Ao Quê !

17 Tháng Tám 20145:04 SA(Xem: 3491)

Cái ao làng ngoài đầu ngõ nhà tôi rộng mênh mang như . . .biển trong mắt cậu bé mười tuổi gày gò “yểu tướng” lúc nào cũng ngơ ngác mở to nhìn “trần gian muôn mầu”.

Ngày xưa ấy. . . trong con mắt trẻ thơ, ao làng ta rộng quá đi mất. Nhất là mùa mưa- bão- lũ này, sau trận cuồng phong mây đen đặc vần vũ cơn đằng tây “không mưa dây cũng bão giật”, chừng hai tiếng đồng hồ trời như đổ cây nước xuống cõi trần gian lấm láp, nhọc nhằn. Nước xô cống rãnh, nước ngập đường làng, nước tràn bờ ao. Bờ ao ba bề lũy tre dầm chân trong nước ướt lướt thướt, dào dạt gió. Cá ao cá đồng cá đầm cá sông gặp nhau ở tứ bề bốn bên nước nổi. Thế là. . . hòa cả làng!

 blank

Cái ao làng ngoài đầu ngõ nhà tôi rộng mênh mang như . . .biển trong mắt cậu bé mười tuổi gày gò “yểu tướng” lúc nào cũng ngơ ngác mở to nhìn “trần gian muôn mầu”.

Mưa vừa tạnh, còn rơi rớt những hạt cuối cùng của vạt mây mưa mỏng chưa trôi qua, lũ trẻ con trong xóm đã đổ xô ra ngoài đường làng lát gạch nghiêng chạy quanh co ra tận cái giếng rất cổ ngoài cánh trũng giữa đồng không mông quạnh. Đứa đi câu, đi bắt cá rô ngược nước cống rãnh, đứa cầm vỉ ruồi đi “đánh” châu chấu, đi kéo vó tôm, đứa dắt trâu ra đồng. Đâu đâu cũng thấy lao xao tiếng trẻ tuổi choai choai mười hai mười ba cười đùa.

Đứng trên cầu ao, nhẹ nhàng với tay là được hưởng cái thú bắt chuồn chuồn ớt đỏ tía đậu cọc rào, bắt chuồn chuồn chúa đậu cọc bè rau muống, rau rút tươi xanh mỡ màng, bắt chuồn chuồn kim bay là là mặt nước dập dềnh gợn sóng. Trò bắt chuồn chuồn là y như rằng thế nào cũng có đứa ở đâu chạy đến trêu trọc hát”toáng” lên: “Chuồn chuồn có cánh thì bay- Có thằng cu tí bắt mày đem chôn!”. Chuồn chuồn thấy động bay liệng mặt ao, lũ trẻ vẽ chuyện cãi nhau inh ỏi. Người đời “đố ai tìm thấy cái tổ con chuồn chuồn” !.

 blank


Mà lạ thật, cái giống côn trùng biết bay ấy dấu kín sào huyệt đến mức không ai hình dưng được cái tổ của nó hình thù ra sao, làm bằng “chất liệu” gì, bám víu vào đâu. Sự bí ẩn của tổ con chuồn quả là đáng được người đời ám chỉ chuyện trai gái gió giăng thường tình phải “lai vô ảnh khứ vô hình”. Còn lũ trẻ tinh quái nhất cũng chả biết “nó” ở nơi nào, mà trước cơn mưa, sau trận mưa, chỉ thấy cái giống côn trùng này đổ ra bay liệng nhởn nhơ phơi phới lắm thế :”Chuồn chuồn bay thấp thì mưa- bay cao thì nắng bay vừa thì râm. . .”

Mỗi khi nhớ đến cái ao làng xa xưa. . . cổ tích, tôi tưởng thấy bà nội tôi hiện hình trong ký ức đang kéo tay thằng cháu đích tôn xuống dộc ao cuối ngõ tắm mát chiều hè. Bà tôi dùng cái gáo dừa có cán tre vục từng gáo nước ao dội lên đầu lên cổ lên lưng tôi rồi mới cúi xuống dội lên tấm lưng gầy gò xương xẩu của mình, cái yếm nâu cũ sờn sũng nước rũ xuống tong teo.

