Nhờ thầy pháp dùng bùa để ''bắt ma'' trị bệnh thì có tội không?

14 Tháng Ba 20155:12 CH(Xem: 1311)
Hỏi: Tôi có người bà con có tâm thần không ổn định, đã cố gắng chạy chữa khắp nơi nhưng không khỏi. Nghe người ta đồn có một thầy sư, giỏi pháp thuật, có thể chữa được bệnh nên tôi đã đem người này đến gặp, xin giúp đỡ. Vị sư nói là người thân của tôi bị ma ám, cần phải dùng bùa để chữa trị. Tôi đã để cho vị sư này thực hiện các nghi thức bùa chú của ông ấy để chữa bệnh cho người thân của tôi. Tôi có phạm tội không?
truquy.jpg


Đáp:

 

Điều răn thứ nhất trong Mười Điều Răn dạy rằng: “Thờ phượng một Đức Chúa Trời và kính mến Người trên hết mọi sự”. Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo (GLHTCG), số 2116 có ghi rằng “Phải loại bỏ mọi hình thức bói toán: cậy nhờ Xa-tan hay ma quỉ, gọi hồn người chết hay những cách khác ngỡ rằng sẽ đoán được tương lai (x. Đnl 18,10; Gr 29,8). Coi tử vi, chiêm tinh, xem chỉ tay, giải điều mộng, xin xăm, bói toán quá khứ vị lai, đồng bóng, là những hình thức che giấu ước muốn có quyền trên thời gian, trên lịch sử và trên cả con người, cũng như ước muốn liên kết với các thế lực huyền bí. Điều này nghịch lại với lòng tôn kính và thần phục chỉ dành cho Thiên Chúa.”

 

Số 2117 còn nói rõ thêm: “Ai muốn dùng ma thuật hay pháp thuật để chế ngự các thế lực huyền bí, bắt chúng phục vụ mình và nắm được quyền lực siêu phàm trên người khác dù là để chữa bệnh, cũng lỗi nặng nhân đức thờ phượng. Các việc nầy càng đáng lên án hơn nữa khi có dụng ý hại người, hay nhờ đến sự can thiệp của ma quỉ. Mang bùa cũng là điều đáng trách. Chiêu hồn thường đi kèm cả bói toán hay ma thuật. Hội Thánh cảnh giác các tín hữu phải xa lánh các điều ấy. Khi dùng các phương thuốc gia truyền, không được kêu cầu các thế lực ma quỉ cũng như lợi dụng sự nhẹ dạ của người khác.”

 

Việc bạn đưa người thân đến gặp thầy sư để xin vị này chữa bệnh cho thấy bạn đã đồng tình với việc sử dụng một sức mạnh huyền bí, chứ không dùng đức tin vào Thiên Chúa, để chữa bệnh cho người thân của mình. Và việc đồng tình của bạn cũng đồng nghĩa với việc bạn đã không tôn kính và thờ phượng Thiên Chúa trên hết mọi sự như Điều Răn Thứ Nhất dạy. Điều này có tội hay không, chắc là bạn đã rõ.

Là tội không phải chỉ là vi phạm điều Giáo Hội dạy, nhưng hơn hết là do mình đã không còn tin vào Chúa, không cậy vào quyền năng của Chúa, không tin vào sức mạnh của lời cầu nguyện, nhưng lại đi tìm một nơi cậy dựa khác. Ngày xưa, Thiên Chúa trách tội dân Israel là vì họ đã không cậy vào Ngài những lúc khó khăn, nhưng chỉ đi tìm những thần khác để thờ lạy. Việc bạn nhờ đến sức mạnh huyền bí của sư thầy để chữa bệnh cũng là một dạng tương tự như vậy.

 

Bạn có thể thắc mắc: “nhưng mục đích của tôi là tốt mà, tôi chỉ muốn người thân của tôi được khỏi bệnh thôi”.

