Tại Sao Không Được Phép Cử Hành Hôn Nhân Đồng Tính?

03 Tháng Hai 20154:52 CH(Xem: 1410)
Hỏi: Xin cha giải thích Giáo Hội có cho phép cử hành hôn nhân đồng tính không?

dongtinh

Trả lời:

Trước khi trả lời câu hỏi đặt ra trên đây, thiết nghĩ nên biết qua về mục đích của hôn nhân trong Giáo Hội Công Giáo.

Khi tạo dựng nên con người, Thiên Chúa đã tạo dựng người nam và người nữ đầu tiên và Ngài đã truyền cho họ: “Hãy sinh sôi nẩy nở thật nhiều cho đầy mặt đất và thống trị mặt đất.” (St 1:28)


Đây là nền tảng và mục đích của hôn nhân trong chương trình sáng tạo của Thiên Chúa.  Như thế, con người được  vinh  hạnh  cộng tác với Thiên Chúa trong chương trình sáng tạo của Ngài, nghĩa là tham gia vào công trình làm cho có thêm nhiều người “mang hình ảnh” của Thiên Chúa trong trần thế này cho đến cuối thời gian. Vì thế, hôn nhân từ thời Cựu đến Tân Ước, trước hết, đều có mục đích diễn tả cách bóng bẩy và cụ thể  tình yêu sâu đậm của Thiên Chúa dành cho con người

Trong Cựu Ước, hôn nhân là giao ước tình yêu giữa Thiên Chúa và Israel, tức Dân riêng được tuyển chọn của Ngài:

     “Vì ngươi sẽ được Đức Chúa đem lòng sủng ái,

        Và Chúa lập hôn ước cùng xứ sở người;

         Như trai tài sánh duyên cùng thục nữ,

         Đấng tạo tác ngươi sẽ cưới ngươi về;

         Như cô dâu là niềm vui cho chú rể,

         Ngươi cũng là niềm vui cho Thiên Chúa ngươi thờ.” (Is  62: 4-5) 


Thiên Chúa “ kết hôn” với dân của Ngài, trong ý nghĩa thâm sâu của tình yêu vô biên mà Ngài đã dành cho họ. Nhưng họ có bổn phận phải đáp trả bằng cách tuân giữ những thánh chỉ của Ngài để được chúc phúc và sống muôn đời. Trong Tân Ước, Chúa Giêsu cũng “kết duyên” với toàn thể nhân loại được cứu chuộc bằng giá máu của Người đã đổ ra trên thập giá để mang về cho Thiên Chúa một dân mới và chuẩn bị cho “hôn lễ và tiệc cưới của Con Chiên và Hiền Thê của Người”, tức là hôn ước giữa Chúa Kitô với nhân loại qui tụ trong Giáo Hội, được ví như người vợ yêu qúi hay là hiền thê  của Người.  (Kh 19:7-9)

Trong ý nghĩa rất thân tình và thâm sâu đó, hôn nhân quả thật là một ơn gọi (vocation) cao quí,  qua đó, Thiên Chúa mời gọi hai người nam  nữ kết hôn để “thiết lập giữa họ một giao uớc trọn  đời  nhằm mưu lợi ích cho người kết hôn, cho việc sinh sản con cái và giáo dục chúng. Giao ước này, thiết lập giữa những người đã lãnh nhận phép rửa tội, đã được Chúa Kitô nâng lên hàng bí tích. (x. SGLGHCG, số 1601).

Như thế, hôn nhân có mục đích và ý nghĩa cao cả trong chương trình sáng tạo và cứu chuộc nhân loại của Thiên Chúa mà con người có vinh phúc được mời gọi tham gia và cộng tác.


Nói khác đi, hôn nhân giữa hai người nam và nữ tượng trưng cho giao uớc tình yêu và bổn phận giữa con người với Thiên Chúa là Đấng đã  vì yêu thương vô vị lợi,  mà tạo dựng con người và “muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý” (1Tm 2). Nhưng con người cũng được mong đợi đáp trả tình yêu của Thiên Chúa, bằng cách chu toàn ơn gọi của mình và  sống theo đường lối của Thiên Chúa  để được vui hưởng  hạnh phúc đời đời với Người  trên Nước Trời mai sau.