Bà tôi gọi tắm như thế là “tắm vớt”, vớt từng bát nước lên người. Bà tôi còn nhẩn nha tắm vớt chưa xong, tôi đã chạy lon ton về trước bà. Mẹ tôi đôi khi thường phải gỡ vài ba mụn bèo tấm nhỏ lăn tăn dính trên tai, trên tóc. Không hiểu sao mỗi lần tôi bị mẹ đánh đòn vì trêu trọc đứa em gái hay nghịch ngợm quậy phá gì đó, bà tôi thường chạy ra đỡ đòn cho tôi rồi đưa tôi xuống ao tắm mát; vừa xoa tấm lưng bé bỏng gầy còm vừa nhẹ nhàng an ủi tôi:” Con mẹ mày “đoảng” quá, phát cháu bà hằn cả năm đầu ngón tay vào mông thằng bé thế này, có khổ không.

Nửa thế kỷ đã trôi vèo kể từ ngày tôi mới ngẩn ngơ . . . nhà quê bước vào cổng trường đại học “bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi” (thơ Nguyễn Duy). Và cũng gần như mất dấu luôn từ Việt cổ “đoảng” là xấu tính, xấu nết, nay người cao tuổi quê tôi cũng chẳng mấy ai dùng. Nghĩ lan man, “đoảng” có thể là biến âm của “loảng” “loãng” ,”đểnh đoảng” là biến âm của lểnh loảng, lễnh loãng, là lõng bõng nước nhạt, là dở, là chán ngán chăng?

Người Việt mình có câu ngạn ngữ “Khôn ăn cái dại ăn nước” xuất xứ từ đó ,hẳn thế !

Ao quê đầu ngõ xưa xửa xừa xưa chẳng còn. Lấp đầy khoảng trống “cái gương trời .nhà quê” ấy là dăm bẩy gia đình tòa ngang dẫy dọc, cây sung lớn ngả thân xuống sát mặt nước câu ao ngày xưa. . . “Cậu bé loắt choắt” là tôi không biết bao nhiêu buổi sáng ngồi câu cá rô cá riếc, không biết bao nhiêu buổi tối ngồi câu cá trê đi ăn đêm, biến mất từ hồi người ta đốn hết cây cổ để chủ yếu “giải phóng mặt bằng”, nắn đường, phá bờ đi lên sản xuất “nhớn” cả huyện là một pháo đài, pháo đài cấp huyện!

Đôi khi “nó” vẫn tự dưng hiện về tỏa bóng trong vài ba “giấc mộng đêm hè” người cao tuổi quá nửa đời ” kết dính” với văn chương chữ nghĩa, giấc ngủ thường không sâu, hay chập chờn mộng mị

Đi đến nhiều làng quê vùng châu thổ sông Hồng thời đất chưa biến thành vàng, thời “nơi ta ở chỉ là nơi đất ở – nơi ta đi đất đã hóa tâm hồn” (Chế Lan Viên), thấy ao quê mỗi nơi mang một sắc thái riêng. Ví như ao quê vườn Bùi vùng chiêm trũng Hà Nam quê cụ Tam Nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến đã hóa “tâm hồn Việt muôn thuở” trong ba bài thơ thu “thu vịnh, thu điếu, thu ẩm” nổi tiếng của cụ chẳng hạn, là “đặt” khung cảnh làng. . . xưa “ngõ trúc quanh co khách vắng teo” “ngõ tối đêm sâu đóm lập lòe”.

Còn làng tôi vùng đất cổ Kinh Bắc xưa được tiền nhân nhiều đời kiến tạo theo hình răng bừa. Các ngõ song song chạy thẳng ra trục đường làng lát gạch nghiêng, trong phạm vi hai hay ba ngõ thì một nửa số hộ làm nhà hướng nam đổ ra ao phía nam, một nửa quay mặt làm nhà hướng bắc đổ xuống dộc ao phía bắc, mỗi ao rộng chừng bốn, năm sào bắc bộ.

