Vũ Trụ Có Khởi Đầu Không?

25 Tháng Ba 20156:00 CH(Xem: 1441)

Vũ Trụ Có Khởi Đầu Không? (phần 1)

universe_wallpaper_hd2Dẫn nhập

Trong Kinh Thánh, sách Sáng Thế bắt đầu với cụm từ “Lúc khởi đầu” (St 1,1). Vũ trụ này có “khởi đầu” không? Triết học trả lời thế nào cho câu hỏi này? Thời Trung Cổ, hai vị thánh, triết gia, thần học gia là Augustine và Thomas Aquinas đã trả lời vấn nạn này cách khá hấp dẫn. Hơn nữa, cách giải thích của các ngài có liên hệ thế nào với đức tin, triết học và khoa học?

1) Nỗ lực của triết lý và cánh cửa của đức tin

Trước hết, việc lược qua bối cảnh văn hoá là cần thiết. Dân tộc Do Thái nằm trong văn hoá Semite. Người Hy Lạp và người La Mã thuộc nền văn hoá Ấn-Âu. Nền văn minh châu Âu có gốc rễ từ cả hai nền văn hoá này.[i] Người Ấn-Âu có một quan niệm tuần hoàn về lịch sử: lịch sử phát triển theo đường tròn, không có khởi đầu, không có kết thúc.[ii] Người Semite có quan niệm tuyến tính về lịch sử: lịch sử như một đường thẳng, có khởi đầu, có kết thúc.[iii] Ki-tô giáo xuất phát từ văn hoá Semite, nhưng lại hình thành và phát triển trong văn hoá Hy Lạp. Vì thế, thánh Thomas Aquinas cố gắng làm cho triết học của Aristotle tương thích với đức tin Ki-tô giáo, tương tự như thánh Augustine đã làm với triết học Plato.

  • Quan niệm của thánh Augustine

Khi suy tư, phản tỉnh, suy niệm và chiêm ngắm thực tại, Plato đã nhìn thấy thực tại trong cõi thâm sâu của nó. Đến nỗi, ông dường như gọi thế giới mau qua này là “ảo”, còn cõi thực tại thâm sâu kia mới là “thực”, và đặt tên cho nó là “thế giới Ý Niệm”. Cái “ảo” và “thực” ấy, cái “qua đi trong thời gian” và “tồn tại trong vĩnh cửu” ấy cứ đong đầy qua lại.[iv] Hòa vào dòng chảy này, Augustine tin rằng, trước khi Chúa sáng tạo vũ trụ, các “ý niệm” nằm trong tâm thức của Chúa. Như vậy, ngài đã đặt các “ý niệm” của Plato vào trong Chúa và bằng cách đó, ngài đã bảo toàn quan niệm của Plato về các ý niệm vĩnh cửu.[v] Hơn nữa, Augustine cố gắng phân biệt quan niệm về vĩnh cửu và thời gian.

Vĩnh cửu không hề biến đổi, còn thời gian luôn biến đổi. Thời gian có sự vận chuyển kế tiếp; trong khi với vĩnh cửu, tất cả là hiện tại.[vi] Vì Chúa là vĩnh cửu, tạo nên thời gian, nên Ngài có trước thời gian, và tất cả với Ngài là hiện tại. Trước khi tạo thành trời đất, chưa có thời gian, vậy làm sao có thể hỏi: trước “lúc ấy”.[vii]

Mặt khác, học thuyết của ngài tương phản với học thuyết của Plato, vì theo Plato, thế giới không được “tạo thành” mà Đấng Tạo Hoá nặn các sự vật từ khoảng chứa có sẵn bằng cách kết hợp các hình thức.[viii] Augustine trình bày:

Chúa không như nhà nghệ sĩ lấy một vật làm nên một vật, theo khả năng của ông áp đặt một hình dạng nào đó. Vì nếu như nhà nghệ sĩ lấy một vật có sẵn để tạo nên vật khác, thì Chúa tạo nên ngay cả vật liệu “có sẵn” ấy, Ngài cũng tạo nên khả năng của nhà nghệ sĩ với thân xác và linh hồn của ông ta nữa. Như thế, Ngài không có sẵn vật gì trong tay để tạo nên vũ trụ, vì tất cả do Người tạo nên, không có vật thể nào trước khi có trời đất.[ix]

Hơn nữa, Augustine không theo thuyết Tân-Plato của Plotinus. Theo Plotinus, vũ trụ như là sự phát toả “tự nhiên tất yếu” từ Thiên Chúa. Vì đối với Augustine, vũ trụ là kết quả của hành vi tự do của Thiên Chúa.[x]

Trước khi tạo dựng trời đất, Chúa không làm gì.[xi] Chúa tạo dựng là do Ngài muốn. Ý muốn này không phải là tạo vật, mà có trước tạo vật, vì nó thuộc về bản thể Ngài.[xii]

Một cách cụ thể, Augustine giải thích niềm tin của ngài vào Kinh Thánh. Cách lý giải này vừa hài hòa với triết lý, vừa sáng tỏ trong niềm tin, nhưng có lẽ không theo lối hiểu của khoa học thực nghiệm hiện đại.