Do đó,  những ai được mời gọi kết hôn đều được mong đợi sống đúng với mục đích của ơn gọi này là cộng tác với Thiên Chúa trong chương trình sáng tạo nhân loại và làm chứng cho tình yêu vô biên của Chúa  dành cho toàn thể con cái loài người. Nghĩa là phải chu toàn những trách  nhiệm  và mục đích của hôn nhân để  nêu cao những giá trị của đời sống gia đình,  sinh con cái và giáo dục chúng để giúp chúng nhận biết và yêu mến Thiên Chúa cũng như chân quí  tình yêu phu phụ tương trưng cho tình yêu thắm thiết và bền vững giữa Thiên Chúa và loài người.


Thật vậy, khi kết hôn hợp pháp  và thành sự ( licitly and validly), hai người phối ngẫu được lãnh nhận ân sủng riêng của bí tích để kiện toàn tình yêu của họ và để giúp họ “nên thánh trong cuộc sống vợ chồng, trong việc đón nhân và giáo dục con cái nên thánh.” (Lumen Gentium 11).

Mặt khác, qua việc kết hôn, hai người phối ngẫu bắt đâu xây dựng đời sống gia đình, từ đó phát sinh những công dân mới cho xã hội và tăng số con cái cho Giáo Hội nhờ phép rửa.


 Vì thế, gia đình được ví như một ‘xã hội nhỏ, thu hẹp” một ‘Giáo Hội tại gia” (domestic church).  Chính vì muôn nhấn mạnh và đề cao vai trò của gia đình mà Chúa Giêsu đã chọn sinh ra trong một gia đình có cha mẹ loài người là Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ thật của Chúa và Thánh Cả Giuse, nguời Cha nuôi của Chúa  (Foster Father)  trong Thánh Gia thất xưa.  

Như vậy, hôn nhân phải là hành động nhân linh xẩy ra giữa một người nam và một người nữ đúng theo Ý định của Thiên Chúa khi tạo dựng Adam và Eva, là đôi hôn phối đầu tiên trong lịch sử nhân loại. Nghiã là từ đầu, hôn phối không hề dành cho hai người cùng phái tính (same sex) vì nó đi ngược lại hoàn toàn với mục đích và trách nhiệm của hôn nhân trong kế hoạch của Thiên Chúa.  Do đó, ai cho phép việc kết hôn đồng tính (same sex marriage) thì đã hành động chống lại chính Thiên Chúa là Tác giả của luật hôn nhân và cũng phá hủy tận gốc rễ nền tảng và mục đích hôn nhân trong xã hội loài người. Chắc chắn như vậy.

Nói thế không có nghĩa là lên án những người có khuynh hướng đồng tính luyến ái (lesbian or homosexual tendencies).

Nhưng cần phân biệt giữa khuynh hướng tự nhiên về đồng tính và hành vi đồng tính.

Một người được sinh ra với khuynh hướng tự nhiên (natural tendency) hướng chiều về đồng tính (homosexuality) thì đây không phải là lỗi của họ, nghĩa là họ không có tội vì có khuynh hướng tự nhiên này.


Họ cần được giáo dục, giúp đỡ và thông cảm để vượt thắng khuynh hướng tâm sinh lý bất bình thường (abnormal) đó.


Chỉ những ai cố ý muốn thực hành những hành vi đồng phái tính (lesbian or homosexual acts) mới có tội mà thôi, vì những hành vi này là  “những hành vi thác loạn tự bản chất (intrinsically disordered)  nghich với luật tự nhiên vì chúng  ngăn cản hành vi tính dục đưa đến đón nhận  quà tặng sự sống.” (x.SGLGHCG, số 2357). 


Cụ thể, hai người đồng tính không thể sinh sản con cái và xây dựng nếp sống gia đình cách đúng nghĩa được. Mọi hành vi luyến ái của họ đều sai trái nghiêm trọng về luân lý, trái tự nhiên, và không giúp chu toàn mục đích của đời sống hôn nhân. Do đó, ở đâu và  ai  cho phép việc này thì thực chất  chỉ để  chiều theo đòi hỏi của một thiểu số người bệnh hoạn về tâm sinh lý mà thôi.Cho họ kết hôn như vậy là  làm đảo lộn mục đích hôn phối mà Thiên Chúa đã thiết lập từ đầu và Giáo Hội có trách nhiệm bảo vệ và nghiêm chỉnh thi hành.