Hệ thống dăm bẩy chục cái ao nối liền nhau chạy dài hàng cây số như lá phổi thiên tạo và nhân tạo góp phần hữu ích bậc nhất giữ môi sinh trong sạch cho người. . . nhà quê độc canh cây lúa, hai bên tiền hậu kề nhau. Nét chung nhất của cảnh sắc ao quê làng tôi cũng như vùng đồng bằng sông Hồng rất đặc trưng Hưng Yên, Hải Dương,Thái Bình, Nam Định là quanh năm mặt nước dập dềnh bèo tấm, bèo cái, ở thời nhà nhà nuôi lợn “định mức”.

Đến thời hợp tác hóa phân xanh phân đỏ, lại thêm giống bèo ong không biết “nhập” từ đâu, sống lẫn đám lục bình trôi dạt về làng sau mỗi mùa nước nổi. Ao quê đi liền, cặp đôi với bèo, loài thực vật thủy sinh “được hình tượng hóa” thân phận bọt bèo hèn mọn của người nhà quê xưa thấp cổ bé miệng.

Ngoài cầu ao một tầm tay với là mấy bè rau muống, rau rút. Nhìn quanh ao xa xa đôi ba bến nước có bắc cầu tre hoặc ván gỗ là chỗ “sinh hoạt cộng đồng” của dân làng, nào chao chân, rửa rau,vo gạo, nào tắm giặt chung. Vui nhất, ngộ nhất là ngày hè nóng nực mấy ông già “cộng sinh” đám trẻ nít “tồng ngồng” bơi lội khua khoắng dưới bóng mát gốc sung, gốc muỗm cổ thụ, xem như bến nước “không người”..

Trên cái thân cây sung võng xuống sát mặt nước ao , lũ trẻ chúng tôi có khi ngồi lì cả buổi để câu cá rô mùa hè, cá riếc mùa thu. Sau những trận mưa “thối đất thối cỏ”, lũ cá rô đổ xô vào luồng nước chảy xối xả từ đường nước cống rãnh đổ xuống để tìm thức ăn, dùng giun đất làm mồi câu “rất trúng”. Cá rô có con to bằng bàn tay trẻ mười ba mười bốn là giống rất tạp ăn. Chúng kéo gục phao câu lông gà chìm nghỉm chạy dưới mặt nước, chỉ có vậy thôi mà thời trẻ con tôi bản tính nhát cũng thấy hồi hộp, trống ngực đập thình thịch.

Giật mạnh cần câu, cá giẫy nhũng nhẵng cuối dây câu làm bằng chỉ cước, khiến đầu cành trúc uốn cong theo. Giây phút ấy, trẻ con nhà quê bắt được thú vui hồn nhiên, sướng không thể tả. Mùa thu đến, gió heo may lướt nhẹ mặt ao làm gợn sóng “ao thu lạnh lẽo nước trong veo” như thơ Thu Điếu nổi tiếng của cụ Nguyễn Khuyến. Đám trẻ rang cám làm thính thơm như làm “nem quê” bằng thịt sống, nhào với nước, ném xuống ao nhử mồi cá riếc.

Chưa có thú vui nào thơ trẻ hồn hậu như thú vui câu cá riếc mùa thu. Cá riếc không ăn tạp như cá rô, lại rất nhạy cảm với mọi động thái cả dưới nước lẫn trên bờ. Câu cá riếc ,chúng tôi quen nói khẽ đi nhẹ. Cá thận trọng đớp mồi rồi kéo phao lông gà lừ lừ đi trên mặt ao.

