Phan Châu Trinh Cũng Giống Lý Quang Diệu?

28 Tháng Ba 20158:39 SA(Xem: 1431)

“Người Việt Nam có Hồ Chí Minh thì người Singapore có Lý Quang Diệu”. Cả Hồ Chí Minh và Lý Quang Diệu đều là người khai sinh ra dân tộc, đều là những là lãnh tụ vĩ đại. Một người đưa dân tộc nhỏ bé thắng người khổng lồ Mỹ, một người đưa đảo quốc tý hon không tài nguyên thành cường quốc kinh tế.

Nếu phải so sánh, trước đây có lẽ không ít người sẽ chọn Việt Nam và Hồ Chí Minh là hình ảnh vĩ đại hơn, vì phát triển kinh tế thì nhiều nước có thể làm được, còn thắng Mỹ "duy nhất có Việt Nam".

Nhưng mọi việc gần đây đã có sự thay đổi, người ta thấy rằng Việt Nam tuy lập được chiến công hiển hách như thế nhưng sau 40 vẫn không phát triển hơn được bao nhiêu và không biết đến bao giờ mới bằng được Singapore, đất nước mà trước đây chính lãnh tụ của nó mong một ngày được như Sài Gòn của Việt Nam.

Hóa ra phát triển kinh tế không dễ như thế. Đánh giặc cũng khó, nhưng làm kinh tế cũng khó không kém. Mỗi lĩnh vực có một đặc thù riêng mà nếu không hiểu thì không thể thành công.

Mỗi thời đại cần một anh hùng

Việt Nam thành công trong chiến tranh là nhờ có Hồ Chí Minh. Có thể nói rằng Hồ Chí Minh là tiêu biểu cho kiểu anh hùng thời chiến, người có thể kêu gọi toàn thể dân tộc hy sinh tất cả cho sự nghiệp kháng chiến.

Cách mạng của Đảng Cộng sản lấy tầng lớp nhân dân lao động là Công nhân và Nông dân làm nòng cốt, vì những người này nghèo khổ nhất, có ý chí căm thù giặc sâu sắc nhất, có thể chịu gian nan khổ cực, bất chấp tính mạng để chiến đấu.

Đảng Cộng sản đã phát huy một cách cao độ khả năng của những tầng lớp không được học cao hiểu rộng này, vì trong chiến đấu, ý chí mới là thứ quan trọng nhất. Cho dù có khỏe mạnh được trang bị vũ khí đến mấy cũng khó có thể địch lại mười người lao vào đòi chết. Không sợ hy sinh gian khổ mới là yếu tố quyết định thắng lợi trong chiến tranh.

Nhưng trong thời bình thì khác hẳn, làm kinh tế không phải cứ liều chết mà thành. Chủ nghĩa Cộng sản đã chiến thắng Chủ nghĩa Tư bản trong chiến tranh ở thế kỷ 20 và trên khí thế đó, ai cũng nghĩ rằng Kinh tế bao cấp của các nước Xã hội Chủ nghĩa sẽ tiếp tục làm được điều tương tự trước Kinh tế thị trường của các nước Tư bản. Kết quả đã rõ. Tất cả đều phải quay lại Kinh tế thị trường như một sự thừa nhận: muốn giàu có thì đó là con đường tất yếu.

Đến lạ là sau khi làm được những điều thần kỳ như thế trong chiến tranh, các nước Xã hội Chủ nghĩa lại chịu thua trong một trận chiến tưởng chừng êm đềm và dễ dàng hơn nhiều. Sự hô hào không còn tác dụng trong thời bình, nó chỉ giúp Công nhân và Nông dân có thêm ý chí chứ không giúp họ có thêm hiểu biết mà làm kinh tế thì cần phải có kiến thức và khoa học.

Nhìn sang những “thần tượng” của Việt Nam hiện tại như Nhật Bản và Singapore thì thấy rằng cuộc cách mạng của họ “bình dị” hơn nhiều, nhưng cách thức thì như nhau. Cách mạng Giải phóng dân tộc là đề cao vị trí của người Nông dân, Công nhân, giúp họ tự tin rằng “châu chấu có thể đá voi lòi ruột”; còn cách mạng về kinh tế thì gần như ngược lại: phải tìm ra những điểm yếu, những cái dốt nát kém cỏi của dân tộc mình để mà sửa chữa.

Như vậy, anh hùng thời chiến và anh hùng thời bình về căn bản có sự khác nhau. Làm người ta tự tin lên đã khó, nhưng làm người ta chịu thừa nhận rằng mình kém cỏi có lẽ còn khó hơn.

