Sự Ứng Xử Linh Hoạt Của Thiết Chế Giáo Dục Mầm Non Tư Thục Đối Với Cuộc Sống Công Nhân

29 Tháng Sáu 20143:31 CH(Xem: 1616)
SỰ ỨNG XỬ LINH HOẠT CỦA THIẾT CHẾ GIÁO DỤC MẦM NON TƯ
THỤC ĐỐI VỚI CUỘC SỐNG CÔNG NHÂN
Phan Thị Kim Liên

Trong lịch sử, giai cấp công nhân từng được trao sứ mệnh tiên phong và
nòng cốt trong đấu tranh giai cấp, giải phóng dân tộc. Ngày nay, khi đất nước bước
vào nền kinh tế thị trường, việc mở cửa ngoại giao với các nền kinh tế khác trên
thế giới đã làm thay đổi sứ mệnh lịch sử ấy, sứ mệnh lịch sử của người công nhân
được thay thế bằng một vai trò mới hơn, vai trò của lực lượng sản xuất, vai trò của
những người đóng góp vào thị trường một khối lượng hàng hóa khổng lồ, mang lại
cho nền kinh tế đất nước hàng trăm tỉ đồng mỗi năm. Vai trò then chốt đó được
khẳng định sau hơn 25 năm đất nước bước vào thời kì đổi mới. Thế nhưng, nhìn
vào chất lượng cuộc sống của người công nhân hiện nay cho thấy sự bất tương
xứng giữa vai trò và sự thụ hưởng khi những đóng góp đáng kể của họ cho sự phát
triển của nhà máy, cho sự tăng trưởng kinh tế của địa phương nhưng đổi lại sự thụ
hưởng đời sống vật chất và văn hóa tinh thần lại rất nghèo nàn, chính vì thế khi nói
đến lực lượng công nhân người ta thường nói đến một lớp nghèo của thành thị.
Thật vậy, hành trang mà những người công nhân tứ phương mang đến đất
khách Bình Dương chỉ là sức lao động để làm vốn, để kiến tạo ra đồng tiền; do đó,
mức thu nhập các doanh nghiệp chi trả cho họ cũng chỉ là mức thu nhập của cấp
bậc lao động phổ thông và có chăng là nhỉnh hơn một chút ở những công nhân có
tay nghề. Trong khi đó, mức chi phí chi trả cho các khoản sinh hoạt tại nơi tạm trú
mới là một khoản không nhỏ: phí nhà ở, phí điện – nước, phí ăn uống, …để tiết
kiệm được một khoản tiền gởi về quê hoặc tích lũy cho bản thân không phải là điều
dễ và điều này càng trở nên khó khăn hơn đối với những công nhân đã lập gia đìnH
đời của một thành viên mới lại tăng thêm gánh nặng chi phí sinh hoạt khi mà nhu
cầu nuôi dưỡng và chăm sóc một đứa trẻ gần như bằng thậm chí là hơn so với chi
phí sinh hoạt của một người trưởng thành. Một trong những vấn đề khó tháo gỡ
cho các gia đình công nhân hiện nay là cân nhắc việc gởi con ở nhà trẻ, ở trường
mầm non hay gởi con về quê cho họ hàng chăm sóc hoặc là nhờ họ hàng ở quê vào
chăm sóc cho con cái? Bởi vì sau thời kỳ thai sản, người nữ công nhân phải trở lại
làm việc mà con trẻ lại còn quá nhỏ, nếu người nữ nghỉ việc để chăm sóc con thì
lúc này lại tạo thêm gánh nặng cho người chồng – cũng là công nhân – khi phải
cùng lúc nuôi hai người; nhưng nếu người nữ đi làm trở lại thì sẽ không có ai để
chăm sóc cho con trẻ. Vậy, trong hoàn cảnh đó, họ phải làm sao để con cái được
chăm sóc tốt mà họ vẫn có thể yên tâm để làm việc? Đó là một sự lựa chọn, cân
nhắc kỹ lưỡng dựa trên sự tính toán về chi phí và lợi ích ở từng hoàn cảnh cụ thể
của từng cá nhân. Một số hộ công nhân lựa chọn gởi con về quê cho ông bà
nội/ngoại chăm sóc, số khác lại nhờ người thân ở quê vào trông sóc con và cũng
một tỉ lệ đáng kể hiện đang gởi con tại các nhóm trẻ gia đình, các nhà trẻ và các
trường mẫu giáo tư thục gọi chung là các cơ sở giáo dục mầm non.