Trong tất cả những thứ hữu hình, vũ trụ là lớn nhất; trong tất cả những gì vô hình, Thiên Chúa là lớn nhất. Chúng ta thấy vũ trụ, còn Thiên Chúa thì chúng ta tin. Thiên Chúa tạo thành vũ trụ, chúng ta không thể tin ai chắc chắn cho bằng tin chính Thiên Chúa. Và không đâu chắc chắn cho bằng Kinh Thánh: “Lúc khởi đầu, Thiên Chúa tạo thành trời và đất” (St,1,1).[xiii] Trước khi có vũ trụ, không có thời gian. Trước khi tạo thành vũ trụ, Thiên Chúa không làm gì, vì nếu Ngài làm gì thì làm “lúc khởi đầu”. Như thế, vũ trụ được tạo thành không phải là trong thời gian, mà cùng với thời gian.[xiv]

  • Quan niệm của thánh Thomas Aquinas

Triết học Aristotle giả thiết sự tồn tại của một vị Chúa Trời, Ngài là nguyên nhân làm cho tất cả quá trình thiên nhiên hoạt động.[xv] Aristotle cho rằng, Thiên Chúa tạo dựng từ vĩnh cửu, và Thomas nhận định: trên bình diện triết học, không thể kết luận được vũ trụ đã tồn tại từ vĩnh cửu, hay được tạo dựng. Thật không dễ để cùng một lúc vừa nói về một khởi đầu, vừa nói về tính vĩnh cửu.[xvi]

Trong kinh nghiệm, thật khó để phủ nhận tính bất tất của con người, loài vật, cây cối. Tất cả hiện hữu này đều có sinh có tử. Thế nhưng con người lại mơ ước về sự bất tử. Mặt khác, nếu hỏi về tính bất tử của vật chất như đất đá, thì cũng thật là khó. Cho dù chúng thay đổi theo thời gian, nhưng chúng “không sống”. Nếu thế, có ý nghĩa gì khi bàn về tính vĩnh cửu của chúng. Xa hơn nữa, câu hỏi về tính vĩnh cửu được đặt cho vũ trụ này. Trước hết, thánh Thomas dùng phương pháp loại suycủa Boethius để cho thấy rằng:

Dù vũ trụ luôn hiện hữu thì cũng không thể vĩnh cửu như Thiên Chúa, vì vũ trụ không hiện hữu toàn thể một trật như Thiên Chúa, nhưng hiện hữu có sự kế tiếp.[xvii] Ngoài Thiên Chúa, không có gì hiện hữu từ vĩnh cửu. Việc hiện hữu của vũ trụ phụ thuộc vào ý muốn của Thiên Chúa, và Thiên Chúa không nhất thiết muốn rằng, vũ trụ phải hiện hữu từ vĩnh cửu; nên không chứng minh được, vũ trụ luôn hiện hữu hay không.[xviii]

Hơn nữa, Thomas cũng chỉ ra, dù Aristotle cố gắng lý giải: vũ trụ vẫn hằng hiện hữu, nhưng ông không thành công vì lý lẽ của ông không phải là lý lẽ dành cho việc chứng minh, và công việc này vượt quá khả năng của trí khôn.

Thứ nhất, trong cuốn Physic VIII, cũng như cuốn De Caelo I, Aristolte đưa ra những lý lẽ đầy mâu thuẫn. Thứ hai, khi chứng minh, ông nại đến chứng tá của cổ nhân, là những chứng tá chỉ có giá trị khuyến khích, không có giá trị chứng minh. Thứ ba, ông nói rõ trong quyển Topic I rằng, chúng ta không có giải pháp hữu lý cho vấn đề “vũ trụ vĩnh cửu hay không”.[xix]

Một cách cụ thể, Thomas Aquinas lựa chọn theo mặc khải Kinh Thánh. Ngài cũng đồng ý với thánh Augustine rằng: Thiên Chúa tạo dựng vũ trụ từ hư không, bằng hành vi tự do.[xx] Bởi vì Thiên Chúa là Nguyên Nhân đệ nhất của vũ trụ, nên các hữu thể hữu hạn phải xuất phát từ Ngài qua tạo dựng. Hơn nữa, tạo thành phải được tạo dựng từ hư không. Nếu các thụ tạo được tạo thành ngoài chất thể tiền hiện hữu, thì chất thể này hoặc phải là Thiên Chúa hoặc là một cái gì khác. Nhưng Thiên Chúa không thể là chất thể của tạo thành, cũng không thể có cái gì độc lập với Nguyên Nhân đệ nhất. Do đó, Ngài là nguyên thuỷ tuyệt đối. Không có nguồn hiện hữu độc lập nào ngoài Thiên Chúa.[xxi]

Chỉ nhờ đức tin mà ta công nhận rằng, vũ trụ không luôn hiện hữu, tức là có khởi đầu, chứ không thể chứng minh được. Tuy nhiên, ý muốn của Thiên Chúa có thể giãi bày cho con người bằng mặc khải, nên việc vũ trụ có khởi đầu là khả tín, chứ không phải là điều có thể chứng minh.[xxii] Một cách cụ thể: “Lúc khởi đầu, Thiên Chúa tạo thành trời và đất” (St 1,1) xét được trong ba ý nghĩa. Thứ nhất, vũ trụ không hiện hữu từ vĩnh cửu, mà có lúc khởi đầu. Thứ hai, việc tạo thành chỉ có một khởi đầu là chính Thiên Chúa, chứ không có hai khởi đầu: một của những điều thiện, một của những điều ác. Thứ ba, Thiên Chúa tạo thành trời đất, tức là tất cả, chứ không phải là Ngài dùng những vật thiêng liêng để tạo nên những vật hữu chất.[xxiii]