Kể cả đứa “sát cá” nhất cũng không dám vội vã giật, vì có thể cá đang thăm dò, cắn hờ miếng mồi, chưa nuốt lưỡi câu vào miệng. Để cá kéo xa phao trên mặt nước một chốc, biết chắc cá đã “cắn câu”, giật mạnh cần câu, con cá riếc to như bàn tay trẻ vành môi tứa máu vì lưỡi câu móc vào đang cố sức quẫy cựa, vẩy trắng bạc lấp lánh dưới nắng thu heo may gió lạnh.

Trẻ nhỏ đi câu ,xách giỏ chạy rông khắp dẫy ao làng đâu chỉ vì mớ cá cho mẹ. Ngày xưa dưới nước đầy cá, trên trời đầy chim, con cua con cá con ốc con ếch cùng tôm với tép vốn là món ăn quê nghèo, đâu có thành “đặc sản” khan hiếm gì như thời nay mà quý hóa! Đi câu để được nhởn nhơ ngắm trời ngắm đất, được kết bạn kết bè, được hưởng thú vui hồi hộp khi thấy cái phao lông gà gục xuống lừ lừ trôi trên mặt nước xanh lơ.

Thú vui ấy kéo dài mãi đến thời chúng tôi đã vào đại học. Tôi nhớ hồi năm thứ hai văn khoa học ở Thanh Xuân, có một ngày hè chủ nhật anh bạn đồng môn người Hà Đông rủ tôi về chơi nhà “cho mày xem mặt con em gái tao không đẹp nhưng. . . xinh”. Hai thằng đầu đội trời . . .phơi mặt lộc ngộc vác cần câu đi câu dạo hết cầu ao này đến bờ ao nọ, được mớ cá rô, chả biết “ngượng” là gì!

Ra trường anh bạn ấy “số son” được “tổ chức” xếp về một tòa soạn báo “cao đẳng” nhất nước, viết báo ,viết kịch ,viết phê bình sân khấu có . . . tiếng một thời . Tôi chắc anh chẳng còn nhớ thủa hàn vi, thư sinh bần bạch. Thế rồi đồng môn ” lớp văn ta” cũng thấy na ná như nhau, kẻ trước người sau qua cửa tòa soạn báo này tạp chí nọ nhà xuất bản kia “Chợt một chiều (giật mình) tóc trắng như vôi” !. “Ngồi tựa gốc cây” mà “mộng văn bút” hình như dang dở cả.

Từ thủa chúng mình vác cần câu đi trên bờ sông Nhuệ, dạo đó con sông còn thơ mộng lắm, làm ngoại cảnh cho nhiều bộ phim trữ tình đến giờ đã xa hơn nửa thế kỷ. Nước chảy qua cầu, bóng câu qua cửa. Nhắc nhớ vu vơ kỷ niệm gì thì “người cao tuổi” cũng chỉ thấy đời người ta “khi vui muốn khóc buồn tanh lại cười”. Mà sao cụ Nguyễn Công Trứ còn như tiếc rẻ trăm năm “ba vạn sáu ngàn ngày là mấy” ! Hỏi mấy ai qua cửa thời gian ” bách niên đại nhược mộng” phù trầm !.

Ao quê đã mất. Hoặc nếu không mất thì cũng biến dạng quá nhiều kể từ thời ở nước mình đất cũng lên cơn sốt như người ,bị . . .vàng , bị ngoại tệ mạnh, bị đủ loại đại ca đại gia đen có đỏ có kích động ,giật đùng đùng ! . Hỏi có nơi đâu làng quê Việt ngàn đời còn “chồng khít” được với ba bài thơ thu của cụ Nguyễn Khuyến để các thầy các cô giảng văn cho trò có nguồn cảm hứng từ “ao thu lạnh lẽo nước trong veo” cảm hứng đi. Từ “nước biếc trông như tầng khói phủ” cảm hứng lại, khỏi phải “dạy văn chay” phản thực tế khô như ngói. Chả còn gió heo may se lạnh, chả con hai dãy ao như thời . . .xưa.

