Bảo vệ nhân quyền từ phía Giáo Hội Công Giáo

23 Tháng Bảy 20122:00 CH(Xem: 5055)

Viết theo tài liệu của GS Giorgio Filibeck, Đại Học Công Giáo Sacro Cuore – Milano

Trong nhãn quan của Giáo Hội, nhân quyền là những gì thể hiện từ phẩm giá của con người, mà mỗi con người đều có: “Anh hãy làm cho mình trở nên con người và nhận biết phẩm giá của bản thể mình“. Đó là những gì Thánh Leo Cả đã viết lên từ thế kỷ V (Omelia XXVII, 6). Phẩm giá đó là kết quả của sự kiện “con người được dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa, giống như Thiên Chúa (Gen 1, 26-27).

nhan-quyen2 

Bởi đó phương thức chắc chắn nhất để tôn trọng các quyền của con người là tôn kính chính Thiên Chúa. ĐTC Gioan Phaolô II trong bài diễn văn nhân dịp đến kính viếng Thánh Địa, đã đặt câu hỏi tại sao thảm trạng sát hại hàng triệu người Do Thái có thể xảy ra được, và ngài đã đưa ra câu giải đáp như sau: “Làm sao con người có thể có được thái độ vừa kể đối với con người? Bởi vì những người đó đã đạt đến mức khinh dễ cả Thiên Chúa. Chỉ có một ý thức hệ vô thần mới có thể có những đồ án và đi đến tận cùng việc tàn sát cả một dân tộc” (ĐTC Gioan Phaolô II, Visita al mausoleo Yad Vashem a Gerusalemme, 2). Vậy thì đó là chìa khoá để phát triển một sự bảo vệ chính đáng các quyền của con người, ngược lại tư tưởng của những ai cho rằng tôn giáo là thù nghịch đối với các quyền đó. 

Giáo Hội luôn chuyên cần bênh vực phẩm giá con người như là kết quả của công trình tạo dựng của Chúa. Công Đồng Vatican II đã xác nhận rõ từng chữ: ”Giáo Hội, do sức mạnh Phúc Âm được ủy thác cho mình, tuyên bố các quyền của con người, nhận biết và định giá cao cả tiến trình năng động mà qua đó, trong thời đại chúng ta, các quyền đó được thăng tiến khắp nơi” (Gaudium et spes, 41).  

Qua những tư tưởng vừa trình bày, mục đích của bài viết là tìm hiểu suy tư và động tác của Giáo Hội nhằm bảo vệ và triển nở các quyền của con người sau Công Đồng Vatican II. Nói như vậy không có nghĩa là phẩm giá con người khiếm diện trước kia, mà là nhấn mạnh rằng kể từ sau Công Đồng thái độ chuyên tâm của Giáo Hội đối với vấn đề nhân quyền càng lúc càng chiếm phần quan trọng hơn trong các suy tư và động tác của Giáo Hội, bởi lẽ Giáo Hội càng ý thức hơn tầm quan trọng của nhân quyền trong bối cảnh xã hội, chính trị ở tầm mức quốc gia cũng như quốc tế. Chúng ta duyệt xét các tư tưởng và động tác của Giáo Hội dưới ba phương diện: tín lý, ngoại giao-luật pháp và mục vụ.

1- Phương diện tín lý

Theo đường lối đã được Công Đồng Vatican II vạch sẵn, Giáo Hội đã ban tặng cho chúng ta một khối các nguyên tắc nhằm định hướng các động tác của người tín hữu Chúa Kitô.

a) Con người được dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa

Đó là căn nguyên nền tảng các quyền của con người.

Phẩm giá của mỗi con người, có thể nhận biết được cả bằng trí khôn con người, phẩm giá đó được sáng chiếu lên bởi ánh sáng đức tin và như vậy căn nguyên nền tảng đó ”nhận được một sự nâng đỡ bảo đảm vững chắc nhất” (ĐTC Gioan XXIII Pacem in terris 5, 25).