  • Đối chiếu hai quan niệm

Có thể nói, quan niệm của thánh Augustine và Thomas giống nhau về hai nét chính: một là, vũ trụ này có khởi đầu vì được Thiên Chúa tạo thành từ hư không; hai là, Thiên Chúa tạo thành do ý muốn tự do của Ngài. Điểm khác nhau là các triết gia mà các ngài đối thoại, và cách đưa ra giải pháp của các ngài. Đối với Augustine, ngài vừa đồng ý vừa tương phản với Plato, tương phản với Plotinus. Đối với Thomas Aquinas, ngài gần như thừa nhận Boethius, Aristotle, và dùng chính cách của họ để chỉ ra điểm khó khăn của chủ đề. Nhưng ngài không dừng lại vị trí của họ, mà ngài tiến vào niềm tin trong Kinh Thánh. Cách phân tích của Augustine nhấn mạnh hơn tới ý chí, tới những bước chuyển động trong tâm hồn, tới ngôn ngữ ẩn dụ. Trong khi đó, cách phân tích của Thomas nại nhiều hơn vào trí khôn, vào lập luận chặt chẽ, vào ngôn ngữ có tính khái niệm…

(còn tiếp)

Vincent Vũ Tứ Quyết, S.J.

Học Viên Triết I

Học Viện Thánh Giuse, Dòng Tên

[i] X. Jostein Gaarder, Thế giới của Sophie, Trần Minh Châu dịch, (Nxb Tri Thức, Hà Nội, 2006), tr. 188.

[ii] X. Jostein Gaarder, Thế giới của Sophie, tr.191.

[iii] X. Jostein Gaarder, Thế giới của Sophie, tr.193.

[iv] X. “Phúng dụ cái hang” và “Lý thuyết đường chia” của Plato, trong Nền Cộng Hòa (The Republic), quyển VII; x. Allan Bloom, The Republic of Plato, 2nd edition, (Basicbooks, 1991).

[v] X. Jostein Gaarder, Thế giới của Sophie, tr. 222.

[vi] X. Thánh Augustine, Tự Thuật (Les Confessions), Quyển 11, Đoạn XI, (Nxb Tôn Giáo, 2007), tr. 674.

[vii] X. Thánh Augustine, Tự Thuật (Les Confessions), Quyển 11, Đoạn XII.XXVII, tr. 676.709.

[viii] X. Samuel Enoch Stumpf, Lịch sử Triết học và các luận đề; Đỗ Văn Thuấn, Lưu Văn Hy diên dịch; Nguyễn Việt Long hiệu đính, (Nxb Lao Động, Hà Nội, 2004), tr. 120; x. Frederick Copleston, S.J., A History of Philosophy, Volume I, (Continuum, London – New York, 2006), p. 247; x. Plato, the Timaeus, (30a3-5; 47e- 48a2).

[ix] X. Thánh Augustine, Tự Thuật, Quyển 11, Đoạn IV-VI, tr. 664-667.

[x] X. Samuel Enoch Stumpf, Lịch sử Triết học và các luận đề, tr. 120; x. Frederick Copleston, S.J., A History of Philosophy, Volume I, p. 466-467; x. Plotinus, theEnneads, (351.352.516.743).

[xi] X. Thánh Augustine, Tự Thuật, Quyển 11, Đoạn XI-XII, tr. 672.675.

[xii] X. Thánh Augustine, Tự Thuật, Quyển 11, Đoạn X, tr.673.

[xiii] X. Saint Augustine, The City of God; Book XI, translated by Marcus Dods; introduction by Thomas Merton, (Modern Library Paperback Edition, 2000), p. 374.

[xiv] X. Saint Augustine, The City of God; Book XI, p. 350.

[xv] X. Jostein Gaarder, Thế giới của Sophie, tr. 229.

[xvi] X. Samuel Enoch Stumpf, Lịch sử Triết học và các luận đề, tr. 154.

[xvii] X. Thánh Thomas Aquino, Tổng luận Thần học, (Thiên Chúa Tạo Thành và các thiên thần, Phần I, vấn đề 44-64); phiên dịch và dẫn nhập: Joachim Nguyễn Văn Liêm, O.P. và một số cộng tác viên; (Tu viện thánh Alberto Cả, Tp. HCM, 2001), vấn đề 44, tr. 113; [Trong những trích dẫn tiếp theo liên quan đến Tổng luận Thần học, chúng tôi chỉ sử dụng cuốn sách này, nên xin phép được ghi tắt Tổng luận Thần học, thay vì viết đầy đủ]; x. St. Thomas Aquinas, The Summa Theologica, translated by Fathers of the English Dominican Province, (Benziger Bros. edition, 1947).

[xviii] X. Thánh Thomas Aquino, Tổng luận Thần học, tr. 99.

[xix] X. Thánh Thomas Aquino, Tổng luận Thần học, tr. 99.

[xx] X. Samuel Enoch Stumpf, Lịch sử Triết học và các luận đề, tr. 154.