Bài học Nhật Bản

Đối với những dân tộc nhỏ bé, không có con đường nào khác ngoài học tập.

Sự học của người Nhật có được nhắc tới trong tác phẩm Tôtem Sói của Khương Nhung: “Nhật Bản học Trung Quốc hơn ngàn năm Nho học mà không thấy có tiếng vang gì trên thế giới, vậy mà học phương Tây mới hơn ba mươi năm mà đã cất cánh bay cao”.

Nhật Bản bắt đầu học theo phương Tây từ thời Tokugawa, họ đã làm nên một cuộc dịch thuật vĩ đại trong hai thế kỷ để tiếp thu mọi trí thức từ nền văn minh xa lạ này. Bác sỹ Sugita Genpaku - người đã khởi đầu cho phong trào Lan học (Học tập Hà Lan) cuối thế kỷ 18 đã nói: “Chúng ta cảm thấy xấu hổ làm sao khi khám phá ra sự ngu dốt của mình”.

Ngược lại, ở Trung Quốc cũng có một cuộc dịch thuật nhưng do các nhà truyền giáo thực hiện nên không trung thực và càng không có kết quả do sự tự mãn của văn hóa Trung Hoa.

Đáng nói là hai trăm năm dịch thuật ở thời Tokugawa chính là thời gian mà ở châu Âu bùng nổ cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật công nghiệp tạo ra sự khác biệt to lớn giữa các nền văn minh dẫn tới những thay đổi chưa từng có trong lịch sử nhân loại.

Nhờ vậy, Nhật Bản đã không bị bỏ xa và họ nhanh chóng trở thành cường quốc đi xâm chiếm lại chính ông thầy Trung Quốc của mình ngày xưa.

Có thể nói, nguồn gốc của sự khác biệt giữa Trung Quốc và Nhật Bản trước đây chính là cách tự nhìn nhận chính dân tộc mình: Một tự hào về bản thân và một tự nhận mình là kém cỏi.

Ngay cả trong thời kỳ phát triển vũ bão sau Chiến tranh thế giới thứ II, Nhật Bản cũng phải học từng ly từng tý phương Tây, thậm chí có lúc bị chỉ trích là sao chép, ăn cắp bản quyền như trong cuốn “Những bài học từ sự thành công của nền Kinh tế Nhật Bản” của Martin Wolf. Đó đơn giản là những thứ mà người Nhật biết rằng nếu họ không học thì không thể tự làm ra được.

Bài học Singapore

Biết rằng tự thân cái làng chài nhỏ bé thì khó có thể làm nên trò trống gì, mọi thứ đều phải có căn bản, nên giữa lúc các nước đang phát triển dè bỉu các đế quốc kinh tế thì Lý Quang Diệu lại trải thảm đỏ mời các “tên đế quốc” đó vào Singapore. Nếu ở thời điểm đó hành động này có thể xem như một bước lùi. Đến nay chúng ta đã biết “bước lùi” đó đem lại bước tiến như thế nào.

Lý Quang Diệu cũng cho phép mở sòng bạc tại Singapore vì “Thế giới đã thay đổi, nếu không có những khu nghỉ dưỡng kết hợp kiểu như ở Las Vegas, chúng tôi sẽ thua” và “Tôi nghĩ chúng tôi phải đi theo bất kỳ hướng nào theo tiếng gọi của tình hình thế giới nếu chúng tôi muốn tồn tại và là một phần của thế giới hiện đại này. Nếu chúng tôi không kết nối với thế giới hiện đại, chúng tôi chết. Chúng tôi sẽ quay trở lại cái làng chài trước đây.”

Toàn là những quyết định mà nếu nhìn ở một khía cạnh khác thì đều là “chịu thua trước thế giới tư bản” cả, nhưng bây giờ Singapore đã thắng nhiều nước tư bản khác.

Một điểm chung nữa của Singapore và Nhật Bản là đặt giáo dục lên hàng đầu.

Nhật Bản bắt đầu bùng nổ giáo dục ngay từ thời Tokugawa. Nhà nước không sợ sự phát triển giáo dục trong nhân dân, phát triển đất nước cần những người có học. Như học giả Khổng giáo Dazai Jun (1686-1747) viết: “Việc đầu tiên cần thiết cho sự trị vì một nhà nước là năng lực con người. Mà năng lực con người thì đến từ sự học”.

Còn Lý Quang Diệu cũng đã nói với nguyên Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết: “Nếu thắng trong cuộc đua giáo dục, sẽ thắng trong phát triển kinh tế”.