Nhưng rất tiếc trong thế giới hiện đại chúng ta, con người không hẳn đồng thuận về nền tảng vừa được nêu ra, bởi đó phẩm giá con người không được đặt trên căn tính đồng nhất và từ đó cũng không đồng thuận về các quyền cần phải được bảo vệ. Bởi đó ngay cả trong thời gian sát liền với Công Đồng con người có khuynh hướng cho rằng các quyền của chúng ta chỉ được bảo đảm vững chắc, chỉ khi nào chúng ta thoát khỏi được mọi ràng buộc đối với Chúa.

Nhưng bước theo con đường vừa kể, phẩm giá con người không những không được giải thoát, mà còn bị hủy diệt (Gaudium et spes, 41). 

b) Bênh vực và thăng tiến các quyền của con người là thành phần nguyên vẹn sứ mạng của Giáo Hội

Chuyên cần dấn thân đem lại lợi ích cho nhân quyền là thái độ thực tế của Giáo Hội thể hiện trước thế giới. Công Đồng Vatican II đón nhận ước vọng càng ngày càng gia tăng của con người muốn thấy phẩm giá mình được kính trọng. Nhưng Giáo Hội biết rằng một ước vọng như vậy không thể được thoả nguyện trong viễn ảnh hoàn toàn vật chất, bởi vì ước vọng đó phản chiếu lại những câu hỏi có liên quan đến ý nghĩa sự hiện hữu của con người, mà câu trả lời thoả đáng con người chỉ có thể gặp được Phúc Âm, trong “Tin Mừng”.

Mối tương quan giữa sứ mạng rao giảng Phúc Âm và thăng tiến con người đã được ĐTC Phaolô VI nhấn mạnh một cách đặc biệt trong Huấn Dụ Evangelii nuntiandi và ĐTC Gioan Phaolô II, trong Thông Điệp đầu tiên của ngài Redemptor hominis.

c) Con người có giá trị thượng đẳng trong mọi hệ thống và đồ án tổ chức

Đây là lời huấn dạy của Giáo Hội dựa trên những gì Phúc Âm đã chỉ dạy cho: “Ngày sabat được lập ra cho con người, chứ không phải con người cho ngày sabat” (Mc 2, 27). Lời chỉ dạy đó của Phúc Âm được Giáo Hội lập lại và Công Đồng Vatican II chú giải: “Con người, tự bản tính, tuyệt đối cần có đời sống xã hội và (con người) phải là nguyên cội, chủ thể và cùng đích của mọi tổ chức xã hội” (Gaudium et spes, 25). Nhờ vào xác định đó, các quyền của con người được đưa ra khỏi mọi suy tư cá nhân chủ nghĩa và có được ý nghĩa đầy đủ của mình trong mối liên hệ giữa con người cá nhân và cộng đồng.

Như vậy một định nghĩa chính đáng về con người là cá nhân có cuộc sống liên hệ tùy thuộc với người khác, bởi đó đòi buộc tổ chức xã hội phải nhằm đến công ích. 

d) Tôn trọng các quyền của con người là định chuẩn để đánh giá tính cách chính danh của mọi quyền lực

ĐTC Gioan Phaolô II đã tuyên bố nguyên tắc vừa kể dưới một hình thức ngắn gọn và đầy ý nghĩa: ”Các quyền của quyền lực không thể được hiểu theo cách nào khác hơn là dựa trên việc tôn trọng các quyền khách thể và bất khả xâm phạm của con người” (ĐTC Gioan Phaolô II, Redemptor hominis, 17).

Lời huấn dạy của Giáo Hội cũng không ít lần nói lên giả thuyết trong đó quyền lực công quyền vượt quá thẩm quyền của mình. Trong trường hợp đó, công dân có quyền và bổn phận phải “bênh vực” các quyền của chính mình và của những người đồng công dân với mình chống lại các lạm quyền của giới công quyền, trong khi vẫn tôn trọng các lằn mức được luật tự nhiên và Phúc Âm chỉ bảo cho (Gaudium et spes, 24).

e) Nhận biết các quyền của con người không thể tách rời khỏi việc nhận biết các bổn phận liên hệ

Giáo huấn của Giáo Hội dạy chúng ta rằng ý nghĩa hoàn hảo của ý niệm con người sẽ không đầy đủ, nếu con người không có khả năng nói lên tư tưởng rằng con người cũng có trách nhiệm, trước tiên là trách nhiệm đối với chính Đấng Tạo Hoá.