Tóm lại, không khi nào Giáo Hội công nhận và cho phép sự thành hôn giữa hai người cùng phái tính.  Đây là sự suy thoái đạo đức trầm trọng của một số xã hội Âu Mỹ, một  lẫn lộn về trật tự và giá trị luân lý với tự do và sở thích cá nhân của  thời đại trống vắng niềm tin này.

Người tín hữu Chúa Kitô phải có can đảm chống lại trào lưu suy thoái đạo đức và luân lý nghiêm trọng này để bảo vệ giá trị và mục đích của hôn nhân mà Thiên Chúa đã thiết lập từ khi tạo dựng con người có nam có nữ.


Sau hết chúng ta cũng không quên cầu nguyện cho những người có khuynh hướng trái tự nhiên về tâm sinh lý : xin Chúa giúp họ nhận ra và  thắng vượt được khuynh hướng bất bình thường này. 


LM. Phanxicô Xaviê  Ngô Tôn Huấn

Theo Conggiao.info
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Đây là lời nguyện chính thức của Hội đồng Giám mục Việt Nam để cầu nguyện trong cơn dịch bệnh Covid-19. Lạy Thiên Chúa Ba Ngôi toàn năng chúng con đang họp nhau cầu nguyện, tha thiết nài xin cho cơn dịch bệnh mau chấm dứt. Lạy Chúa Cha giàu lòng thương xót xin nhìn đến nỗi thống khổ của đoàn con trên khắp thế giới, đặc biệt tại những nơi dịch bệnh đang hoành hành. Xin củng cố đức tin của chúng con, cho chúng con hoàn toàn tín thác vào tình yêu quan phòng của Cha. Lạy Chúa Giêsu là Đấng cứu độ duy nhất, là vị lương y đầy quyền năng và lòng thương xót, xin thương cho các bệnh nhân sớm được chữa lành, và an ủi các gia đình đang gặp khó khăn thử thách. Xin cho lời chúng con khiêm tốn cầu nguyện, được chạm tới trái tim nhân lành của Chúa, xin giảm bớt gánh nặng khổ đau, và cho chúng con cảm nhận được bàn tay Chúa đang ân cần nâng đỡ chúng con.
Những ngày này, cả thế giới hồi hộp với sự lây lan nhanh chóng của virus Corona. Tại Trung Quốc, nhiều thành phố nội bất xuất, ngoại bất nhập. Bầu không khí u ám, chết chóc bao trùm nhiều nơi. Tại Việt Nam cũng như nhiều nước, nhà chức trách ráo riết vào cuộc để ngăn chặn cơn dịch nguy hiểm này. Là người Công Giáo, chúng ta không thể làm gì khác hơn là cầu nguyện trong cơn đại dịch này. Vì virus Corona xuất hiện đầu tiên tại thành phố Vũ Hán bên Trung Quốc, nên virus này được đặt tên là corona/coronavirus Vũ Hán,
Giải đáp của Cha Edward McNamara, Dòng Đạo Binh Chúa Kitô (LC), giáo sư phụng vụ và thần học Bí tích, Giám đốc Viện Sacerdos tại Đại học Regina Apostolorum (Nữ Vương các Thánh Tông Đồ), Rôma. Hỏi: Con rất muốn cha làm sáng tỏ một vấn đề liên quan đến việc rửa tội trong Thánh lễ. Con là phó tế trong một giáo xứ nhỏ. Con chưa rửa tội nhiều người - thường là cháu của con hoặc nếu ai đó xin con rửa tội cho con của họ. Con luôn tin rằng việc rửa tội trong Thánh lễ là thích hợp nhất. Cha xứ hiện tại của con tin rằng một phó tế rửa tội trong Thánh lễ sẽ tạo thành một sự thay đổi vị chủ tế. Con không thể tìm thấy gì để hỗ trợ cho quan điểm này. Xin cha giúp làm sáng tỏ cho con - R. D., Grand Rapids, Michigan, Hoa Kỳ.