 

Luân lý học có một nguyên tắc: Mục đích không thể biện minh cho phương tiện. Có nghĩa là: không phải cứ nhắm tới mục đích tốt là mình có quyền làm mọi chuyện. Giúp đỡ người nghèo là tốt, nhưng không thể vì giúp người nghèo mà ta đi cướp tài sản của người khác. Ta cũng không thể cho rằng để ngăn chăn sự dữ thì ta cần phải giết hết những người làm điều ác. Quan niệm và hành xử như thế sai. Tương tự như vậy, không thể vì sức khỏe của người thân mà ta loại trừ Thiên Chúa và làm tay sai cho ma quỷ.


Hơn nữa, về mặt thiêng liêng mà nói, bạn có dám chắc là việc người thân của bạn hết bệnh là điều tốt không? Giàu có thể là phúc, cũng có thể là họa; thông minh có thể là phúc, nhưng cũng có thể là họa; khỏe có thể là phúc, cũng có thể là học; sống lâu có thể là phúc, nhưng cũng có thể là họa. Cái gì cũng có hai mặt của nó. Người Kitô hữu chúng ta được mời gọi để đón nhận hết tất cả những gì Chúa gửi đến và nên thánh trong những điều đó. Trong các Mối Phúc, Đức Giêsu đã đề cao và gọi là có phúc những ai tín thác vào Cha trên trời, chứ không phải là khỏe mạnh hay giàu sang.

 

Bạn có thể nói: “Nhưng tôi chỉ đưa người thân của tôi đi chữa bệnh thôi mà, tôi đâu có ý gì khác”.

“Chữa bệnh” là cách nói của bạn, nó chỉ là bề ngoài. Cái ẩn tàng đằng sau chữ “chữa bệnh” mới là vấn đề, và đó là việc bạn đã tin và trao phó người thân của mình cho một người không đáng tin, dưới cái nhìn của Giáo Hội. Như những gì bạn nói trong câu hỏi, rõ ràng bạn tin là người thân của bạn bị “ma ám” (nên mới để ông làm phép), chứ không phải bị “bệnh”. Vị sư thầy kia không phải là bác sĩ, không có chuyên môn y học, làm sao có thể “chữa bệnh” được. Giả như ông ta chỉ là giả mạo, bạn chẳng phải đã bị lừa rồi sao? Còn trong trường hợp ông ta có thể làm được, ông ta đã sử dụng một quyền lực huyền bí không-đến-từ-Thiên-Chúa. Bạn nhờ đến năng lực ấy của ông ta, nghĩa là bạn cho rằng chỉ có ông ấy mới có thể giúp người thân của bạn, ngoài ra, không còn một thế lực nào khác có thể. Như thế, bạn đã không tin vào Chúa nữa, và đi kiếm một thần minh khác để giải quyết vấn đề cho mình. Cái sai của bạn nằm ở đó.


Giả như người thân của bạn thật sự bị quỷ ám, tại sao bạn không cậy đến Giáo Hội? Sách GLHTCG 1673 có nói đến việc trừ tà: “Khi Hội Thánh, một cách công khai và có thẩm quyền, nhân danh Chúa Giêsu Kitô, cầu xin để một người hay một đồ vật, được Thiên Chúa bảo vệ khỏi ảnh hưởng của Ác thần và giải thoát khỏi ách thống trị của nó, thì gọi là Trừ tà (exorcismus). Giáo Luật số 1172 quy định rằng: “Không ai có thể trừ tà cách hợp pháp cho những người bị quỷ ám, trừ khi có phép đặc biệt và minh nhiên của Đấng Bản Quyền địa phương. Đấng Bản Quyền địa phương chỉ ban phép trừ ta cho một linh mục đạo đức, sáng suốt, khôn ngoan và có đời sống vẹn toàn”.