Một đàng Thông Điệp Pacem in terris của ĐTC Gioan XXIII nhắc cho chúng ta nhớ rằng có một mối liên hệ không thể tách rời được trong cùng một con người, cũng như mối tương quan giữa quyền và bổn phận của những người khác nhau.

Đàng khác Công Đồng Vatican II cũng lưu ý cần thận trọng các quyền của con người có thể được quan niệm theo khuynh hướng tự lập sai trái (cfr Gaudium et spes, 41).  

f) Các quyền con người có những đặc tính phổ quát và không thể chia tách

Chính luật tự nhiên ban cho con người các quyền vừa kể, bởi đó không có ai là con người mà không có các quyền đó. Bởi vậy tổ chức xã hội được mời gọi phải nhận biết các quyền đó của con người, chứ không phải ban cho hay tước bỏ đi tùy theo việc con người thuộc về khuôn viên của nền văn hoá này hay văn hóa khác, ý thức hệ này hay ý thức hệ khác, đảng phái này hay đảng phái khác.

Cũng không có quyền nào của con người thuộc hạng nhất hay hạng hai. Bởi lẽ mỗi thứ hạng các quyền của con người đều có giá trị nội tại như nhau, vì tất cả đều phát xuất từ quan niệm duy nhất về phẩm giá con người.

ĐTC Gioan Phaolô II đã xác nhận rằng cần phải khước từ những lời chỉ trích của những ai có ý đồ tháo gở đi chủ đề đang bàn dựa vào đặc tính cá biệt của các nền văn hoá khác nhau, để từ đó có thể vi phạm các quyền của con người, cũng như của những ai bần tiện hoá phẩm giá con người, bằng cách chối bỏ giá trị pháp luật phải có đối với các quyền kinh tế, xã hội và chính trị (ĐTC Gioan Phaolô II, Dalla gustizia cristiana nasce la pace per tutti, 2). 

g) Hành xử trọn vẹn các quyền của con người là điều kiện để có được một nền hoà bình vững mạnh và một cuộc phát triển chính đáng

ĐTC Gioan Phaolô II, đã viết Thông Điệp Redemptor hominis, một cách xác quyết rằng: ”Nói cho cùng, hoà bình được quy tóm vào việc tôn trọng các quyền bất khả xâm phạm của con người” (Redemptor hominis, 17).

Và trong Thông Điệp Sollecitudo rei socialis ngài cũng xác nhận: ”Cũng không thể thực sự xứng đáng với con người một công cuộc phát triển không tôn trọng và không phát huy các quyền con người, cá nhân và xã hội, kinh tế và chính trị, kể cả quyền các Quốc Gia và các dân tộc được phát triển” (Sollecitudo rei socialis, 33).

h) Tự do tôn giáo là khuôn thước đo lường mức độ tiến triển của mỗi xã hội

Công Đồng Vatican II đã đánh dấu một khúc quanh có ý nghĩa trong lời huấn dạy của Giáo Hội về vấn đề tôn giáo, bằng cách trình bày quyền tự do đó như là quyền của con người mà thể chế luật pháp có bổn phận bảo vệ đối với mọi công dân và như vậy nhận biết vai trò trần thế quan trọng của tổ chức Quốc Gia.

Tuyên Ngôn Dignitatis humanae của Công Đồng long trọng xác nhận: “Trong vấn đề tôn giáo, không ai bị bắt buộc bị cưởng bách phải hành động trái với lương tâm mình, cũng không ai có thể bị cấm cản, trong lằn mức phải có, được hành động hợp với lương tâm đó” (Dignitatis humanae, 2).

Văn bản tài liệu vừa kể nhắc lại bổn phận luân lý bắt buộc phải tìm kiếm sự thật và thái độ hành xử phải bị bắt buộc được gợi ý bởi sự thật đó, bởi vì quyền tự do tôn giáo không được đặt nền tảng trên cách suy nghĩ tùy tiện của con người, mà trên chính bản thể của con người (ibid.).