Làng cổ to vật vã mà chỉ còn một “mảnh” ao đình tạm gọi là ao, không thông thủy nên tứ thời ao tù nước đọng, làm sao hình dung được giữa trời nước bao la có “một chiếc thuyền câu bé tẻo teo” chơi vơi cùng “lá vàng trước gió khẽ đưa vèo” ? Mà tuổi trẻ đời người cũng đã phôi pha xa xưa như . . .chuyện ngày xưa.

Ai lỡ trách người già “nhân thất thập tâm sinh ấu tuế” đôi khi ngu ngơ như trẻ nít, ưa hoài cổ, hay hoài niệm. Và nhớ thương dĩ vãng. Dù rằng cái dĩ vãng mấy mươi năm ấy hết thời đạn bom chết chóc lại đến thời hậu chiến khốn đốn nhọc nhằn buồn nhiều hơn vui, khổ đau nhiều hơn hạnh phúc. Bỗng thấy hình ảnh người xưa ông lão vườn Bùi câu cá mùa thu, uống rượu mùa thu ngửa mặt nhìn trời tự cảm “da trời ai nhuộm mà xanh ngắt- mắt lão không vầy cũng đỏ hoe”!

Không làm sao quên được ngày xưa . . .những vùng trời cổ tích; dù đấy chỉ là một khoảng trống ao quê

 

