạn cùng bị đóng đinh với Người cũng tham dự cuộc đùa bỡn của đám đông. 

Mô tả giây phút khủng khiếp này, một lần nữa, Thánh Mátthêu trở về với Thánh Kinh Do Thái để lấy linh hứng. Giống như trong Tin Mừng Máccô, lời cầu nguyện cuối cùng của Chúa Giêsu sẽ được lấy từ Thánh Vịnh 22, lời cầu ai ca vĩ đại. Trong bản văn mạnh mẽ này, người Do Thái trung thành cầu nguyện giữa đau khổ và cô đơn tột cùng. Người bị bao quanh bởi những kẻ nhạo báng lòng tín thác nơi Thiên Chúa của Người. Cảm thấy bị chính Thiên Chúa bỏ rơi, thánh vịnh gia thốt lên lời cầu nguyện của một đức tin nguyên tuyền: “Lạy Thiên Chúa, Thiên Chúa của con, sao Chúa bỏ rơi con?” Đây là lời cầu nguyện trung thực, không hoa lá được Thánh Mátthêu đặt vào môi miệng Chúa Giêsu khi bầu trời tối xầm, người con trung thành của Thiên Chúa gặp sự chết. 

Nhưng thánh vịnh ai ca bất ngờ biến thành ca khúc chiến thắng và ngợi khen thế nào (xem TV 22:23-32), thì cảnh đóng đinh cũng đã biến thành một bừng nở điệp khúc vang dội chiến thắng như thế. Như thể Thiên Chúa đáp lại lời cầu sinh thì vẫn còn phảng phất đâu đây của Chúa Giêsu: màn trong đền thờ bị xé ra làm hai, mặt đất rung chuyển, đá nứt đôi và mồ mả mở nắp. Trong một cuộc diễn hành chiến thắng, các thánh, từng bị giam hãm trong cõi chết, bước vào thành thánh Giêrusalem. Binh lính Rôma, từng canh giữ mộ Chúa Giêsu, sửng sốt và lên tiếng tung hô Chúa Giêsu là Con đích thực của Thjiên Chúa. 

Tin Mừng Mátthêu, bằng một cảnh chiến thắng, đã dự ứng trước vinh quang của phục sinh. Gợi lại thị kiến xương khô vĩ đại của Êdêkien (xin xem Ed 37:1-14), tin mừng gia công bố rằng Thiên Chúa đã đáp ứng cái chết vì vâng lời của Chúa Giêsu bằng cách cho Người cũng như mọi thánh nhân của Israel trỗi dậy khỏi cõi chết mà bước vào sự sống mới. Và theo một nghĩa chân thực nhất, cái chết của Chúa Giêsu đánh dấu ngày kết liễu của một thế giới vô hy vọng và ngày khởi đầu của một thời đại mới của Thần Khí Thiên Chúa. 

Câu truyện vẫn còn tiếp diễn với việc Giuse cung kính chôn xác Chúa, các mưu toan vô ích của các địch thủ Chúa Giêsu muốn kiềm chế Người ngay cả khi đã chết, và cuộc thăm viếng của các phụ nữ trung thành đến để xức dầu thơm cho thân xác Người. Nhưng trong Tin Mừng Mátthêu, những hành vi này gần như không cần thiết vì phục sinh đã bừng nở ngay trên Gôngôtha, xem ra “phỗng tay trên” vào ngay giờ sinh thì. Niềm tín thác của Chúa Giêsu ngay lúc bị đối diện với nhạo cười và bỏ rơi đã được đáp ứng ngay tức khắc bằng sự sống dư đầy và cái ôm hôn bất tử của Thiên Chúa.