ĐTC Gioan Phaolô II đã nhấn mạnh một cách đặc biệt về lời huấn dạy vừa kể của Giáo Hội, theo đó “Việc vi phạm quyền tự do tôn giáo là một điều bất công căn cội đối với những gì sâu đậm nhất của con người, đối với những gì chính đáng của con người” (Redemptor hominis, 17). 

i) Công lý là nguyên lý sự hiện hữu của Giáo Hội

Việc lắng lo cho công lý và bảo vệ nhân quyền được trải rộng ra cả trong đời sống nội bộ của Giáo Hội.

ĐTC Gioan Phaolô II, một trong những bài diễn văn đầu tiên của ngài, đã phát biểu như sau: “Công lý là nguyên lý của cuộc sống Giáo Hội, như là Dân Thiên Chúa” (Udienza generale 08.11.1978, 3). Trải qua cuộc hành trình bao nhiêu thế kỷ, Giáo Hội đã khai triển, soạn thảo ra một loạt các chỉ thị luật pháp, đó là Bộ Giáo Luật được ban hành năm 1983, chứa đựng một danh sách các quyền của người tín hữu Chúa Kitô (Can. 203-283).

ĐTC Gioan Phaolô II đã mời gọi các vị thẩm phán Giáo Hội hãy xem mình như là “các linh mục của công lý” (sacerdotes justitiae) và hãy hoạt động như thế nào để Giáo Hội luôn luôn được nhận biết “speculum giustitiae” (mẫu gương của chân lý) (Alla Sacra Romana Rota, 1).

 

2- Phương diện luật pháp và ngoại giao

Dưới phương diện luật pháp và ngoại giao, trong lãnh vực Giáo Hội Tòan cầu, tác động chính của Giáo Hội là hoạt động ngoại giao của Tòa Thánh.

Một bên là các mối liên hệ song phương, trong đó yếu tố nhân quyền luôn luôn chiếm phần quan trọng hơn. Ví dụ như thoả ước giữa Tòa Thánh và Israel (được ký kết ở Giêrusalem ngày 30 tháng 12 năm 1993), cũng như giữa Tòa Thánh và Tổ Chức Giải Phóng Palestine (được ký kết tại Vatican, ngày 15 tháng 2 năm 2000).

Các Thoả Ước vừa kể đòi buộc các bên liên hệ ký kết phải tôn trọng phẩm giá con người, các quyền của con người cách chung và quyền tự do tôn giáo nói riêng. Các bài diễn văn của ĐTC nhân dịp nhận ủy nhiệm thư các vị đại sứ mới bên cạnh Tòa Thánh gần như luôn luôn chứa đựng các yếu tố liên hệ đến nhân quyền. Ngoài ra Tòa Thánh cũng dùng các đường dây đặc biệt để bênh vực các nạn nhân bị vi phạm nhân quyền. Hoạt động của Tòa Thánh trong các mối liên hệ đa phương giữa các chính quyền với nhau, rất năng động trong ba mươi năm cuối cùng này, hầu hết là những hoạt động dành cho nhân quyền. Tòa Thánh theo dõi đều đặn việc làm của Liên Hiệp Quốc trong lãnh vực đang bàn, cũng như việc làm của các tổ chức vùng (Hội Đồng Âu Châu, Hội Đồng Các Quốc Gia Mỹ Châu, Hội Đồng Các Quốc Gia Phi Châu Liên Kết),góp phần cộng tác của mình dưới nhiều hình thức khác nhau vào các cuộc thảo luận.

Chúng ta cần lưu ý đến việc tham dự của Tòa Thánh vào các Đại Hội Thế Giới trong những thập niên sau cùng này, khởi đầu từ Đại Hội được tổ chức ở Vienne năm 1993, với chủ đề chính về nhân quyền.

Đặc biệt Tòa Thánh không khiếm diện để hỗ trợ cho việc thiết lập Tòa Án Hình Sự Quốc Tế (cfr. Al VI Congresso internazionale di diritto penale), được kết thúc bằng việc áp dụng Nội Quy một Tòa Án Hình Sự Quốc Tế cho Đại Hội Ngoại Giao Liên Hiệp Quốc, được tổ chức ở Roma năm 1998 (cfr. Al Angelus, 14.06.1998; Al Congresso Mondiale sulla pastorale dei diritti umani, 5; I credenti uniti nella costruzione della pace, 7).