Chúng ta không biết gì nhiều về thánh Giuse, cha nuôi của Đức Giêsu, trong Tin Mừng. Ngài chỉ được mô tả cách vắn gọn là “chồng bà Maria”, “người công chính” (x.Mt 1,19), một “bác thợ” (x.Mt 13,55). Chẳng thấy đề cập gì đến tuổi cũng như cái chết của ngài. Tuy nhiên, vài truyền thống cổ xưa cho chúng ta một chút thông tin cá nhân về ngài. Giáo Hội Chính Thống tin rằng thánh Giuse đã lớn tuổi khi thành hôn với Đức Trinh Nữ Maria. Khi trước hai người thành hôn với nhau, vợ trước của Giuse đã qua đời (Giuse đã có với vợ trước vài đứa con). Đó là lý do vì sao chúng ta thấy trong Tin Mừng có nhắc đến “anh em” của Đức Giêsu. (x.Mt 13,55-56) và chúng ta thường thấy người ta sẽ hình thánh Giuse như một ông lão.
Sinh ra trong một gia đình có truyền thống Phật Giáo, tuy nhiên, em thú nhận rằng mình chưa hiểu nhiều về giáo lý nhà Phật. Vì nhiều lý do khác nhau, em cứ để cuộc sống nổi trôi theo học tập và công việc. Trong dòng đời ấy, rất nhiều lần em được tiếp xúc với môi trường bên Kitô Giáo[1]. Em nói như thế vì không chỉ bên đạo Tin Lành thu hút em, nhưng đạo Công Giáo cũng là một con đường mời gọi em bước vào.
Có người sợ vào Luyện Hình, có người mong được vào đó; có người coi đó là bằng chứng về Lòng Thương Xót của Thiên Chúa, có người lại coi đó là hình phạt của Thiên Chúa. Nhiều người không biết gì về Luyện Hình, nhiều người lại quên chính mình đã từng biết.
8/7/2016 (Xem: 586) Trong Hội Thánh, có tới khoảng 190 Kinh Cầu khác nhau. Tuy vậy, chỉ có 5 Kinh Cầu được sử dụng phổ biến hơn cả. Đó là: Kinh Cầu Loreta (còn gọi là Kinh Cầu Đức Bà); Kinh Cầu Thánh Danh; Kinh Cầu Trái Tim Đức Chúa Giêsu; Kinh Cầu Ông Thánh Giuse; Kinh Cầu Các Thánh. Trong số này, Kinh Cầu Các Thánh được xem là lời kinh cổ xưa nhất, long trọng nhất và là kiểu mẫu cho các kinh cầu khác.
Việc các tín hữu Công giáo sử dụng hình thập giá là đi theo một truyền thống cổ xưa vốn tôn kính hiến tế tối cao của Đức Giêsu. Trong khi thập giá đơn thuần là một biểu tượng chung của Kitô giáo được sử dụng bởi tất cả các giáo hội Kitô thì Công giáo lại thường xuyên sử dụng thập giá, một thập giá có thân thể bị tra tấn của Đức Giêsu Kitô. Tại sao vậy?
chúng ta thật khó để thoát ra lối suy nghĩ rằng Thiên Chúa hẹp hòi, ích kỷ và hay trả thù. Chẳng hạn, những người làm điều ác, xúc phạm đến Thiên Chúa, Ngài có trừng trị họ không? Thật khó để trả lời rốt ráo! Nhiều trường hợp chúng ta thấy họ gặp tai ương và đối diện với cái chết. Phải chăng đó chỉ là sự trùng hợp, hay “lưới trời lồng lộng”? Hoặc ít ra đó là lời cảnh giác, nhắn nhủ cho những ai xúc phạm đến Thiên Chúa hoặc làm điều dữ. Những gì chúng ta thấy, chỉ là suy diễn của con người.
Chúng tôi xin trình bày bốn điểm: 1/ Khái niệm, xét theo ngôn ngữ thông thường và trong lịch sử đời tu. 2/ Kinh thánh. 3/ Giá trị. 4/ Thực hành. I. Ý nghĩa Có người định nghĩa “khó nghèo” là “khó mà nghèo”. Thiết tưởng điều khó khăn không chỉ nằm ở chỗ thực hành, mà ngay từ quan niệm: Nghèo là gì ? Thế nào là nghèo ? Tại sao phải sống nghèo ? Trước hết, chúng ta hãy điểm qua vài ý niệm sơ đẳng về cái nghèo. Kế đó, chúng ta sẽ rảo qua những quan niệm khác nhau của các Dòng tu về lời khuyên nghèo khó.
Bảo Trợ