Theo Vietcatholic.net

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Phan Tấn Thành Dẫn nhập Trong các tín biểu, lời tuyên xưng về Giáo hội (Ecclesia) thường được kèm theo vài tính từ, với con số thay đổi. Tín biểu Epistula Apostolorum (khoảng năm 170) chỉ gồm năm mệnh đề, và mệnh đề thứ bốn là: “et in sanctam Ecclesiam” (Denz-Sch 1). “Thánh thiện” là đặc điểm cổ nhất, nói lên sự thuộc về Thiên Chúa. Trong “Tín biểu các thánh tông đồ”, ngoài “sancta” khi thêm “catholica” (sanctam Ecclesiam catholicam); bên Đông phương, tín biểu của Cyrillô Giêrusalem (khoảng năm 348) viết «una santa Chiesa catholica» (Denz-Sch 41) và của Epiphaniô năm 374 “una sola sancta Ecclesia catholica et apostolica” (Denz-Sch 42), đưa đến công thức của công đồng Constantinopolis năm 381 « unam sanctam catholicam et apostolicam Ecclesiam». Trong lịch sử thần học, đã có những quan niệm khác nhau về bản chất của bốn đặc tính này cũng như công dụng của chúng.
Nhiều sách về Đức Mẹ đã được các học giả Tin lành viết, nhiều cuốn cổ vũ người Tin lành nhìn sát hơn vào Đức Mẹ. Nhiều câu chuyện về các Phật tử và những người ngoài Công giáo đã đến viếng Đền Đức Mẹ Lộ Đức. Mặt khác, các tín đồ Hồi giáo cũng rất tôn trọng Đức Mẹ. Thật vậy, Đức Mẹ được nói đến nhiều lần trong kinh Koran, sách thánh của Hồi giáo, nhiều hơn cả trong Kinh thánh!/17 Tháng Bảy 2014 (Xem: 4787) /
NHỮNG SAI PHẠM CỦA SỨ ĐIỆP TỪ TRỜI 5. Các vấn đề liên hệ đến Hội Thánh. ▶5.1. Chối bỏ Huấn quyền của Hội Thánh. *SỨ ĐIỆP 06-04-2011. "...không một ai trong các con xứng đáng để phán xét hoặc tra xét về người khác. Không ai có quyền hạn hoặc hiểu biết thiêng liêng để đưa ra bất cứ sự đánh giá nào về đạo đức nơi người khác" NHẬN ĐỊNH. Nói như thế bà Maria Divine Mercy rõ ràng đã phủ nhận Huấn quyền của Hội Thánh. ▶5.2. Phủ nhận vai trò của Chúa Thánh Thần trong Hội Thánh. *SỨ ĐIỆP 12-04-2012. "Cơ mật viện Hồng Y bầu Giáo hoàng mới là những người theo bè Tam điểm, là tổ chức độc ác của Satan." NHẬN ĐỊNH. Rõ ràng bà Maria Divine Mercy không tin rằng Thánh Thần của Đức Kitô vẫn đang hiện diện và hoạt động trong Hội Thánh, không ngừng hướng dẫn Hội Thánh đạt đến chân lý toàn vẹn của Đức Kitô.
Nguồn gốc của mọi thiên chức linh mục Chủ đề linh mục là đề tài rất được quan tâm và mang tính thời sự trong thế kỷ qua. Công Đồng Vaticanô II đã dành trọn một tài liệu cho chủ đề này với sắc lệnh Presbyterorum Ordinis; năm 1992, thánh Gioan Phaolô II đã gửi tới toàn thể Hội Thánh tông huấn hậu thượng hội đồng Pastores Dabo Vobis, về việc huấn luyện các linh mục trong bối cảnh hiện nay; tiếp đến, khi công bố năm thánh linh mục 2009-2010, Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI đã phác thảo cách vắn gọn nhưng rất sâu sắc dung mạo linh mục dưới ánh sáng cuộc đời của Cha Sở xứ Ars. Cùng với đó là vô số những suy tư của nhiều tác giả trên thế giới được thực hiện và nhiều cuốn sách viết về chân dung và sứ vụ của linh mục qua dòng thời gian, trong đó rất nhiều tác phẩm có giá trị.
Trải qua lịch sử, Chúa nhật sau lễ Phục sinh đã được gọi bằng nhiều danh xưng khác nhau: Chúa nhật tám ngày sau lễ Phục sinh, Chúa nhật “Áo trắng” (in Albis), bởi vì các tân tòng cởi chiếc áo trắng mà họ đã lãnh nhận khi lãnh các bí tích khai tâm vào đêm Vọng Phục sinh, đánh dấu việc kết thúc giai đoạn huấn giáo khai tâm. Tại vài Giáo hội bên Ấn độ (tục truyền do thánh Tôma tông đồ thành lập), Chúa nhật sau lễ Phục sinh được gọi là chúa nhật thánh Tôma, bởi vì bài Phúc âm thuật lại cuộc gặp gỡ của Người với Chúa Kitô. Gần đây, Đức Gioan Phaolô II muốn thêm một danh xưng nữa, đó là “Chúa nhật kính Lòng Chúa Thương Xót”. Trong Năm Thánh 2000, Đức Gioan Phaolô II đã ấn định rằng trong toàn thể Hội thánh, Chúa nhật sau lễ Phục sinh, ngoài danh hiệu Chúa Nhật Áo trắng, sẽ còn được đặt tên là Chúa nhật kính Lòng Chúa Thương Xót.