Trong bối cảnh đó, Tòa Thánh luôn luôn kiên trì ủng hộ các cố gắng của Cộng Đồng Quốc Tế nhằm phát huy và bênh vực một cách hữu hiệu phẩm giá và các quyền của con người. Nhưng những cố gắng cộng tác và ủng hộ đó không làm cho Giáo Hội đôi khi có thái độ dè dặt, trong trường hợp dưới áp lực của một vài khuynh hướng ý thức hệ có kỳ vọng nhìn nhận một vài“quyền của con người”, như quyền phá thai chẳng hạn, bởi vì theo họ, đó là một quyền có ảnh hưởng đến khuynh hướng tính dục của con người. Đối với Giáo Hội kỳ vọng vừa kể làm băng hoại đến quyền tiên khởi của con người, quyền mỗi con người được bảo toàn mạng sống, từ lúc tượng thai trong lòng mẹ cho đến cái chết tự nhiên.

Sau cùng về phương diện chặt chẽ pháp luật, chúng ta đừng quên Giáo Hội gia nhập vào các dụng cụ pháp luật thiết thực để bảo vệ nhân quyền của Hiệp Ước Genèvre 1949, cũng như vào Nghị Ước (Convention) về tình trạng của người tỵ nạn (1951) và tu chính án (1967), vào Nghị Ước Ajax về việc bảo vệ kho tàng văn hoá trong trường họp có tranh chấp, chiến tranh (1954), vào Nghị Ước chống lại các loại “mìn” chống người (1997), vào Nghị Ước chống lại việc đối đải phân biệt chủng tộc ( 1965).

Tòa Thánh đã trở thành thành viên của các nghị hội quyết định trên, đó cũng là ý nghĩa nói lên sứ mạng của Giáo Hội là phục vụ cộng đồng quốc tế nhân loại.

3- Phương diện mục vụ

Với phương diện mục vụ, chúng ta đi vào cuộc sống hằng ngày của Giáo Hội, trên mọi đẳng cấp. Các quyền của con người tạo thành một chương huấn dụ xã hội lớn lao của Giáo Hội. Thăng tiến và bảo vệ các quyền của con người đòi buộc phải có một nền đào tạo tương xứng đối với các giá trị thiết định nền tảng cho các quyền đó.

Để đạt được mục đích vừa kể, thăng tiến và bảo vệ nhân quyền, các cấu trúc thích ứng nhằm mục đích của Giáo Hội chiếm một vai trò thật quan trọng, nhất là đặc tính năng động của các Giáo Hội địa phương đối với các vấn đề sở tại liên hệ cần giải quyết, dĩ nhiên cùng chung sức với cả Giáo Hội hoàn vũ.

Năm 1998, nhân dịp 50 năm tuyên bố Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền (được Hội Đồng Liên Hiệp Quốc chấp nhận năm 1948), Thánh Bộ Công Lý và Hoà Bình (được ĐTC Phaolô VI thiết lập năm 1967), để đáp lại lời kêu gọi của Công Đồng Vatican II (Gaudium et spes, 90), đã quy tụ một Đại Hội Thế Giới Mục Vụ về các quyền của con người, với mục đích xác nhận sự liên hệ giữa sứ mạng rao giảng Phúc Âm của Giáo Hội với việc thăng tiến và bảo vệ các quyền của con người, trong mọi trạng thái của cuộc sống. Đại Hội đã cho thấy công cuộc chuyên cần dấn thân của Giáo Hội đối với vấn đề, với những kết quả đáng khích lệ, mặc dầu còn có nhiều thiếu sót đáng tiếc.

Dựa trên những phân tích vừa kể của Đại Hội, cũng như dưới ánh sáng của năm 2000 đang tới lúc đó, dĩ nhiên Giáo Hội có những động tác xét mình, nhưng đồng thời cũng cho thấy thái độ yêu thương của Giáo Hội đối với con người. Điều đó đã được ĐTC Gioan Phaolô II nói lên trong Thông Điệp Tertio millenio adveniens, 33-36).