Xuất phát từ nhu cầu thực tế của công nhân, hệ thống giáo dục mầm non tư
thục bao gồm: các nhóm trẻ gia đình, các nhà trẻ và trường mẫu giáo mọc lên san
sát như nấm sau mưa trong các khu dân cư đông đúc, đặc biệt là tại các khu dân cư
sát cạnh khu công nghiệp. Chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu định lượng và định
tính tại bốn huyện/thị: Dĩ An, Thuận An, Bến Cát và Tân Uyên; mỗi huyện/thị
chọn 200 đơn vị mẫu để khảo sát định lượng và tiến hành quan sát tham dự có ghi
chép và thực hiện 2 cuộc thảo luận nhóm/địa bàn. Trong phạm vi bài viết này,
chúng tôi gợi mở hướng đánh giá sự ứng xử linh hoạt của hệ thống giáo dục mầm
non tư thục trong việc đáp ứng nhu cầu của người công nhân. Bàn luận về đời sống
công nhân có khá nhiều nghiên cứu đã và đang được tiến hành dưới nhiều góc độ
tiếp cận khác nhau, điển hình là một số bài viết, công trình nghiên cứu: Phạm
Quỳnh Hương với “Người nhập cư đô thị và an sinh xã hội”(2006); Tôn Thiện
Chiếu với “Vấn đề an sinh xã hội đối với công nhân, lao động” (2006); Lê Bạch
Dương, Khuất Thu Hồng với “Di dân và bảo trợ xã hội ở Việt Nam trong thời kỳ
quá độ sang kinh tế thị trường” (2008); Đời sống văn hóa đô thị và khu công
nghiệp Việt Nam, GS.TS Đình Quang (chủ biên), NXB văn hóa – thông tin với
thực trạng văn hóa – xã hội khu công nghiệp tỉnh Bình Dương, năm 2005; Phạm
Đình Nghiệm, Đời sống văn hóa tinh thần của công nhân ở các khu chế xuất, khu
công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh (2004); Những yếu tố ảnh hưởng đến việc thụ
hưởng an sinh xã hội của hộ gia đình công nhân di dân tại KCN Sóng Thần hiện
nay, Đỗ Hồng Quân, Luận văn Thạc sĩ (2010). Những bài viết, công trình nghiên
cứu trên xoay quanh thực trạng những rủi ro mà người công nhân sẽ phải đối mặt
trong quá trình di dân đến các khu công nghiệp và một trong những hệ lụy đó là
liên quan đến vấn đề giáo dục, y tế, nhà ở và bảo trợ xã hội.
Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi trình bày các vấn đề liên quan đến hệ
thống giáo dục mầm non tư thục trong việc đáp ứng nhu cầu của người công nhân.
Hệ thống giáo dục mầm non phân thành hai cấp bậc: nhà trẻ và mẫu giáo; những
trẻ từ 3 tháng tuổi đến 36 tháng tuổi được tổ chức thành các nhóm trẻ, trẻ từ 3 đến
12 tháng tuổi: 15 trẻ/nhóm, trẻ từ 13 đến 24 tháng tuổi: 20 trẻ/nhóm và trẻ từ 25
đến 36 tháng tuổi: 25 trẻ/nhóm; những trẻ từ 3 tuổi đến 6 tuổi được tổ chức hành
các lớp mẫu giáo, trẻ 3-4 tuổi: 25 trẻ/lớp, 4-5 tuổi: 30 trẻ/lớp và trẻ 5-6 tuổi: 35
trẻ/lớp2

1. Điều kiện và thủ tục nhập học
Để gởi trẻ vào các trường mầm non công lập sẽ phải thỏa mãn một số điều
kiện về giấy tờ cư trú, như trao đổi của một đại diện trường mầm non tư thục trên
địa bàn thị xã Dĩ An:“Phường nào cũng có trường nên bé muốn học ở đây phải có
hộ khẩu, bản sao khai sinh và sổ theo dõi sức khỏe… Có công nhân chuyển đến
đây làm, hồ sơ tạm trú phường Dĩ An trên 6 tháng mình cũng phải nhận, tạo điều
kiện họ công tác tại địa phương” (cô T. – hiệu trường mầm non công lập V.T.S).