[xxi] X. Frederick Copleston, S.J., A History of Philosophy, Volume II, (Doubleday – NewYork, 1993), p.363.

[xxii] X. Thánh Thomas Aquino, Tổng luận Thần học, tr. 111.

[xxiii] X. Thánh Thomas Aquino, Tổng luận Thần học, tr. 119.


Vũ Trụ Có Khởi Đầu Không? (phần 2)

space-14 hanhtinhDẫn nhập

1. Nỗ lực của triết lý và cánh cửa của đức tin

a. Quan niệm của thánh Augustine

b. Quan niệm của thánh Thomas Aquinas

c. Đối chiếu hai quan niệm

2. Tính thời sự của “hai quan niệm” trong đức tin, triết học và khoa học

a. Có vẻ nghịch lý trong đức tin

b. Đối thoại mở trong triết học

c. Cuộc kiếm tìm trong khoa học

Kết luận

….

2) Nhận định về tính thời sự của “hai quan niệm” trong đức tin, triết học và khoa học

Câu hỏi về khởi đầu của vũ trụ, với hai quan niệm của Augustine và Thomas Aquinas mở ngỏ cho nhiều chủ đề căn bản của cả đức tin, triết học và khoa học.

a. Có vẻ nghịch lý trong đức tin

Ngay thời của Thomas, Bonaventura đã dùng quan niệm của Augustine để “phản ứng” Thomas khi Thomas nói chủ đề này vượt tầm triết học.[i] Thomas có lý khi nhận định rằng, Bonavenrura chưa hiểu rõ chủ đề, vì Thomas muốn nhấn mạnh tới ranh giới cần thiết giữa đức tin và lý trí. Nhưng Bonaventura cũng có lý khi phản ứng Thomas, vì lẽ rằng, không thể nào phân biệt đức tin và lý trí trong cùng một con người. Như thế, Bonaventura nhấn mạnh hơn tới con người, tức đời sống; trong khi Thomas nhấn mạnh hơn tới học thuyết, tức sách vở. Hai luồng chú giải này vẫn ảnh hưởng sống động trong đời sống đức tin hiện tại.[ii]

b. Đối thoại mở trong triết học

Ngay từ thời Hy Lạp cổ đại,[iii] triết học đã đón nhận nhiều cách lý giải khác nhau về nguồn gốc của vũ trụ; nên trong nhãn quan triết học, Kinh Thánh đưa ra một cách lý giải của riêng mình, cũng là điều chấp nhận được. Có lẽ đúng hơn, đây là lối chú giải Kinh Thánh của Augustine và Thomas. Nếu khẳng định, Thiên Chúa tạo dựng từ hư vô; phải chăng Thiên Chúa là toàn năng; còn khi khẳng định, Thiên Chúa tạo dựng theo ý muốn tự do của Ngài, phải chăng Thiên Chúa là tình yêu. Tuy nhiên, nếu như thế, thì “hư vô” nghĩa là gì? Theo hai quan niệm của hai vị thánh này, có thể trả lời rằng, “hư vô” là ngoài Thiên Chúa, là ngoài công trình tạo dựng của Ngài. Mặt khác, hai vị lại khẳng định, không có gì tồn tại mà ngoài Thiên Chúa cả; và khi ấy lại đụng tới huyền nhiệm về sự dữ. Đây là một nghịch lý. Hơn nữa, nếu như nói Thiên Chúa là tình yêu, liệu Ngài có chấp nhận cho thụ tạo của Ngài được quyền chọn hiện hữu ngoài Ngài hay không? Và nếu như thế, Ngài “bớt” toàn năng; cũng như việc thụ tạo hiện hữu ngoài Đấng Tạo hoá là điều không hiểu được, ít là trong nhãn quan Kinh Thánh. Chúng tôi không muốn bàn luận sâu hơn, vì nó vượt tầm chủ đề của bài viết này. Chỉ biết rằng, câu trả lời về khởi đầu của vũ trụ có liên quan trực tiếp tới mọi khía cạnh triết học, có thể kể đến trường phái triết học hiện sinh, vốn quan tâm trực tiếp và ưu tiên tới con người trong cuộc sống. Triết gia liên hệ “gần gũi” trong dòng chảy của bài viết này, có thể là Heidegger với câu nói nổi tiếng: “Tại sao là có gì đó, hơn là không có gì?”[iv]có thể là Jean-Paul Sartre với tác phẩm Hữu thể và Hư vô (Being and Nothingness).[v] Xét trong khía cạnh khác, cả thánh Augustine và Thomas đều tin rằng, vũ trụ có khởi đầu, và Thiên Chúa là nguồn cội sáng tạo, như thế Thiên Chúa siêu vượt khỏi quy luật của vũ trụ này, hay ít ra Ngài không buộc phải tuân theo mọi quy luật của vũ trụ này; vì nếu không, Ngài cũng phải có nguyên nhân khác tạo ra Ngài. Có vẻ ủng hộ cho lập trường của hai vị thánh, Kant thừa nhận là chúng ta không thực sự biết về chính Chúa, mà chỉ biết điều được tỏ ra, và ông cũng “chừa khoảng trống” cho Chúa, tức là Chúa không nhất thiết phải tuân theo những quy luật của tâm trí chúng ta, cũng như của vạn vật. Tuy nhiên, theo chiều hướng khác, Schopenhauer cho rằng, nếu có Chúa thì Ngài cũng phải tuân theo mọi quy luật. Thế nhưng, mọi quy luật là gì, vì khá rõ rằng, con người có những quy luật riêng rất khác con vật. Chúng tôi thừa nhận, nếu được bàn luận thấu đáo, chủ đề này không hề dễ.