Đào Dục Tú
Nguon http://haingoaiphiemdam.net

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Edward J. Barr là Giáo sư Đại Học, có bằng Cao học Thần học tại Học viện Thánh Augustinô. Ông cũng là một nhà văn Công Giáo. Văn của ông chuyên về thể loại văn chương châm biếm, chua chát. Ông cho rằng đó có thể là kết quả của những tháng ngày cận kề cái chết khi còn là một Thủy Quân Lục Chiến, và sau đó là một sĩ quan tình báo. Xin giới thiệu với quý vị và anh chị em một bài văn trào phúng mới nhất của ông. Nguyên bản tiếng Anh có thể xem tại đây. Dưới đây là bản dịch toàn văn sang Việt Ngữ. The Devil Came to Mass this weekend
🌹 Quà sinh nhật Trong năm đứa con của má, chị nghèo nhất. Chồng mất sớm, con đang tuổi ăn học. Gần tới lễ mừng thọ 70 tuổi của má, cả nhà họp bàn xem nên chọn nhà hàng nào, bao nhiêu bàn, mời bao nhiêu người. Chị lặng lẽ đến bên má : "Má ơi, má thèm gì, để con nấu má ăn?" Chưa tan tiệc, Má về sớm, nói vì mệt. Ai cũng chặc lưỡi : "Sao má chẳng ăn gì?" Về nhà, mọi người tìm má. Dưới bếp, má đang ăn cơm với tô canh chua lá me và đĩa cá bống kho tiêu chị mang đến... 🌹 Con Nuôi Thầy giáo lớp 1 thảo luận với lớp về một bức hình chụp, có một cậu bé màu tóc khác mọi người trong gia đình. Một học sinh cho rằng cậu bé trong hình chính là con nuôi. Một cô bé nói : - Mình biết tất cả về con nuôi đấy. Một học sinh khác hỏi : - Thế con nuôi là gì ? Cô bé trả lời: - Con nuôi nghĩa là mình lớn lên từ trong tim mẹ mình chứ không phải từ trong bụng. 🌹
Đám cưới dài dằng dặc trên con đường thấp lè tè phủ bóng mát từ những hàng cây cao ở bờ dốc các trang trại. Đôi tân hôn đi đầu rồi đến cha mẹ, khách mời và người nghèo trong vùng, cuối cùng là bọn trẻ con. Chúng lượn quanh đám rước như những con ruồi, hoặc chen vào giữa hàng hay leo lên cành cây để nhìn cho rõ. Chú rể là một anh chàng bảnh trai tên là Jean Patu, chủ trại giàu nhất vùng. Nhưng trước hết đó là một anh thợ săn cuồng nhiệt, say mê săn bắn đến độ sẵn sàng tiêu những khoản tiền lớn cho chó săn, toán gác, cho chồn sương và súng ống mà không cần tính toán. Cô dâu, Rosalie Roussel, đã được khá nhiều đám ở các vùng lân cận ngấp nghé dạm hỏi vì họ thấy cô xinh đẹp, và họ biết cô có của hồi môn đáng kể, nhưng cô chỉ chọn Patu, có lẽ vì anh nầy được lòng cô hơn, hay đúng hơn, theo thói suy tính hơn thiệt của người Normandie, là vì anh có nhiều tiền.
Mùa Giáng Sinh về, có lẽ tâm hồn ai cũng rộn lên một niêm vui nào đó trong bầu khí cuối năm, khi tiết trời thay đổi… Xin góp một vài câu chuyện sưu tầm về mùa Giáng Sinh làm món quà nhỏ cho quý bạn đọc… Chúc các bạn tìm được niềm vui Giáng Sinh thật sự trong tâm hồn mình…. Có một cô bé mồ côi cha sống với mẹ tại một vùng quê hẻo lánh. /post 22 Tháng Mười Hai 2017(Xem: 964)/
Bình sinh, cho đến bây giờ đã sang bên kia dốc cuộc đời, tôi vẫn thường tự cho mình là kẻ không đến nỗi phải xấu hổ với danh phận của một thằng đàn ông , một thương gia . Ấy vậy mà cuộc đời phiêu bạt để bỗng có một ngày đẹp trời, trên một phiên chợ vùng cao, tôi bị choáng váng vì tự thấy xấu hổ với mình khi ngồi nghe trộm câu chuyện của hai người đàn ông xa lạ. Bên một chiếc bàn gỗ mốc thếch, tôi ngồi uống rượu với một người bạn. Anh này thạo nhiều thứ tiếng dân tộc vì đã một thời chuyên đi thu mua nấm rừng, thảo quả trong các bản làng xuất sang Trung Quốc. Bàn bên cạnh có hai người đàn ông mặc quần áo chàm vừa nốc từng bát rượu đầy vừa chằm chằm nhìn vào mặt nhau. Ngồi né ra xa một chút là một người phụ nữ váy áo thêu xanh đỏ, khắp người đeo không biết bao nhiêu vòng bạc lủng lẳng.
