Thật sự là một nan đề: Bất khả phân ly hay ly dị

18 Tháng Mười 201411:14 SA(Xem: 1396)


jpg_1350895.jpgThượng hội đồng không được yêu cầu để quyết định về vấn đề này. Nhưng giả thiết về các cuộc hôn nhân thứ hai nay đã có đầy đủ quyền công dân tại cuộc hội nghị thượng đỉnh của Giáo hội. Bài phê bình của hồng y Camillo Ruini.

 

ROMA, ngày 13 tháng Mười năm 2014 – Sau tuần lễ nhóm họp đầu tiên của thượng hội đồng, có một điều trở nên rõ ràng: chủ đích thực sự cuộc bàn cãi là có chấp nhận ly dị trong hôn nhân Công giáo hay không.

 

Trong thượng hội đồng, ly dị là một từ bị kiêng kỵ. Không ai cho rằng thượng hội đồng lại bàn đến điểm ấy. Ai nấy đều cả tiếng tuyên bố rằng giáo lý về tính bất khả phân ly phải được giữ nguyên vẹn.

 

Nhưng khi bàn đến việc có cho người ly dị và tái hôn được rước lễ không, sự thể lại như là, trong trường hợp này, mối giây liên kết thánh thiêng của hôn nhân dường như không còn hiện hữu nữa. Giáo hội Công giáo cũng nên nhìn nhận có cuộc hôn nhân thứ hai, như các Giáo hội Chính Thống đã từng.

 

Việc này chính là điểm tiên phong do những người đề xướng canh tân cổ xúy lên, không như một phong trào không chút thực tế ủng hộ việc ly dị trong Công giáo, vốn chỉ có một ít nhà thần học như Andrea Grillo hay Hermann Häring minh nhiên đề xướng, nhưng như một đề nghị giúp đỡ mang tính thương xót dành cho những người bị từ khước không được phép rước lễ vì họ đã tái hôn bên dân sự, sau khi đã phá vỡ giây liên kết của bí tích hôn phối bên dân sự.

 

Đề nghị này hấp dẫn. Nó được đưa ra như một phương thuốc cho những ai đau khổ vì “quyền” lãnh nhận bí tích bị từ khước. Không quan trọng là số lượng các trường hợp như thế rất ít. Nhưng cũng đủ để nó hoạt động như một đòn bẩy, dẫn đến một thay đổi mà các hậu quả hứa hẹn sẽ lớn hơn rất nhiều.

 

Xã hội học về tôn giáo hẳn cũng có nhiều điều phải nói về khía cạnh này. Mãi đến giữa thế kỷ 20, trong các giáo xứ Công giáo, việc cấm những người ở trong tình trạng hôn phối rối rắm không được chịu lễ chẳng tạo nên một vấn đề nào, vì gần như chẳng ai nhận ra. Vì cho dù số người dự lễ đông, nhưng chỉ ít người rước lễ ngày Chúa Nhật. Chỉ những ai thường xuyên xưng tội mới thường xuyên chịu lễ. Chứng cớ cho việc này là một điều răn có hai mặt mà Giáo hội đã buộc các giáo hữu: xưng tội “một năm ít là một lần” và rước lễ “trong Mùa Phục Sinh.”

 

Như thế, việc không rước lễ không phải là một dấu chứng bị phạt hay bị loại trừ. Động lực chính khiến các tín hữu không thường xuyên rước lễ, là lòng tôn kính rất mực dành cho bí tích Thánh Thể, chỉ có thể tiếp cận sau khi đã chuẩn bị cặn kẽ, luôn luôn với lòng kính úy và trong run sợ.

 

Tất cả những chuyện này đã thay đổi trong thời Công Đồng Vaticanô đê Nhị và thời hậu công đồng. Tắt một lời, việc xưng tội gia tăng và việc rước lễ trở thành một hiện tượng quần chúng ồ ạt. Bây giờ, mỗi người, hay hầu như mọi người, đều luôn luôn rước lễ. Vì trong thời gian đó, sự hiểu biết về bí tích Thánh Thể đã thay đổi. Sự hiện diện thực sự của Mình và Máu Chúa Giêsu trong bánh và rượu được truyền phép đã giản lược thành chỉ còn sự hiện diện tượng trưng. Việc rước lễ trở thành giống như một dấu hiệu bình an, một cử chỉ của tình bạn, chia sẻ hay huynh đệ, “giống như người ta hay nói: mọi người khác đi, tôi cũng đi,” như đức giáo hoàng Biển Đức XVI đã nói. Ngài là người cố gắng tái lập ý nghĩa đích thực của Thánh Thể bằng cách muốn – giữa nhiều việc khác nữa – các tín hữu phải quỳ gối và chịu lễ bằng lưỡi.