c. Cuộc kiếm tìm trong khoa học

Câu hỏi về “khởi đầu” của vũ trụ cũng rất hấp dẫn các nhà khoa học. Đầu thế kỷ XX, hầu hết các nhà khoa học đều cho rằng, vũ trụ không có điểm khởi đầu, không có điểm kết thúc.[vi] Tuy nhiên, trong bảy mươi năm qua, các nhà vật lý và vũ trụ học đã đưa ra kết luận: vũ trụ này bắt đầu vào một thời điểm nhất định mà ngày nay chúng ta thường biết đến qua cái tên “vụ nổ lớn” (Big Bang[vii]). Thời điểm đó xảy ra cách đây khoảng 14 tỷ năm.[viii]

“Khởi đầu” của vũ trụ được các nhà khoa học hàng đầu trả lời cách khác nhau. Tuy Einstein dường như chưa bao giờ xem xét nghiêm túc khái niệm Big Bang, nhưng lý thuyết tương đối tổng quát của ông có hàm ý rằng, thời gian có sự khởi đầu, mặc dù chính ông không hài lòng với ý tưởng này.[ix] Dù có một định kiến chung của một số nhà vật lý lý thuyết, kể cả Einstein, cho rằng thời gian phải là vô tận theo cả hai chiều. Thế nhưng, Penrose và Hawking đã chứng minh được: trong mô hình toán học của lý thuyết tương đối tổng quát, thời gian phải có một điểm bắt đầu vào lúc xảy ra Big Bang. Kết quả này gây hoang mang cho các nhà khoa học, nhất là những người muốn giữ định kiến của mình, và họ cho rằng, toán học không đủ để mô tả thực tại.[x]

Thứ đến, câu hỏi về “tự do của Thiên Chúa trong tạo dựng” cũng thú vị không kém. Penrose và Hawking chỉ ra rằng, lý thuyết tương đối tổng quát tiên đoán thời gian sẽ kết thúc, nhưng không thể tiên đoán được hệ quả của Big Bang là gì. Một số người coi điều này như một biểu hiện về quyền tự do của Chúa trong việc sáng tạo vũ trụ theo cách Ngài muốn, nhưng một số khác (gồm cả Hawking) cảm thấy rằng, sự bắt đầu của vũ trụ phải được chi phối bởi các định luật đúng cho mọi thời điểm.[xi] Hơn nữa, câu nói của thánh Augustine: “trước khi tạo ra trời đất, Chúa chẳng làm gì cả” rất gần với các quan niệm hiện đại.[xii]

Như thế, với hai gương mặt tiêu biểu là Einstein và Hawking, chúng tôi nhận được những giải pháp khác nhau. Einstein công bố thuyết tương đối của mình, nhưng lại có niềm tin ngược với hệ quả trực tiếp từ thuyết ấy (điều này Hawking chứng minh được). Còn Hawking lựa chọn theo kết quả rằng, vũ trụ có khởi đầu, nhưng không chấp nhận về “hành vi tự do của Chúa”, và ông vẫn tiếp tục tìm kiếm các định luật chi phối vào lúc khởi đầu ấy. Những người khác, những người vừa tin vào lý thuyết của Einstein vừa tin vào niềm tin của ông thì phủ nhận kết quả của Hawking bằng lập luận: toán học không đủ mô tả thực tại.

Để kết thúc, chúng tôi xin nhắc tới hai gương mặt muốn hoà hợp giữa khoa học và đức tin. Thứ nhất, nhà vật lý học thiên thể Robert Jastrow cho rằng, các bằng chứng thiên văn học có liên hệ rất gần với quan điểm về cội nguồn vũ trụ của Kinh Thánh; chi tiết có thể khác, nhưng những yếu tố cốt lõi và lời lý giải là giống nhau.[xiii] Thứ hai, nhà hoá-sinh Francis S.Collins nhận định, vụ nổ lớn củng cố cho kết luận: tự nhiên có một khởi đầu xác định; không thể hình dung được, bằng cách nào mà tự nhiên có thể tạo ra chính nó; phải có một lực lượng siêu nhiên ở bên ngoài vũ trụ và ngoài thời gian mới có thể làm nổi điều đó.[xiv]