Singapore treo cờ rủ để quốc tang ông Lý Quang Diệu

Nhớ đến Phan Châu Trinh

Sự khác biệt của Phan Châu Trinh với những nhà yêu nước ở Việt Nam cùng thời là không mị dân, không nhắm mắt ca ngợi dân tộc mình một cách mù quáng, không nâng cao đồng bào bằng những tự hào hão và đặc biệt, không chửi bới tất cả những thứ thuộc về ngoại bang. Ông dám lớn tiếng nói: Dân tộc ta thua vì dân tộc ta đã quá kém cỏi, mà là kém ở tận gốc, ở văn hóa.

Ông xác định nguyên nhân sâu xa dẫn đến mất nước là sự thua kém của xã hội ta so với phương Tây và con đường giải thoát là phải rút ngắn khoảng cách, đưa dân tộc mình ngang tầm thời đại với đối thủ.

Chính vì vậy, ông chủ trương đấu tranh bất bạo động: “Nước Pháp là một nước làm tiền đạo văn minh cả hoàn cầu, nay hiện bảo hộ nước ta, mình nhân đó mà học theo, chuyên dụng tâm về mặt khai trí trị sinh các việc thực dụng. Dân trí đã mở, trình độ một ngày một cao tức là cái nền độc lập ngày sau ở đấy”.


Phan Châu Trinh cho rằng Việt Nam phải phát triển kinh tế và giáo dục để tự lực tự cường, hội nhập vào thế giới văn minh rồi mưu cầu độc lập chứ không cầu viện ngoại bang dùng bạo lực giành độc lập.

Chỉ như vậy mới bảo đảm Việt Nam sẽ có một nền độc lập chân chính, lâu bền về chính trị lẫn kinh tế trong quan hệ với ngoại bang cũng như nhân dân sẽ được hưởng độc lập và tự do cá nhân trong quan hệ với nhà nước.

Chính vì thế ông đã đi khắp tỉnh Quảng Nam và các tinh lân cận để vận động cuộc Duy tân nhằm phổ biến các giá trị của nền văn minh phương Tây, cải cách giáo dục, mở mang công thương nghiệp, chấn hưng công nghệ, bỏ mê tín dị đoan, kêu gọi cắt tóc ngắn, cắt ngắn móng tay…

Như chúng ta đã biết thì Phan Châu Trinh đã thất bại do nhiều nguyên nhân. Đặc biệt so với phương pháp đấu tranh của Đảng Cộng sản thì không hiệu quả bằng, ít nhất là trong thời điểm ấy, trong hoàn cảnh lịch sử và trong điều kiện của nước Việt Nam hồi ấy. Nhưng sẽ không ít người phải giật mình nếu tình cờ đọc “Tỉnh hồn quốc ca” của ông vì sự đúng đắn và thời sự của nó cho đến tận ngày hôm nay.

Phan Châu Trinh có lẽ đã sinh ra nhầm thời rồi, ông là kiểu anh hùng trong thời bình chứ không phải trong thời chiến. Ông đặt vấn đề Phát triển dân tộc để Giải phóng dân tộc, nhưng hoàn cảnh lúc đó không giúp ông thực hiện thành công nhiệm vụ này. Cuộc cách mạng của ông rất giống với cuộc cách mạng của người Nhật và người Singapore, nhưng Nhật Bản và Singapore lúc đó không có chiến tranh như Việt Nam.

Dù thế, chúng ta không được phép quên Phan Châu Trinh, người mà theo nhà sử học Daniel Héméry là: “Khuôn mặt đáng chú ý nhất trong lịch sử văn hóa và chính trị Việt Nam ở thế kỷ 20, bởi chính ông đã xác định một cách rành mạch, sáng rõ nhất những vấn đề nan giải đặt ra lâu dài mà các thế hệ người Việt Nam sẽ phải và mãi mãi còn phải đảm nhận”.

Ngày này 89 năm trước, ngày 24/3/1926 đã diễn ra một sự kiện lớn chưa từng có trong lịch sự người An Nam lúc bấy giờ, đó là đám tang của Phan Châu Trinh. Việt Nam bây giờ đã quên mất sự kiện này, không một cơ quan báo đài hay phương tiện truyền thông đại chúng nào kỷ niệm ngày ra đi của ông cả. Đó có lẽ là một thiếu sót lớn nếu thật sự là một dân tộc biết coi trọng lịch sử, biết nhìn thẳng vào sự thật để tiến lên phía trước.