Trong khi đó, theo số liệu khảo sát của đề tài chỉ có 1.4% công nhân có sổ hộ khẩu
và 6.1% công nhân có giấy KT3, số đông còn lại sống trên địa bàn với giấy tạm trú
hoặc thẻ tạm trú (86.9%). Với các quy định như vậy, tại các cơ sở mầm non công
lập chỉ thích hợp với đại đa số con em của người dân địa phương. Như vậy, ngay
từ “đầu vào” phần lớn con em công nhân đã bị mất đi quyền được hưởng thụ hệ
thống giáo dục mầm non công lập vì không hợp lệ về điều kiện cư trú so với dân
địa phương. Trong khi đó, nắm bắt được "điểm yếu" của các trường mầm non công
lập, hệ thống mầm non tư thục ra đời và phát triển mạnh với những quy định về
điều kiện và thủ tục nhập học hết sức đơn giản, và cũng từ đây, người công nhân
có thể an tâm gởi con tại các cơ sở này khi các cơ sở này không đặt nặng đến vấn
đề "hộ khẩu" hay "giấy tạm trú trên 6 tháng" của hộ gia đình công nhân. Chính vì
đáp ứng được nguyện vọng của những hộ gia đình nhập cư khi không đòi hỏi khắt
khe các giấy tờ cư trú mà số lượng trẻ được gởi tại các cơ sở mầm non tư thục chủ
yếu là con của các hộ gia đình công nhân.

2. Tuyển sinh linh hoạt
Việc nới rộng chuẩn "đầu vào" đã khiến các cơ sở mầm non tư thục thu hút
một lượng lớn con em công nhân. Theo kết quả khảo sát, trong tổng số 800 đơn vị
mẫu được khảo sát có 4.3% con của công nhân nhập cư đang theo học tại các
trường học tư nhân, 1% học tại các trường học bán công và 0.9% học trường học công lập tại Bình Dương. Những trẻ chưa đến tuổi đến trường có 5.8% trẻ được
gửi tại các “nhóm trẻ gia đình”. Như vậy, có một tỉ lệ rất nhỏ con em công nhân
đang thụ hưởng các dịch vụ giáo dục công lập và hiển nhiên dịch vụ giáo dục tư
thục sẽ được quan tâm và lựa chọn nhiều hơn. Không chỉ tạo tính linh hoạt, dễ
dàng trong điều kiện và thủ tục nhập học, các cơ sở mầm non tư thục còn thực hiện
hình thức tuyển sinh liên tục đó được xem là bước tiến quan trọng trong việc thể
hiện sự thông cảm, thấu hiểu đối với cuộc sống nhiều biến động của người công
nhân.
Nếu như hệ thống giáo dục mầm non công lập thường chỉ tuyển sinh 1
lần/năm vào đầu năm học với một số lượng các cháu trong giới hạn cho phép của
điều kiện cơ sở vật chất của từng cơ sở. Ngược lại, ở các trường mầm non tư thục
thời gian tuyển sinh lại được nới rộng và mang tính chất liên tục, đặc biệt là sau
mỗi dịp tết âm lịch. Các cháu theo học tại các trường mầm non tư thục phần lớn là
con em của công nhân, mà lực lượng công nhân lại là đối tượng thường xuyên biến
động về địa bàn cư trú. Trường mầm non tư thục cũng luôn có những biến động về
sĩ số trẻ theo học, đặc biệt là trước và sau tết âm lịch, vì thời điểm này công nhân
sẽ về quê và sau tết có thể một số công nhân sẽ không vào Bình Dương làm công
ty nữa hoặc cũng có công nhân sau tết chuyển công ty khác để làm việc và theo đó
họ sẽ chuyển đến nơi khác ở kéo theo là việc chấm dứt gởi con ở trường mầm non
này để chuyển đến trường khác. Tình hình biến động số lượng trẻ theo học tại các
trường mầm non tư thục phụ thuộc vào sự biến động của công nhân tại các công ty.
Do đó, nếu so với trường mầm non tư nhân thì trường mầm non công lập ổn định
về số lượng trẻ đang theo học hơn, chính vì vậy, trường mầm non công lập mỗi
năm chỉ tuyển sinh một lần vào đầu năm học và nếu trong suốt năm học sĩ số trẻ
trong lớp biến động thì người ta cũng không tuyển nữa và điều đó cũng không làm
ảnh hưởng nhiều đến nguồn thu của trường vì mọi hoạt động của trường đều có sự
hỗ trợ của nhà nước.