Kết luận

Tựu trung, chủ đề “lúc khởi đầu” của vũ trụ vẫn còn là câu hỏi mở cho tới ngày nay. Thánh Augustine cũng như thánh Thomas đã vận dụng tất cả khả năng về triết lý của mình để suy tư, để đối thoại với nền triết học đương thời của các ngài. Về phương diện triết học, các ngài chỉ ra rằng, có thể chấp nhận nhiều câu trả lời khác nhau. Hơn nữa, về phương diện thần học, các ngài đón nhận lối nhìn của Kinh Thánh. Nhờ đó, các ngài vừa truy tìm trong triết lý, vừa dấn thân trong đức tin, mà cả hai vẫn hoà hợp nhau. Chính thánh Augustine lưu ý: nếu cả hai người đều nói sự thật, thì chân lý bất dịch vượt lên trên trí khôn của họ, và họ không được bài bác tư tưởng của nhau;[xv] thêm vào đó, trong tình trạng có nhiều ý kiến khác nhau và cũng chân thật cả, thì chính chân lý phải thiết lập sự hoà hợp.[xvi] Để cẩn thận tránh nhầm lẫn khi dùng đức tin dẫm chân vào lĩnh vực triết học, thánh Thomas cho rằng: điều hữu ích là đừng cả gan chứng minh điều thuộc đức tin bằng những lý lẽ bất tất. Vì nếu làm như thế, sẽ làm cớ cho người ngoại giáo chế diễu, vì họ tưởng rằng, chúng ta dựa vào những lý lẽ đó mà tin nhận những điều thuộc đức tin.[xvii] Vâng, những giải pháp khác nhau của chủ đề “lúc khởi đầu” không chỉ xảy ra cho triết học, mà cho cả khoa học hiện đại, như đã đề cập. Bài học lớn mà chúng tôi nhận thấy: dù là triết học, thần học, hay khoa học, thì cái nền căn bản là khiêm tốn kiếm tìm chân lý; vừa tôn trọng lĩnh vực riêng của mình, vừa bổ túc nhau, và đừng “chơi xấu” nhau. Với tinh thần này, chúng tôi ngưỡng mộ cung cách bắc nhịp cầu của hai vị thánh. Sẽ chẳng có “hệ thống giao thông tốt” nếu thiếu những “nhịp cầu lớn” loại này.

Vincent Vũ Tứ Quyết, S.J.

Học Viên Triết I

Học Viện Thánh Giuse, Dòng Tên

[i] X. Đậu Văn Hồng, Triết Trung Cổ, (Dựa trên giáo trình của Emmanuel Falque), (Tp.HCM, 2014), tr. 79.

[ii] X. Đức Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II, Thông điệp Đức tin và Lý trí, (Ngày 14 tháng 9 năm 1998).

[iii] Nguồn gốc vũ trụ là từ nguyên chất sơ bản: “nước” đối với Talet, “lửa” đối với Hiraclitus, “nguyên tử” đối với Democritus… Các nguyên chất này mang ý nghĩa rất phong phú với những nét rất riêng.

[iv] “Why is there something rather than nothing?” Sorensen, Roy, “Nothingness”,The Stanford Encyclopedia of Philosophy (Winter 2012 Edition), Edward N. Zalta (ed.),

<http://plato.stanford.edu/archives/win2012/entries/nothingness/>.

[v] X. Flynn, Thomas, “Jean-Paul Sartre”, The Stanford Encyclopedia of Philosophy(Fall 2013 Edition), Edward N. Zalta (ed.), <http://plato.stanford.edu/archives/fall2013/entries/sartre/>.

[vi] X. Francis S.Collins, Ngôn ngữ của Chúa (The Language of God), Lê Thị Thanh Thuỷ dịch, (Nxb Lao Động, Hà Nội, 2007), tr. 86.

[vii] Nhà vũ trụ học, linh mục Georges Lemaintre là người đầu tiên đề xuất lý thuyết này trong việc tìm hiểu về nguồn gốc vũ trụ (Big Bang). Ông gọi, tại điểm khởi đầu của vũ trụ, vũ trụ là “nguyên tử nguyên thủy.”

[viii] X. Francis S.Collins, Ngôn ngữ của Chúa, tr. 88.

[ix] X. Stephen Hawking, Vũ trụ trong vỏ hạt dẻ (The Universe in a Nutshell); Nguyễn Tiến Dũng, Vũ Hồng Nam dịch; Đặng Vĩnh Thiên, Chu Hảo hiệu đính; (Nxb Trẻ, T.p HCM, 2009); tr. 30-31.

[x] X. Stephen Hawking, Vũ trụ trong vỏ hạt dẻ, tr. 51-52.

[xi] X. Stephen Hawking, Vũ trụ trong vỏ hạt dẻ, tr. 32.

[xii] X. Stephen Hawking, Vũ trụ trong vỏ hạt dẻ, tr. 44.

[xiii] X. Francis S.Collins, Ngôn ngữ của Chúa, tr. 88.

[xiv] X. Francis S.Collins, Ngôn ngữ của Chúa, tr. 91.

[xv] X. Thánh Augustine, Tự Thuật, Quyển XII, Đoạn XXVI, tr. 759-760.

[xvi] X. Thánh Augustine, Tự Thuật, Quyển XII, Đoạn XXX, tr. 770.

[xvii] X. Thánh Thomas Aquino, Tổng luận Thần học, tr. 111.