Con đường Giáo Hội còn phải bước đi đã được Công Đồng Vatican II vạch ra trước đó: “Luôn luôn và bất cứ ở đâu, và với quyền tự do đích thực, Giáo Hội có quyền loan giảng đức tin và giảng dạy huấn dụ xã hội của mình, hành xử khỏi bị chướng ngại sứ mạng của mình giữa các con người và có quyền đưa ra phán đoán luân lý của mình, cả những gì thuộc về lãnh vực chính trị, khi điều đó được các quyền căn bản của con người và sự cứu rỗi các linh hồn đòi hỏi” (Gaudium et spes, 76).

Nói tóm gọn, về phương diện mục vụ, phận vụ của Giáo Hội là một phận vụ song đôi: tức là“loan bao” và “tố cáo”, đó là những gì đã được Thánh Bộ Công Lý và Hoà Bình dặn dò, được công bố trong văn bản năm 1975, dưới tựa đề La Chiesa e diritti dell’uomo (Giáo Hội và các quyền của con người, 70-90).

Giáo Hội đã nhận được sứ mạng rao giảng sứ điệp cứu rỗi, tình yêu và hy vọng cho tất cả mọi người và trong mọi hoàn cảnh. Sứ mạng đó cũng phải được thể hiện ngay cả trong những nghịch cảnh đang vây quanh, bởi vì chính Giáo Hội có khả năng định hướng và nâng đỡ con ngườitrong cuộc hành trình của họ hướng về cùng đích thực hiện Nước Thiên Chúa, trong tinh thần mong đợi thời cánh chung, chía khóa để hiểu được thái độ dấn thân chuyên cần của người Kitô hữu và phục vụ con người.

Giúp đỡ các nạn nhân với tất cả những phương tiện mình có được,
- Chia sẻ các nỗi đau khổ bằng sự hiện diện liên đới,
- Đẩy lui những cơn cám dỗ khiến con người tuyệt vọng phải dùng vũ lực.

Đó là những khó khăn của Giáo Hội trong lãnh vực các quyền của con người, trong việc cộng tác cả với những tôn giáo khác và những người thành tâm thiện chí, theo lời huấn dạy của Công đồng Vatican II.

Trên một bình diện khác, Giáo Hội không bao giờ mệt mỏi gợi ý, hướng dẫn các chuyển hoá cấu trúc có khả năng tác động trên những nguyên cớ sâu đậm về việc vi phạm các quyền của con người.

Giáo Hội cống hiến cho người tín hữu Chúa Kitô có trách nhiệm trong lãnh vực chính trị những trợ lực có liên quan đến huấn dụ xã hội, để nhờ đó sự chuyên cần dấn thân chính trị của họ được nuôi dưỡng.

Mặc cho đôi khi chúng ta có cảm tưởng mệt mỏi về các hoạt động nhằm đem lại lợi ích cho nhân quyền, tuy nhiên cần nhận biết như ĐTC Gioan Phaolô II rằng động tác chyên cần dấn thân cho nhân quyền đó là phương diện thiết yếu trong sứ mạng mục vụ của Giáo Hội.

 