 

Trong một bối cảnh như thế, không thể tránh được rằng việc cấm người ly dị và tái hôn rước lễ được xem như một từ chối công khai “quyền” một người được lãnh nhận bí tích. Chuyện phản đối đã và đang là việc của một số ít, vì đa số những người ly dị và tái hôn đều là những người ít sinh hoạt tôn giáo, trong khi giữa những người sống đạo, lại không thiếu những người hiểu và tôn trọng luật lệ của Giáo hội. Nhưng trong số rất nhỏ các trường hợp, bắt đầu từ thập niên 1990, và chủ yếu trong một ít các địa phận nói tiếng Đức, đã nảy sinh một chiến dịch nhằm thay đổi luật lệ của Giáo Hội Công giáo trong lãnh vực hôn phối. Phong trào này đạt cao điểm dưới triều giáo hoàng Phanxicô với sự đồng tình rõ ràng của ngài.

 

Sự chú tâm của thượng hội đồng vào vấn đề người ly dị và tái hôn cũng có nguy cơ làm mất đi sự chú mục vào những tình hình đang gặp khủng hoảng vĩ mô hơn trong hôn nhân Công giáo.

 

Chẳng hạn, trong thời gian ngắn ngay trước thượng hội đồng, trên các sạp báo tại Ý, xuất hiện một bản báo cáo về các hoạt động mục vụ do Jorge Mario Bergoglio, hồi đó còn là hồng y, thiết lập nên trong các vùng ngoại ô của Buenos Aires.

 

Theo bản báo cáo này, người ta biết được rằng, hầu hết các cặp vợ chồng, có khoảng từ 80 đến 85 phần trăm, không cưới xin mà chỉ sống chung, trong khi trong số các cặp vợ chồng, “đa số các cuộc hôn nhân đều bất thành, vì họ cưới nhau khi chưa trưởng thành,” mà họ cũng chắng màng tìm cách có được tuyên bố tiêu hôn từ toà án giáo phận.

 

Chính các “curas villeros- linh mục khu ổ chuột,” các linh mục được đức Bergoglio sai đi phụ trách các vùng ngoại ô, đã cung cấp thông tin này, và hãnh diện tuyên bố rằng các ngài cho mọi người rước lễ, bất chấp tất cả, “mà không nêu lên rào cản nào.”

 

Vùng ổ chuột ven biên Buenos Aires không phải là trường hợp cá biệt tại Châu Mỹ Latinh. Và các ngài đưa ra bằng chứng, không phải của một thành công, nhưng chỉ là một điều nói lên sự thiếu vắng hay thất bại trong việc chăm sóc mục vụ hôn nhân. Tại các châu lục khác, hôn nhân Công giáo cũng bị nằm trong thế kìm kẹp của những thách đố không kém trầm trọng, từ đa thê cho đến hôn nhân cưỡng ép, từ lý thuyết về “giới tính” cho đến các cuộc hôn nhân “đồng tính.”

 

Đối mặt với một thách đố như thế, thượng hôi đồng này và thượng hội đồng kế tiếp sẽ quyết định xem câu trả lời thích hợp sẽ là mở một lối thoát cho việc ly dị, hay tái xác lập sức mạnh và vẻ đẹp đặc biệt, đầy cách mạng của tính bất khả phân ly trong hôn nhân Công giáo.

 

Sau đây là phần đóng góp vào cuộc tranh luận, không phải của một nghị phụ trong thượng hội đồng, nhưng của một hồng y Giáo hội Công Giáo Rôma, cảm thấy có bổn phận không thể im hơi lặng tiếng.

 