 

Như vậy, ngay cả khi bạn tin là người thân của bạn bị quỷ ám, bạn cũng đã sai khi không nhờ đến Giáo Hội mà lại nhờ đến một thế lực khác bên ngoài Giáo Hội. Nó cho thấy, bạn chẳng những không tin vào Chúa mà còn phản bội lại lời tuyên tín của bạn trong Kinh Tin Kính: Tôi tin Hội Thánh duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền.

 

Mong là giải đáp vắn gọn trên đây có thể giúp bạn hiểu rõ hơn không những về giáo huấn của Giáo Hội mà cả lý do vì sao Giáo Hội lại giáo huấn như thế.

 

Pr. Lê Hoàng Nam, SJ

dongten.net 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
– Vào thứ Ba 8-12-2020, Đức Giáo hoàng Phanxicô đã công bố Năm Thánh Giuse, để kỷ niệm 150 năm ngày thánh nhân được công bố là người bảo trợ Giáo hội hoàn vũ. Đức Giáo hoàng Phanxicô cho biết ngài thiết lập Năm Thánh này để “mọi tín hữu theo gương Thánh Giuse, củng cố đời sống đức tin bằng cách hằng ngày thực hiện trọn vẹn ý muốn của Chúa.” Dưới đây là những điều bạn cần biết về Năm Thánh Giuse: Tại sao lại có những năm được mang các chủ đề cụ thể (từ Giáo hội)? Giáo hội cử hành diễn trình của thời gian qua lịch phụng vụ - bao gồm các lễ như Phục sinh và Giáng sinh, và các mùa như Mùa Chay và Mùa Vọng. Ngoài ra, các vị Giáo hoàng còn có thể dành riêng những khoảng thời gian nào đó để Giáo hội suy ngẫm sâu sắc hơn về một khía cạnh cụ thể của giáo huấn hoặc niềm tin Công giáo. Một số năm trước đây đã được các vị giáo hoàng gần đây chọn lựa như thế, bao gồm Năm Đức Tin, Năm Thánh Thể và Năm Thánh Lòng Thương Xót.
Tại Việt Nam, ít ai biết được rằng 150 năm trước khi thi hào Nguyễn Du qua đời (1820), văn chương Công giáo đã có một tác phẩm lục bát bằng chữ Nôm đạt mức tuyệt tác: Tác phẩm Sấm Truyền Ca (1670), diễn ca 5 quyển đầu của Cựu Ước, do cha Lữ Y Đoan, một trong những linh mục thế hệ đầu của địa phận Đàng Trong. Cũng chính năm 1820 tác phẩm được phiên âm sang chữ quốc ngữ. Sau một vận mệnh hẩm hiu suốt hơn ba trăm năm, cuối thế kỷ XX chỉ còn hơn 1/5 tác phẩm sống sót: Sách Sáng Thế Ký (Tạo đoan kinh) và 21 chương đầu của sách Xuất Hành (Lập quốc kinh). Năm 1993 một số trí thức Công giáo đã thực hiện hồ sơ “Về các tác giả Công giáo thế kỷ XVII-XIX”, do Khoa Ngữ Văn, Đại học Tổng hợp Tp HCM ấn hành. Quyển sách đã giới thiệu tác phẩm Sấm Truyền Ca đến công chúng.
Từ ngữ: tuyên thánh đúng hơn là phong thánh: Từ phong thánh quen dùng trong tiếng Việt, nguyên ngữ từ tiếng Hy Lạp “Kanon” có nghĩa là thước đo hay tiêu chuẩn hay được nhìn nhận là có giá trị. Ý nghĩa nầy được tìm thấy trong động từ canonizare của tiếng La tinh, rồi canoniser trong tiếng Pháp và Canonize trong tiếng Anh. DHYThuan-ChaDiep.jpg Những tín hữu trong thế kỷ đầu đã phong thánh cho các Tông Đồ khi gọi các Ngài là Thánh. Những vị tử đạo cũng được gọi là thánh. Rồi những thế kỷ kế tiếp, những giáo dân có đời sống thánh thiện, nêu gương sáng và thành mực thước cho người đời cũng được tuyên bố “đang ở trên thiên đàng” tức là thánh. Như vậy theo từ Kanon và theo truyền thống, Giáo Hội không hề phong thánh hay không hề làm cho ai thành thánh cả. Giáo Hội, qua thời gian cầu nguyện lâu dài và qua những phép lạ được thực hiện nhờ lời chuyển cầu của ...