Hôm thứ Sáu 12 tháng Hai, 2021, Mùng Một Tết Tân Sửu, Phòng Báo Chí Tòa Thánh đã công bố Sứ điệp Mùa Chay Thánh 2021 của Đức Thánh Cha Phanxicô. Nguyên bản tiếng Ý và các ngôn ngữ khác có thể xem tại đây. Dưới đây là bản dịch toàn văn sang Việt Ngữ. Sứ điệp Mùa Chay 2021 của Đức Thánh Cha Phanxicô “Nào chúng ta lên Giêrusalem” (Mt 20:18) Mùa Chay: Thời gian canh tân Niềm tin, Hy vọng và Tình yêu Anh chị em thân mến, Chúa Giêsu đã mặc khải cho các môn đệ ý nghĩa sâu sắc nhất trong sứ vụ của Người khi loan báo cho họ cuộc khổ nạn, cái chết và sự phục sinh của Người để hoàn thành Thánh ý Chúa Cha. Sau đó, Ngài mời gọi họ chia sẻ sứ mạng này để cứu độ thế giới.
WHĐ (15.2.2021) – Nhân kỷ niệm 60 năm thành lập hàng Giáo phẩm Việt Nam (1961 – 2021), chúng tôi xin được đăng bản dịch chính thức của Hội đồng Giám mục Việt Nam về Tông thư thành lập hàng Giáo phẩm Việt Nam – “Jam In Pontificatus” của Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII gửi hàng Giáo phẩm Việt Nam ngày 14.1.1961. * * *
Thứ Tư Lễ Tro năm nay sẽ rơi vào ngày 17 tháng Hai. Hôm thứ Ba, Vatican đã đưa ra hướng dẫn về cách các linh mục có thể xức tro vào Thứ Tư Lễ Tro trong bối cảnh đại dịch coronavirus. Bộ Phụng Tự và Kỷ Luật Bí Tích đã công bố một chỉ dẫn vào ngày 12 tháng Giêng, hướng dẫn các linh mục đọc công thức xức tro một lần cho tất cả mọi người có mặt, thay vì cho từng người. Nguyên bản tiếng Anh có thể xem tại đây. Dưới đây là bản dịch toàn văn sang Việt Ngữ. Bộ Phụng Tự và Kỷ Luật Bí Tích Công văn số 17/21 Chỉ dẫn cho ngày Thứ Tư Lễ Tro Việc xức tro trong thời gian xảy ra đại dịch Vị Linh mục đọc lời nguyện làm phép tro. Ngài rảy nước thánh lên tro, không nói gì cả. Sau đó, ngài nói với tất cả những người hiện diện chỉ một lần duy nhất công thức như được ghi trong Sách Lễ Rôma, áp dụng công thức ấy cho tất cả mọi người nói chung:
Ngày 1 tháng 10 năm 2010, Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hòa bình đã ra thông báo về án phong chân phước cho ĐHY Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận. Thông báo viết: “Ngày 22 tháng 10 tới, tức 3 năm sau khi loan báo việc mở Án phong chân phước, sẽ có phiên họp trọng thể mở cuộc điều tra ở cấp giáo phận về đời sống, các nhân đức và đời sống thánh thiện của Đấng Đáng Kính, ĐHY Việt Nam Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, người đã là Phó Chủ Tịch Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hòa bình từ năm 1994 và là Chủ tịch Ủy Ban này từ ngày 24 tháng 6 năm 1998 đến ngày 16 tháng 9 năm 2002”. Theo thông báo của Tòa Tổng Giám mục Tổng Giáo phận Tp. Hồ Chí Minh về việc điều tra án phong chân phước và phong thánh cho Đức Cố Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, do Đức Hồng Y GB Phạm Minh Mẫn ký ngày 1 tháng 1 năm 2012, chúng ta cùng tìm hiểu đôi nét về cuộc đời của Đấng Đáng Kính, Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận.
Phong trào mệnh danh là “Sứ điệp từ trời” đã xuất hiện từ tháng 11 năm 2010 tại Châu Âu, và cho đến nay đã được quảng bá hầu như rộng khắp trên toàn thế giới. Chắc hẳn nhiều người trong chúng ta đã nghe nói hoặc đã từng đọc qua các “Sứ điệp từ trời”. Điều đó ít nhất cũng cho thấy tầm ảnh hưởng và tính chất thu hút của phong trào mới này./20 Tháng Năm 2015(Xem: 1618) Lm Giuse Lâm Văn Sỹ OP./
Bảo Trợ