Aug Nguyễn Đức Khang chuyển ngữ từ chiesa.espresso.repubblica.it

Nguon Lamhong.org

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
[…]Cũng giống như Mẹ Maria, chúng ta dành mùa Vọng như một khoảng thời gian dừng lại, phản tỉnh và chuẩn bị đón nhận món quà Tình yêu của Thiên Chúa đến với chúng ta qua Hài nhi Giêsu.
Có lẽ một số người vội vã nhạo báng ý tưởng này là tưởng tượng hay dị đoan. Nhưng sự tin tưởng vào hồn ma thì phổ quát trong mọi văn hóa kể từ khi lịch sử được ghi chép lại, và một phần nó được dựa vào rất nhiều tường thuật rằng, thực sự, người sống đã gặp gỡ các hồn ma (ghost). Trước các hiện tượng có thực này, người Công giáo không thể dễ dàng bỏ qua tình trạng ấy. Có hồn ma không?
Đức Thánh Cha Phanxicô viếng nghĩa trang Laurentino – nơi có khu “Vườn Thiên Thần” dành để mai táng các thai nhi không được sinh ra, ngày 2/11/2018 Các thai nhi bàn ở đây được hiểu là những bào thai [đã là người] bị chết trước khi được sinh ra do sẩy thai hay phá thai.1 Liệu có hợp lý không khi có rất nhiều giáo dân Việt Nam xin lễ cầu cho các thai nhi? Câu trả lời sau đây cho thấy đây là một thực hành cần phải xét lại vì nó không hợp lý xét theo đức tin, giáo lý và thần học của Giáo Hội.
Phụng vụ mừng lễ Các Thánh vào ngày đầu tháng 11, và ngày hôm sau, tưởng nhớ các người qua đời. Xét theo nguồn gốc lịch sử, lễ kính nào ra đời trước: việc kính nhớ các người qua đời có trước, hay lễ các thánh có trước? Linh mục Phan Tấn Thành trả lời.
Không phải là điều gì mới lạ khi các tín hữu Tin lành thường khiến các tín hữu Công giáo bối rối khi bàn luận về Thánh Kinh, vì họ thường rất thuộc và biết nhiều về Thánh Kinh hơn người Công giáo. Ví dụ, một tín hữu Tin lành Luther có thể đọc thuộc cả một cuốn sách trong bộ Thánh Kinh, trong khi các tín hữu Công giáo lại khá vất vả để phân biệt những câu, những đoạn trong Thánh Kinh.
Hội nhập văn hoá : Nền văn hoá toàn diện và liên đới Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Sơn Kể từ Công đồng Vaticanô II (1962-1965) cho đến nay, từ “văn hoá” được nhắc đến nhiều lần trong các văn kiện chính thức và quan trọng của Giáo Hội Công Giáo[1] vì văn hoá bao gồm hầu như mọi sinh hoạt thường ngày của con người. Vì thế chúng ta cần tìm hiểu xem văn hoá là gì, Giáo hội muốn chúng ta xây dựng loại văn hoá nào và xây dựng nó bằng cách nào?
Chúa Nhật ngày 14-10-2018, Giáo Hội tuyên thánh 6 chân phước, trong đó có ĐGH Phaolô VI (1897-1978), vị giáo hoàng thứ 82 được Giáo Hội tuyên thánh trong số 266 giáo hoàng (từ Thánh Phêrô tới ĐGH Phanxicô).Trước đó, ngài đã được ĐGH Bênêđictô XVI tôn phong là Bậc Đáng Kính ngày 20-12-2012, và được ĐGH Phanxicô tôn phong Chân Phước (ngày xưa gọi là Á thánh) ngày 19-10-2014, ngày bế mạc Công nghị Giám mục về Gia đình.
Thượng Hội Đồng Giám Mục Thế Giới 2018 tại Rôma là một điều đặc biệt, không chỉ với các Giám Mục mà còn với tất cả các bạn trẻ Công Giáo ở mọi nơi. Đó là sự kiện của người trẻ và với người trẻ. Quan tâm và hướng tới một Thượng Hội Đồng Giám Mục đầy mong đợi, có khoảng 250 bạn trẻ Công Giáo từ nhiều giáo phận tại Việt Nam[1], đã hưởng ứng lời mời gọi của Ban Mục Vụ Giới Trẻ Tổng Giáo Phận Sài Gòn tham gia hai buổi toạ đàm với Đức Cha Giám Quản Giuse Đỗ Mạnh Hùng để cùng chia sẻ những tâm tư và suy nghĩ về chủ đề “Giới trẻ, Đức tin và Phân định ơn gọi”.
Đức Thánh Cha Gioan XXIII là người đã triệu tập Công Đồng Vatican II, mở cánh cửa Giáo Hội ra với thế giới bên ngoài, và đem một sinh khí mới vào đời sống của Giáo Hội. Triệu tập Công đồng là một công việc vĩ đại, phát xuất từ nhiều lo lắng cho tương lai Giáo Hội với quá nhiều vấn đề khó khăn, Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII lại vẫn thường cầu nguyện rất đơn sơ nhẹ nhàng trước giờ đi ngủ: “Lạy Chúa, Giáo Hội là của Chúa, con chỉ là tôi tớ. Giáo Hội mạnh yếu thành đạt là trách nhiệm của Chúa. Con đã làm bổn phận của con, giờ này đến giờ con đi ngủ, xin Chúa ban phúc lành cho con.”
LỜI GIỚI THIỆU Ngày 16 tháng 10 năm 2002, ĐTC Gioan Phaolô II công bố Tông thư “Rosarium Virginis Mariae” về Kinh Mân Côi và ấn định Năm Mân Côi, bắt đầu từ tháng 10 năm 2002 đến hết tháng 10 năm 2003. Cũng trong Tông thư này, ĐTC thêm 5 Mầu nhiệm mới vào 15 Mầu nhiệm (Vui, Thương, Mừng) vẫn có từ trước tới giờ trong Kinh Mân Côi và ngài gọi các mầu nhiệm mới này là “Mầu nhiệm Sự Sáng”, gồm các chặng chính của cuộc đời công khai Chúa Giêsu: Phép Rửa trong sông Giordano – Tiệc cưới Cana – Loan báo Nước Thiên Chúa – Biến hình trên Núi Tabor – ...
Bảo Trợ