Hoa Dã quỳ gắn với một câu chuyện truyền thuyết cảm động về tình yêu đôi lứa. Chuyện kể rằng từ xa xưa có một bộ tộc Lasiêng sinh sống ở vùng Tây nguyên xa xôi. Trong bộ tộc có nàng H’Linh xinh đẹp yêu tha thiết chàng K’Lang, ngày ngày K’Lang vào rừng săn bắn, hái lượm, còn H’Linh ở nhà se sợi dệt tấm chăn kiệu chồng (theo tục lệ của bộ tộc thì con gái trước khi lấy chồng phải dệt một tấm chăn thật đẹp để mang về nhà chồng), tối về họ lại quây quần đốt lửa và múa hát cùng dân làng. Cuộc sống vui vẻ, hạnh phúc của họ cứ thế trôi qua và chờ đến ngày trở thành chồng vợ. Nhưng tình yêu giữa hai người lại không được suôn sẻ như mong đợi, bởi trong bộ tộc có chàng LaRihn là con trai của người tộc trưởng cũng ngày đêm thương trộm, nhớ thầm H’Linh, nhưng không được nàng đáp lại. LaRihn rất hờn ghen.
Mụ Chét tất tả đi về phía Ủy Ban Xã. Hôm nay là ngày mụ được vinh dự mời lên để nhận quà. Món quà mà chỉ có gia đình liệt sĩ mới nhận được. Mấy tháng trước làng bị lụt nặng. Những cơn mưa dầm liên tiếp cả tuần, gió rít từng cơn khiến trời lạnh cóng hơn nhiều hơn năm trước. Nước từ con sông dâng lên mỗi lúc một cao. Nhà mụ chồng ghế, chồng bàn lên giường để tránh lụt. Cuối cùng mụ được đưa lên ngồi lên khu đĩ nhà, lụt mới từ từ rút lui. Nước rút, căn nhà như ruộng mới bừa xong, dơ nhớp không chịu được. Mọi thứ đều hư hại. Lúa không có bao nhiêu lại bị ngâm nước lên mộng hết phân nửa. Sắn trong nương bới không kịp cũng bị hư hết một mớ. Nhà đã nghèo lại bị tai trời, rau ngoài vườn thúi cả, gạo ẩm độn với sắn đã chạy chỉ vàng khè, cơm ăn vào nó cứ say say thế nào.
Năm 2016, tôi đến Huế. Đấy là lần đầu tiên tôi đến thăm lăng Gia Long. Tôi đã đi Huế rất nhiều, đã đi lăng Tự Đức, Khải Định vài lần. Nhưng lăng Gia Long hầu như tôi không hề đặt chân đến, chỉ vì … tôi không biết. Ngài được mặc định là nhân vật phản diện trong sách giáo khoa, trong những tài liệu chính thống, và vì thế, lăng của ngài cũng bị đưa vào quên lãng. Dịp đó là lần đầu tiên tôi đưa bạn gái ra Huế chơi. Trong vé tham quan các điểm di tích lăng tẩm, thì chỉ có lăng Minh Mạng, Tự Đức, Khải Định và thăm Đại Nội, không có lăng Gia Long. Chiều đó, tôi chở bạn gái đi thăm lăng Minh Mạng. Nhưng không hiểu sao tôi chạy lố đến một cây cầu mới xây và có biển hiệu chỉ dẫn "Lăng Gia Long". Vừa lạc, vừa tìm mãi chưa ra lăng Minh Mạng mà thấy biển chỉ lăng Gia Long.
1. Lương tâm . Con ốm, nhập viện. Làm thủ tục, bác sĩ mặt lạnh tanh. Biết ý, tay mẹ run run dúi trăm nghìn vào túi “lương y”… Bác sĩ thân mật: “Nằm giường này cháu, đừng lo có bác!”. Biết đâu mẹ đang xỉu dần vì bán máu cho con. Lương tâm? 2. Xứ lạ quê người . Qua xứ người được vài năm thì ông anh họ của tôi bắt đầu gởi tiền về, giục các con lo học tiếng Anh và vi tính đẻ mai mốt qua đó có thể dễ dàng kiếm việc làm. Hôm vừa rồi, anh gọi điện về thăm gia đình chúng tôi, tôi hỏi anh có địa chỉ eMail chưa để tiện liên lạc, giọng anh chùng hẳn xuống: ”Suốt ngày tích- cực lao-ôộng, làm thêm "over time", đâu rảnh để chơi internet!" 3. Chung Riêng. Chung một con ngõ hẹp, hai nhà chung một vách ngăn. Hai đứa chơi thân từ nhỏ, chung trường chung lớp, ngồi chung bàn, đi về chung lối. Chơi chung trò chơi trẻ nhỏ, cùng khóc cùng cười, chung cả số lần bị đánh đòn do hai đứa mãi chơi. Đi qua tuổi thơ với chung những kỷ niệm rồi cùng lớn lên… Uống chung một ly rượi mừng, chụp chung t
Phòng phi cơ lúc ấy gần như hoàn toàn yên tĩnh. Mọi người như đã đắm mình trong một giấc ngủ êm đềm. Một vài tiếng cựa mình của hành khách. Mấy tiếng mút tay chùn chụt đều đều của vài chú bé. Tiếng nhac vẫn nhẹ nhẹ loãng ra. Tất cả đều nương nhẹ, như không muốn làm tan mất làn không khí tĩnh mịch./post 20 Tháng Giêng 2013(Xem: 1690) Huyền Nga - TỦ SÁCH TUỔI HOA /
Bảo Trợ