I. Nữ vương các thánh tử đạo 1) Tại sao Đức Maria được gọi là Nữ vương các thánh tử đạo? 2) Tại sao chọn Nữ vương các thánh tử đạo làm bổn mạng tỉnh dòng? 3) Tỉnh dòng có tình cảm gì đối với Nữ vương các thánh tử đạo? II. Nữ vương các chứng nhân 1) Tân ước có nền tảng cho tước hiệu Đức Maria “Nữ vương các chứng nhân” không? 2) Đức Maria đã sống đời chứng nhân đức tin như thế nào? 3) Tước hiệu “Nữ vương các chứng nhân” có ý nghĩa gì đối với chúng ta? ————- Đây không phải là lần đầu tiên tôi được mời chia sẻ với anh em nhân dịp bổn mạng tỉnh dòng. Vì không muốn lặp lại những điều đã trình bày cho nên năm nay tôi muốn tìm một lối tiếp cận mới liên quan đến danh hiệu bổn mạng tỉnh dòng, qua tựa đề: “Nữ Vương các tử đạo hay Nữ vương các chứng nhân?” Xin anh em hãy kiên nhẫn chịu tử đạo khi nghe bài suy niệm hơi dài, và có thể gây nhiều cú sốc.
Phan Tấn Thành Tại một số nhà thờ mới cất bên Việt Nam, người ta thấy trên Thập giá thay vì tượng Chúa chịu nạn lại có tượng Chúa Phục sinh hay Linh mục Thượng phẩm. Tại sao lại có sự thay đổi ấy? Từ sau công đồng Vaticanô II, người ta chứng kiến một số thay đổi trong lãnh vực phụng vụ. Thoạt tiên xem ra có vẻ mới, và khiến cho có người băn khoăn: phải chăng công đồng Vaticanô II đã thay đổi đức tin của Giáo hội? Thế nhưng nếu xét kỹ ra, thì nhiều sự thay đổi không hoàn toàn mới nhưng lấy lại truyền thống từ lâu đời của Giáo hội mà thôi. Tỉ như ngôn ngữ dùng trong phụng vụ: vào những thế kỷ đầu, phụng vụ được cử hành bằng tiếng địa phương, và thậm chí tại Rôma ngôn ngữ của phụng vụ là tiếng Hy-lạp, tức là tiếng giao thông thương mại thời đó, chứ không phải là tiếng La-tinh. Ta cũng có thể nói một cách tương tự như vậy về việc thay đổi tượng Chúa chịu nạn bằng tượng Chúa Phục sinh: đây không phải là sự canh tân, song là trở về nguồn.
Trả lời: Vâng, quả thật hộp sọ xuất hiện rất thường xuyên trong nghệ thuật Ki-tô Giáo và ngay cả ngày nay. Tôi có thể hiểu câu hỏi của bạn về thực hành này; bởi vì việc đặt hộp sọ ở khắp mọi nơi có vẻ như là một cái gì đó không lành mạnh – đặc biệt đối với những người đang sống trong một xã hội tiêu dùng và thế tục, nơi người ta thường lảng tránh suy nghĩ về những điều sâu sắc chẳng hạn như cái chết và những gì xảy ra sau đó. Một hộp sọ lành mạnh Khi nghệ thuật Ki-tô Giáo miêu tả những hộp sọ ở gần các vị thánh, nó tượng trưng cho sự khôn ngoan và thận trọng của các ngài. Hộp sọ là hình ảnh đại diện một cách sống động và hấp dẫn về cái chết của con người.