Bài viết thể hiện văn phong và quan điểm của tác giả.
Theo BBC

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Tuần lễ cuối tháng ba đầu tháng tư vừa rồi, Tập Cận Bình, Chủ tịch Trung Quốc đến thăm ba nước Pháp, Đức, Bỉ. Paris là điểm dừng chân đầu tiên. Ông giành ưu tiên này cho Pháp quốc bởi cách đây tròn 50 năm, tháng Giêng năm 1964, tổng thống Pháp, tướng Charles De Gaule là nguyên thủ phương Tây đầu tiên ban ân huệ cho Mao, công nhận nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Để tỏ lòng hiếu khách, Pháp không những trải thảm đỏ tận chân cầu thang máy bay, mà còn trải lòng ra đón. Yến tiệc xa hoa chưa từng có tại lâu đài Versailles nguy nga. Buổi hòa nhạc Trung Hoa tại nhà hát Opera. Dạ tiệc, khiêu vũ lu bù trong cung điện Roi-Soleil tráng lệ. Champagne trào bọt trắng lòa với những hợp đồng chục tỷ Euro. Khác hẳn Pháp, người Đức đón Tập không ồn ào, xa xỉ, nhưng cũng vẫn giành được những hợp đồng không thua kém. Đặc biệt là bà Thủ tướng Angela Merkel đã ghi hai bàn thắng ngoạn mục, mà vẫn giữ đúng những nghi lễ ngoại giao.
Phần 4: Trung Quốc đại sụp đổ? Nền kinh tế Trung Quốc đang phải đối mặt với việc sụt giảm hiệu suất trong hơn 1 hoặc 2 quý.
Như một phần của “Giấc mộng Trung Hoa”, việc quốc tế hóa đồng Nhân dân tệ (CNY) và khiến nó phổ biến không chỉ giúp Trung Quốc tăng cường năng lực ổn định tiền tệ - tài chính mà còn là công cụ để Bắc Kinh thao túng, mặc cả lợi ích chính trị, thu thập thông tin trái phép khi thay tiền giấy bằng tiền kỹ thuật số. Nhưng “giấc mộng Trung Hoa” đã dần tan đi mất, và đồng CNY cũng như vậy… Tham vọng quốc tế hóa đồng CNY là một phần của “Giấc mộng Trung Hoa”
Đô đốc Hải quân huyền thoại của Nhật Bản Yamamoto, sau khi thắng trận Trân Châu Cảng đã thốt lên: "Tôi lo sợ rằng những gì chúng ta đã làm sẽ đánh thức một gã khổng lồ đang ngủ và trao cho anh ta một quyết tâm khủng khiếp". Cũng như vậy, Mỹ đã từng “ngủ quên” trước Trung Quốc và giờ buộc phải tỉnh dậy khỏi giấc “mộng Trung Hoa” - giấc mộng không dành cho người dân Trung Quốc thiện lương, không dành cho hòa bình và tương lai của con người thế gian này
Virus Corona Vũ Hán đã giáng một đòn nặng nề vào kinh tế của mọi quốc gia. Tuy nhiên, Trung Quốc - nhà “xuất khẩu” con virus quái ác này, lại đang tài tình sử dụng sự bùng phát khủng khiếp hiện nay để làm giàu cho chính mình, xuất khẩu khối lượng lớn vật tư y tế kém chất lượng sang phương Tây và đánh bóng tên tuổi bản thân như thể là “vị cứu tinh của nhân loại” dù bản thân chính là “tội đồ” thế kỷ… Giấu dịch, lan dịch và tuyên truyền về “dập dịch thành công” nhờ nội lực và công nghệ y học để kiếm tiền trong sự hỗn loạn…
Tác giả Pingping Yu đã có bài bình luận với tiêu đề “Đã đến lúc người Mỹ chống lại nạn trộm cắp công nghệ của Trung Quốc”, đăng tải trên Epochtimes ngày 15/4. Dưới đây là nội dung bài viết 30 năm trước, Hoa Kỳ bắt đầu mở cửa với Trung Quốc theo chính sách “can dự mang tính xây dựng”, với hy vọng giúp Trung Quốc tự do hóa và hướng nước này trở thành một quốc gia “ổn định, cởi mở và không hiếu chiến”, như cựu Tổng thống Bill Clinton đã hình dung. Vào thời điểm đó, công nghệ của Trung Quốc tụt hậu so với Hoa Kỳ. Không thể tưởng tượng được, một ngày nào đó, Trung Quốc sẽ trở thành một đối thủ cạnh tranh về công nghệ [với nước Mỹ]. Sau ba thập kỷ mở cửa thương mại, bây giờ Trung Quốc dường chỉ “cách gang tấc” là có thể thay thế nước Mỹ trở thành nhà cung cấp công nghệ hàng đầu thế giới. Chuyện này xảy ra như thế nào?