 Theo Dongten.net
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
– Vào thứ Ba 8-12-2020, Đức Giáo hoàng Phanxicô đã công bố Năm Thánh Giuse, để kỷ niệm 150 năm ngày thánh nhân được công bố là người bảo trợ Giáo hội hoàn vũ. Đức Giáo hoàng Phanxicô cho biết ngài thiết lập Năm Thánh này để “mọi tín hữu theo gương Thánh Giuse, củng cố đời sống đức tin bằng cách hằng ngày thực hiện trọn vẹn ý muốn của Chúa.” Dưới đây là những điều bạn cần biết về Năm Thánh Giuse: Tại sao lại có những năm được mang các chủ đề cụ thể (từ Giáo hội)? Giáo hội cử hành diễn trình của thời gian qua lịch phụng vụ - bao gồm các lễ như Phục sinh và Giáng sinh, và các mùa như Mùa Chay và Mùa Vọng. Ngoài ra, các vị Giáo hoàng còn có thể dành riêng những khoảng thời gian nào đó để Giáo hội suy ngẫm sâu sắc hơn về một khía cạnh cụ thể của giáo huấn hoặc niềm tin Công giáo. Một số năm trước đây đã được các vị giáo hoàng gần đây chọn lựa như thế, bao gồm Năm Đức Tin, Năm Thánh Thể và Năm Thánh Lòng Thương Xót.
Tại Việt Nam, ít ai biết được rằng 150 năm trước khi thi hào Nguyễn Du qua đời (1820), văn chương Công giáo đã có một tác phẩm lục bát bằng chữ Nôm đạt mức tuyệt tác: Tác phẩm Sấm Truyền Ca (1670), diễn ca 5 quyển đầu của Cựu Ước, do cha Lữ Y Đoan, một trong những linh mục thế hệ đầu của địa phận Đàng Trong. Cũng chính năm 1820 tác phẩm được phiên âm sang chữ quốc ngữ. Sau một vận mệnh hẩm hiu suốt hơn ba trăm năm, cuối thế kỷ XX chỉ còn hơn 1/5 tác phẩm sống sót: Sách Sáng Thế Ký (Tạo đoan kinh) và 21 chương đầu của sách Xuất Hành (Lập quốc kinh). Năm 1993 một số trí thức Công giáo đã thực hiện hồ sơ “Về các tác giả Công giáo thế kỷ XVII-XIX”, do Khoa Ngữ Văn, Đại học Tổng hợp Tp HCM ấn hành. Quyển sách đã giới thiệu tác phẩm Sấm Truyền Ca đến công chúng.
Từ ngữ: tuyên thánh đúng hơn là phong thánh: Từ phong thánh quen dùng trong tiếng Việt, nguyên ngữ từ tiếng Hy Lạp “Kanon” có nghĩa là thước đo hay tiêu chuẩn hay được nhìn nhận là có giá trị. Ý nghĩa nầy được tìm thấy trong động từ canonizare của tiếng La tinh, rồi canoniser trong tiếng Pháp và Canonize trong tiếng Anh. DHYThuan-ChaDiep.jpg Những tín hữu trong thế kỷ đầu đã phong thánh cho các Tông Đồ khi gọi các Ngài là Thánh. Những vị tử đạo cũng được gọi là thánh. Rồi những thế kỷ kế tiếp, những giáo dân có đời sống thánh thiện, nêu gương sáng và thành mực thước cho người đời cũng được tuyên bố “đang ở trên thiên đàng” tức là thánh. Như vậy theo từ Kanon và theo truyền thống, Giáo Hội không hề phong thánh hay không hề làm cho ai thành thánh cả. Giáo Hội, qua thời gian cầu nguyện lâu dài và qua những phép lạ được thực hiện nhờ lời chuyển cầu của ...
I. Nữ vương các thánh tử đạo 1) Tại sao Đức Maria được gọi là Nữ vương các thánh tử đạo? 2) Tại sao chọn Nữ vương các thánh tử đạo làm bổn mạng tỉnh dòng? 3) Tỉnh dòng có tình cảm gì đối với Nữ vương các thánh tử đạo? II. Nữ vương các chứng nhân 1) Tân ước có nền tảng cho tước hiệu Đức Maria “Nữ vương các chứng nhân” không? 2) Đức Maria đã sống đời chứng nhân đức tin như thế nào? 3) Tước hiệu “Nữ vương các chứng nhân” có ý nghĩa gì đối với chúng ta? ————- Đây không phải là lần đầu tiên tôi được mời chia sẻ với anh em nhân dịp bổn mạng tỉnh dòng. Vì không muốn lặp lại những điều đã trình bày cho nên năm nay tôi muốn tìm một lối tiếp cận mới liên quan đến danh hiệu bổn mạng tỉnh dòng, qua tựa đề: “Nữ Vương các tử đạo hay Nữ vương các chứng nhân?” Xin anh em hãy kiên nhẫn chịu tử đạo khi nghe bài suy niệm hơi dài, và có thể gây nhiều cú sốc.