Giải đáp của Cha Edward McNamara, Dòng Đạo Binh Chúa Kitô (LC), giáo sư phụng vụ của Đại học Regina Apostolorum (Nữ Vương các Thánh Tông Đồ), Rôma. Hỏi: Thưa cha, liệu Thánh lễ cầu cho người khi còn sống là hiệu lực hơn (mạnh hơn) so với Thánh lễ cầu nguyện sau khi đã chết không? Thánh Anselmô (Anselm) và ĐGH Biển Đức XV đã nói Thánh lễ cầu cho khi còn sống là hiệu lực hơn. Xin cha bình luận việc này cho nhiểu người biết. - S. T., Chicago, Hoa Kỳ Đáp: Trong khi bạn đọc trên không cung cấp nguồn của các ý kiến này của thánh Anselmô (Anselm) và ĐGH Biển Đức XV, tôi vẫn cho đó là ý riêng của bạn ấy.Bằng cách nào chúng ta có thể nói rằng Thánh Lễ này là "mạnh hơn" (hiệu lực hơn) so với Thánh lễ kia?
Phụng vụ mừng lễ Các Thánh vào ngày đầu tháng 11, và ngày hôm sau, tưởng nhớ các người qua đời. Xét theo nguồn gốc lịch sử, lễ kính nào ra đời trước: việc kính nhớ các người qua đời có trước, hay lễ các thánh có trước? Linh mục Phan Tấn Thành trả lời. Để trả lời câu hỏi này, chúng ta phải phân biệt nhiều vấn đề. Việc kính nhớ các linh hồn qua đời là một chuyện, còn việc dành ra một ngày trong năm để tưởng nhớ tất cả các linh hồn là chuyện khác. Một cách tương tự như vậy, kính nhớ các thánh là một chuyện, còn dành ra một ngày để kính nhớ tất cả các thánh là một chuyện khác. Chúng ta sẽ cố gắng đi từng bước một: chúng ta hãy khởi hành với thực tại ngày nay, rồi chúng ta sẽ đi lùi ngược lại dòng lịch sử. Ngày nay lễ tưởng nhớ các người qua đời diễn ra vào ngày hôm sau lễ các thánh. Từ khi nào lịch phụng vụ ấn định việc cử hành hai ngày lễ đó?
Cùng với lời kinh cầu nguyện với Đức Mẹ đã được Đức Thánh Cha đọc trong video trong Thánh lễ do Đức Hồng y Giám quản Roma cử hành tại đền thánh Đức Mẹ Tình yêu Chúa ngày 11/03 vừa qua, Đức Thánh Cha đề nghị thêm một kinh nguyện để các tín hữu cầu nguyện vào cuối buổi đọc kinh Mân Côi, xin Đức Mẹ bảo vệ thế giới khỏi đại dịch. Hồng Thủy - Vatican
Đây là lời nguyện chính thức của Hội đồng Giám mục Việt Nam để cầu nguyện trong cơn dịch bệnh Covid-19. Lạy Thiên Chúa Ba Ngôi toàn năng chúng con đang họp nhau cầu nguyện, tha thiết nài xin cho cơn dịch bệnh mau chấm dứt. Lạy Chúa Cha giàu lòng thương xót xin nhìn đến nỗi thống khổ của đoàn con trên khắp thế giới, đặc biệt tại những nơi dịch bệnh đang hoành hành. Xin củng cố đức tin của chúng con, cho chúng con hoàn toàn tín thác vào tình yêu quan phòng của Cha. Lạy Chúa Giêsu là Đấng cứu độ duy nhất, là vị lương y đầy quyền năng và lòng thương xót, xin thương cho các bệnh nhân sớm được chữa lành, và an ủi các gia đình đang gặp khó khăn thử thách. Xin cho lời chúng con khiêm tốn cầu nguyện, được chạm tới trái tim nhân lành của Chúa, xin giảm bớt gánh nặng khổ đau, và cho chúng con cảm nhận được bàn tay Chúa đang ân cần nâng đỡ chúng con.
Bảo Trợ