Thế là một tòa án ở Minneapolis đã đăng đường xét xử vụ viên cảnh sát Derek Chauvin, một người Mỹ da trắng, đã đè đầu gối lên cổ George Floyd, 46 tuổi, một người Mỹ da đen, trong chín phút rưỡi khi bắt giữ anh ta vì bị tình nghi xài tiền giả. Floyd chết, và chuyện đáng tiếc ấy đã xảy vào buổi tối hôm 25 tháng 5, 2020. Sau gần một năm, phiên xử đầu tiên đã diễn ra ngày 29 tháng 3 trong bầu không khí khá căng thẳng và nghi kỵ cả bên trong lẫn bên ngoài phòng xử. Trong gần một năm qua, cái chết của Floyd đã làm thay đổi nước Mỹ hoàn toàn. An ninh, trật tự tại những nơi công cộng không còn. Công lý nằm trong tay đám đông bạo động làm chủ trên đường phố, và nhiều tai to mặt lớn trong chính quyền đã hãnh diện được quỳ gối và vinh danh Công lý của BLM và Antifa, hai tổ chức đã công khai đứng ra nhận công lãnh đạo phong trào tranh đấu cho công lý và bình đẳng chủng tộc của dân Mỹ.
Ngay từ khi thành lập ngày 26/10/1955, Việt Nam Cộng Hòa chọn con đường phát triển xã hội lấy con người (người dân) làm trọng tâm và tự chủ quốc gia làm mục tiêu chiến lược, nên đến nay vẫn còn nhiều ảnh hưởng để chúng ta tìm hiểu và học hỏi. Tự cung tự chủ Trong thời thuộc địa người Pháp tập trung xây dựng kỹ nghệ ở miền Bắc Việt Nam, nên ngay khi thành lập Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đã hướng đến phát triển kỹ nghệ nhẹ và kỹ nghệ tiêu dùng phục vụ nhu cầu quốc nội. Để có thể tự chủ về kinh tế, chính phủ khuyến khích các nhà tư sản ngoại quốc, đa số là người Hoa có quốc tịch Trung Hoa Dân Quốc, trở thành công dân Việt Nam Cộng Hòa. Với chủ trương kinh tế tự do, Chính phủ chỉ giữ một số hoạt động công ích, như điện, nước, hỏa xa, hàng không, còn hầu hết mọi hoạt động kinh tế đều để tư nhân vận hành.
Tổng thống Joe Biden muốn thực hiện chính sách 'nước Mỹ trở lại' tăng cường sự lãnh đạo của Mỹ trên toàn thế giới nên tình trạng đối đầu Mỹ-Trung ngày càng khốc liệt. Như thế liệu Chính phủ Biden có thực hiện được ý muốn hay lại lâm vào “bế tắc” như các chính phủ tiền nhiệm trước đây? Chính phủ Obama Chiến lược xoay trục Thái Bình Dương mở đầu những thay đổi về chính sách đối ngoại, chuyển trọng tâm về khu vực Á Châu, bao vây kinh tế và kềm hãm tình trạng trỗi dậy của Bắc Kinh. Về quân sự Chính phủ Obama vẫn lún sâu vào chiến tranh Trung Đông, mà ngân sách quốc phòng thì không được Quốc Hội đồng ý tăng thêm. Nên giữa tháng 4/2012 Trung cộng xâm chiếm Bãi cạn Scarborough thuộc Phi Luật Tân, họ còn liên tục xây dựng các đảo với phi trường quân sự trong khu vực Hoàng Sa và Trường Sa mà hề gặp phản ứng quân sự nào từ phía Mỹ.
Tuần lễ qua trên thế giới diễn ra hai sự kiện quan trọng: Thứ nhất là vào ngày 12/3/2021 lần đầu tiên Tổng thống Joe Biden họp trực tuyến với thủ tướng ba nước Úc, Ấn và Nhật trong Bộ Tứ An Ninh (the Squad); Và sự kiện thứ hai là nước Anh công bố chuyển hướng Chiến lược ngoại giao, an ninh và quốc phòng từ đặt trọng tâm vào Châu Âu chuyển sang Châu Á Thái Bình Dương. Cả hai sự kiện cho thấy Mỹ, Anh và một số quốc gia khác đang hình thành chiến lược phát triển khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương tự do và mở rộng. Ý tưởng chiến lược Vào tháng 8/2007 tại Bombay, cựu Thủ tướng Nhật Abe Shinzo đưa ra ý tưởng xây dựng một châu Á trải dài từ Thái Bình Dương đến Ấn Độ Dương như một vùng biển của tự do và mở rộng cho tất cả mọi quốc gia trên thế giới.
Bảo Trợ