Phan Tấn Thành Tại một số nhà thờ mới cất bên Việt Nam, người ta thấy trên Thập giá thay vì tượng Chúa chịu nạn lại có tượng Chúa Phục sinh hay Linh mục Thượng phẩm. Tại sao lại có sự thay đổi ấy? Từ sau công đồng Vaticanô II, người ta chứng kiến một số thay đổi trong lãnh vực phụng vụ. Thoạt tiên xem ra có vẻ mới, và khiến cho có người băn khoăn: phải chăng công đồng Vaticanô II đã thay đổi đức tin của Giáo hội? Thế nhưng nếu xét kỹ ra, thì nhiều sự thay đổi không hoàn toàn mới nhưng lấy lại truyền thống từ lâu đời của Giáo hội mà thôi. Tỉ như ngôn ngữ dùng trong phụng vụ: vào những thế kỷ đầu, phụng vụ được cử hành bằng tiếng địa phương, và thậm chí tại Rôma ngôn ngữ của phụng vụ là tiếng Hy-lạp, tức là tiếng giao thông thương mại thời đó, chứ không phải là tiếng La-tinh. Ta cũng có thể nói một cách tương tự như vậy về việc thay đổi tượng Chúa chịu nạn bằng tượng Chúa Phục sinh: đây không phải là sự canh tân, song là trở về nguồn.
Trả lời: Vâng, quả thật hộp sọ xuất hiện rất thường xuyên trong nghệ thuật Ki-tô Giáo và ngay cả ngày nay. Tôi có thể hiểu câu hỏi của bạn về thực hành này; bởi vì việc đặt hộp sọ ở khắp mọi nơi có vẻ như là một cái gì đó không lành mạnh – đặc biệt đối với những người đang sống trong một xã hội tiêu dùng và thế tục, nơi người ta thường lảng tránh suy nghĩ về những điều sâu sắc chẳng hạn như cái chết và những gì xảy ra sau đó. Một hộp sọ lành mạnh Khi nghệ thuật Ki-tô Giáo miêu tả những hộp sọ ở gần các vị thánh, nó tượng trưng cho sự khôn ngoan và thận trọng của các ngài. Hộp sọ là hình ảnh đại diện một cách sống động và hấp dẫn về cái chết của con người.
Giải đáp của Cha Edward McNamara, Dòng Đạo Binh Chúa Kitô (LC), giáo sư phụng vụ của Đại học Regina Apostolorum (Nữ Vương các Thánh Tông Đồ), Rôma. Hỏi: Thưa cha, liệu Thánh lễ cầu cho người khi còn sống là hiệu lực hơn (mạnh hơn) so với Thánh lễ cầu nguyện sau khi đã chết không? Thánh Anselmô (Anselm) và ĐGH Biển Đức XV đã nói Thánh lễ cầu cho khi còn sống là hiệu lực hơn. Xin cha bình luận việc này cho nhiểu người biết. - S. T., Chicago, Hoa Kỳ Đáp: Trong khi bạn đọc trên không cung cấp nguồn của các ý kiến này của thánh Anselmô (Anselm) và ĐGH Biển Đức XV, tôi vẫn cho đó là ý riêng của bạn ấy.Bằng cách nào chúng ta có thể nói rằng Thánh Lễ này là "mạnh hơn" (hiệu lực hơn) so với Thánh lễ kia?
Phụng vụ mừng lễ Các Thánh vào ngày đầu tháng 11, và ngày hôm sau, tưởng nhớ các người qua đời. Xét theo nguồn gốc lịch sử, lễ kính nào ra đời trước: việc kính nhớ các người qua đời có trước, hay lễ các thánh có trước? Linh mục Phan Tấn Thành trả lời. Để trả lời câu hỏi này, chúng ta phải phân biệt nhiều vấn đề. Việc kính nhớ các linh hồn qua đời là một chuyện, còn việc dành ra một ngày trong năm để tưởng nhớ tất cả các linh hồn là chuyện khác. Một cách tương tự như vậy, kính nhớ các thánh là một chuyện, còn dành ra một ngày để kính nhớ tất cả các thánh là một chuyện khác. Chúng ta sẽ cố gắng đi từng bước một: chúng ta hãy khởi hành với thực tại ngày nay, rồi chúng ta sẽ đi lùi ngược lại dòng lịch sử. Ngày nay lễ tưởng nhớ các người qua đời diễn ra vào ngày hôm sau lễ các thánh. Từ khi nào lịch phụng vụ ấn định việc cử hành hai ngày lễ đó?
Cùng với lời kinh cầu nguyện với Đức Mẹ đã được Đức Thánh Cha đọc trong video trong Thánh lễ do Đức Hồng y Giám quản Roma cử hành tại đền thánh Đức Mẹ Tình yêu Chúa ngày 11/03 vừa qua, Đức Thánh Cha đề nghị thêm một kinh nguyện để các tín hữu cầu nguyện vào cuối buổi đọc kinh Mân Côi, xin Đức Mẹ bảo vệ thế giới khỏi đại dịch. Hồng Thủy - Vatican
Đây là lời nguyện chính thức của Hội đồng Giám mục Việt Nam để cầu nguyện trong cơn dịch bệnh Covid-19. Lạy Thiên Chúa Ba Ngôi toàn năng chúng con đang họp nhau cầu nguyện, tha thiết nài xin cho cơn dịch bệnh mau chấm dứt. Lạy Chúa Cha giàu lòng thương xót xin nhìn đến nỗi thống khổ của đoàn con trên khắp thế giới, đặc biệt tại những nơi dịch bệnh đang hoành hành. Xin củng cố đức tin của chúng con, cho chúng con hoàn toàn tín thác vào tình yêu quan phòng của Cha. Lạy Chúa Giêsu là Đấng cứu độ duy nhất, là vị lương y đầy quyền năng và lòng thương xót, xin thương cho các bệnh nhân sớm được chữa lành, và an ủi các gia đình đang gặp khó khăn thử thách. Xin cho lời chúng con khiêm tốn cầu nguyện, được chạm tới trái tim nhân lành của Chúa, xin giảm bớt gánh nặng khổ đau, và cho chúng con cảm nhận được bàn tay Chúa đang ân cần nâng đỡ chúng con.
Bảo Trợ