TS. Nguyễn Học Tập

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Xin gửi bài này đặc biệt đến các Bà Mẹ trong Hội các Bà Mẹ Công Giáo mà Thánh Nữ Monica là Thánh Bổn Mạng, nhất là các Bà Mẹ đang đau khổ trong nước mắt để cầu nguyện cho chồng và cho con.../25 Tháng Tám 2012(Xem: 8569) Lm. Anphong Trần Đức Phương - Tinmungnet /
Phan Tấn Thành Dẫn nhập Trong các tín biểu, lời tuyên xưng về Giáo hội (Ecclesia) thường được kèm theo vài tính từ, với con số thay đổi. Tín biểu Epistula Apostolorum (khoảng năm 170) chỉ gồm năm mệnh đề, và mệnh đề thứ bốn là: “et in sanctam Ecclesiam” (Denz-Sch 1). “Thánh thiện” là đặc điểm cổ nhất, nói lên sự thuộc về Thiên Chúa. Trong “Tín biểu các thánh tông đồ”, ngoài “sancta” khi thêm “catholica” (sanctam Ecclesiam catholicam); bên Đông phương, tín biểu của Cyrillô Giêrusalem (khoảng năm 348) viết «una santa Chiesa catholica» (Denz-Sch 41) và của Epiphaniô năm 374 “una sola sancta Ecclesia catholica et apostolica” (Denz-Sch 42), đưa đến công thức của công đồng Constantinopolis năm 381 « unam sanctam catholicam et apostolicam Ecclesiam». Trong lịch sử thần học, đã có những quan niệm khác nhau về bản chất của bốn đặc tính này cũng như công dụng của chúng.
Nhiều sách về Đức Mẹ đã được các học giả Tin lành viết, nhiều cuốn cổ vũ người Tin lành nhìn sát hơn vào Đức Mẹ. Nhiều câu chuyện về các Phật tử và những người ngoài Công giáo đã đến viếng Đền Đức Mẹ Lộ Đức. Mặt khác, các tín đồ Hồi giáo cũng rất tôn trọng Đức Mẹ. Thật vậy, Đức Mẹ được nói đến nhiều lần trong kinh Koran, sách thánh của Hồi giáo, nhiều hơn cả trong Kinh thánh!/17 Tháng Bảy 2014 (Xem: 4787) /
NHỮNG SAI PHẠM CỦA SỨ ĐIỆP TỪ TRỜI 5. Các vấn đề liên hệ đến Hội Thánh. ▶5.1. Chối bỏ Huấn quyền của Hội Thánh. *SỨ ĐIỆP 06-04-2011. "...không một ai trong các con xứng đáng để phán xét hoặc tra xét về người khác. Không ai có quyền hạn hoặc hiểu biết thiêng liêng để đưa ra bất cứ sự đánh giá nào về đạo đức nơi người khác" NHẬN ĐỊNH. Nói như thế bà Maria Divine Mercy rõ ràng đã phủ nhận Huấn quyền của Hội Thánh. ▶5.2. Phủ nhận vai trò của Chúa Thánh Thần trong Hội Thánh. *SỨ ĐIỆP 12-04-2012. "Cơ mật viện Hồng Y bầu Giáo hoàng mới là những người theo bè Tam điểm, là tổ chức độc ác của Satan." NHẬN ĐỊNH. Rõ ràng bà Maria Divine Mercy không tin rằng Thánh Thần của Đức Kitô vẫn đang hiện diện và hoạt động trong Hội Thánh, không ngừng hướng dẫn Hội Thánh đạt đến chân lý toàn vẹn của Đức Kitô.
Nguồn gốc của mọi thiên chức linh mục Chủ đề linh mục là đề tài rất được quan tâm và mang tính thời sự trong thế kỷ qua. Công Đồng Vaticanô II đã dành trọn một tài liệu cho chủ đề này với sắc lệnh Presbyterorum Ordinis; năm 1992, thánh Gioan Phaolô II đã gửi tới toàn thể Hội Thánh tông huấn hậu thượng hội đồng Pastores Dabo Vobis, về việc huấn luyện các linh mục trong bối cảnh hiện nay; tiếp đến, khi công bố năm thánh linh mục 2009-2010, Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI đã phác thảo cách vắn gọn nhưng rất sâu sắc dung mạo linh mục dưới ánh sáng cuộc đời của Cha Sở xứ Ars. Cùng với đó là vô số những suy tư của nhiều tác giả trên thế giới được thực hiện và nhiều cuốn sách viết về chân dung và sứ vụ của linh mục qua dòng thời gian, trong đó rất nhiều tác phẩm có giá trị.
Trải qua lịch sử, Chúa nhật sau lễ Phục sinh đã được gọi bằng nhiều danh xưng khác nhau: Chúa nhật tám ngày sau lễ Phục sinh, Chúa nhật “Áo trắng” (in Albis), bởi vì các tân tòng cởi chiếc áo trắng mà họ đã lãnh nhận khi lãnh các bí tích khai tâm vào đêm Vọng Phục sinh, đánh dấu việc kết thúc giai đoạn huấn giáo khai tâm. Tại vài Giáo hội bên Ấn độ (tục truyền do thánh Tôma tông đồ thành lập), Chúa nhật sau lễ Phục sinh được gọi là chúa nhật thánh Tôma, bởi vì bài Phúc âm thuật lại cuộc gặp gỡ của Người với Chúa Kitô. Gần đây, Đức Gioan Phaolô II muốn thêm một danh xưng nữa, đó là “Chúa nhật kính Lòng Chúa Thương Xót”. Trong Năm Thánh 2000, Đức Gioan Phaolô II đã ấn định rằng trong toàn thể Hội thánh, Chúa nhật sau lễ Phục sinh, ngoài danh hiệu Chúa Nhật Áo trắng, sẽ còn được đặt tên là Chúa nhật kính Lòng Chúa Thương Xót.
Hôm thứ Sáu 12 tháng Hai, 2021, Mùng Một Tết Tân Sửu, Phòng Báo Chí Tòa Thánh đã công bố Sứ điệp Mùa Chay Thánh 2021 của Đức Thánh Cha Phanxicô. Nguyên bản tiếng Ý và các ngôn ngữ khác có thể xem tại đây. Dưới đây là bản dịch toàn văn sang Việt Ngữ. Sứ điệp Mùa Chay 2021 của Đức Thánh Cha Phanxicô “Nào chúng ta lên Giêrusalem” (Mt 20:18) Mùa Chay: Thời gian canh tân Niềm tin, Hy vọng và Tình yêu Anh chị em thân mến, Chúa Giêsu đã mặc khải cho các môn đệ ý nghĩa sâu sắc nhất trong sứ vụ của Người khi loan báo cho họ cuộc khổ nạn, cái chết và sự phục sinh của Người để hoàn thành Thánh ý Chúa Cha. Sau đó, Ngài mời gọi họ chia sẻ sứ mạng này để cứu độ thế giới.
WHĐ (15.2.2021) – Nhân kỷ niệm 60 năm thành lập hàng Giáo phẩm Việt Nam (1961 – 2021), chúng tôi xin được đăng bản dịch chính thức của Hội đồng Giám mục Việt Nam về Tông thư thành lập hàng Giáo phẩm Việt Nam – “Jam In Pontificatus” của Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII gửi hàng Giáo phẩm Việt Nam ngày 14.1.1961. * * *
Thứ Tư Lễ Tro năm nay sẽ rơi vào ngày 17 tháng Hai. Hôm thứ Ba, Vatican đã đưa ra hướng dẫn về cách các linh mục có thể xức tro vào Thứ Tư Lễ Tro trong bối cảnh đại dịch coronavirus. Bộ Phụng Tự và Kỷ Luật Bí Tích đã công bố một chỉ dẫn vào ngày 12 tháng Giêng, hướng dẫn các linh mục đọc công thức xức tro một lần cho tất cả mọi người có mặt, thay vì cho từng người. Nguyên bản tiếng Anh có thể xem tại đây. Dưới đây là bản dịch toàn văn sang Việt Ngữ. Bộ Phụng Tự và Kỷ Luật Bí Tích Công văn số 17/21 Chỉ dẫn cho ngày Thứ Tư Lễ Tro Việc xức tro trong thời gian xảy ra đại dịch Vị Linh mục đọc lời nguyện làm phép tro. Ngài rảy nước thánh lên tro, không nói gì cả. Sau đó, ngài nói với tất cả những người hiện diện chỉ một lần duy nhất công thức như được ghi trong Sách Lễ Rôma, áp dụng công thức ấy cho tất cả mọi người nói chung:
Ngày 1 tháng 10 năm 2010, Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hòa bình đã ra thông báo về án phong chân phước cho ĐHY Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận. Thông báo viết: “Ngày 22 tháng 10 tới, tức 3 năm sau khi loan báo việc mở Án phong chân phước, sẽ có phiên họp trọng thể mở cuộc điều tra ở cấp giáo phận về đời sống, các nhân đức và đời sống thánh thiện của Đấng Đáng Kính, ĐHY Việt Nam Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, người đã là Phó Chủ Tịch Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hòa bình từ năm 1994 và là Chủ tịch Ủy Ban này từ ngày 24 tháng 6 năm 1998 đến ngày 16 tháng 9 năm 2002”. Theo thông báo của Tòa Tổng Giám mục Tổng Giáo phận Tp. Hồ Chí Minh về việc điều tra án phong chân phước và phong thánh cho Đức Cố Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, do Đức Hồng Y GB Phạm Minh Mẫn ký ngày 1 tháng 1 năm 2012, chúng ta cùng tìm hiểu đôi nét về cuộc đời của Đấng Đáng Kính, Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận.
Bảo Trợ