Đó cũng là lý do tại sao sau mỗi dịp tết âm lịch, các trường mầm non tư thục
thường tuyển sinh để bổ sung số lượng các cháu nghỉ học. Lý do thứ hai khiến các
trường mầm non tư thục tuyển sinh liên tục vì số lượng công nhân trên địa bàn rất
đông vì thế các hộ gia đình công nhân luôn luôn có nhu cầu gởi trẻ vào bất cứ thời
điểm nào, chính vì vậy, trẻ có thể nhập trường mọi thời điểm, trong khi đó các
trường mầm non công lập không thể đáp ứng được điều này“Nhận vào quanh năm
chính vì họ di cư rồi đưa con vào đây học thì họ đi lúc nào thì họ đi chứ mình đâu
có biết được, lúc họ làm được vài tháng thì họ về quê thì họ đưa con về thì mình lại
nhận thêm học sinh mới vào cho nên học sinh ra và vào thì nhiều chứ không phải
như trường nhà nước, vì trường mình tự thu tự chi vào cho nên mình phải nhận
học sinh vào để cho cái lượng thu nhập nó đều không để cho nó thiếu hụt nhiều”
(L – giáo viên mầm non tư thục).
Như vậy, có thể thấy nhằm đảm bảo nguồn thu cho cơ sở, việc thường xuyên
tuyển sinh tại hệ thống mầm non tư thục là điều cần thiết.
3. Thời gian giữ trẻ thích hợp
Sự linh hoạt của các trường mầm non tư thục còn thể hiện ở chỗ đáp ứng
nhu cầu thực tế tính chất công việc của công nhân nên đã nhận giữ trẻ ngoài giờ
khi phụ huynh phải tăng ca (sau 17 giờ). Đây là điều mà các trường mầm non công
lập chưa làm được. Cho nên, giả sử người công nhân có đủ điều kiện để gởi con
vào trường mầm non công lập nhưng họ vẫn sẽ lựa chọn loại hình dịch vụ mầm
non tư thục vì điều đó phù hợp với tính chất công việc đặc thù của công nhân,
trong khi nếu gởi trẻ ở trường mầm non công lập thì họ không thể đảm bảo vấn đề
đưa – đón con theo kiểu giờ hành chánh. Không những thế, các trường mầm non tư
thục đều nhận giữ trẻ cả ngày thứ 7, thậm chí là chủ nhật nếu như phụ huynh có
yêu cầu vì ngoài việc tăng ca thường xuyên, công nhân tại các doanh nghiệp vẫn
phải làm việc cho đến hết ngày thứ 7 và đôi khi họ phải làm cả ngày chủ nhật cho
những đơn hàng phải hoàn thành gấp, những lúc này họ đề nghị gởi con tại trường
vào ngày chủ nhật cũng sẽ được đáp ứng. Những điều này, ở các trường mầm non
công lập khó có thể làm được khi mà theo Thông tư 48/2011/TT-BGDĐT các
trường mầm non (nhóm trẻ và trường mẫu giáo) sẽ làm việc 40 giờ/tuần, điều đó
đồng nghĩa là chỉ nhận giữ trẻ đến hết ngày thứ 6 và sẽ nghỉ vào thứ 7 và chủ nhật,
điều kiện này chỉ thích hợp với đối tượng phụ huynh là cán bộ viên chức có ngày
nghỉ vào thứ 7 và chủ nhật, đối tượng phụ huynh là công nhân khó có thể đáp ứng
được yêu cầu này. Chính vì thế, kết quả khảo sát định lượng cho thấy, trong 5.8%
trẻ được gửi tại các “nhóm trẻ gia đình” có 5.8% ý kiến cho biết họ muốn gởi con
tại các cơ sở giáo dục tư thục vì thời gian đưa đón con linh động.
“Nếu như ai mà có việc gì đột xuất thì họ chở con đến sớm, họ lên lúc 6 giờ, đúng
giờ là 6 giờ 30 thì mới đón trẻ, khi đó họ sẽ lên nhờ cô chủ trường canh giùm, còn
chiều thì 4 giờ 30 đến 5 giờ thì cho bé về nhưng mà có một số cha mẹ của bé mà
do tăng ca chưa về được thì có một cô ở lại trông dùm và tăng ca cùng với bé” (L.
- giáo viên trường mầm non tư thục).
Như vậy, khi phụ huynh tăng ca, cô giáo cũng sẽ tăng ca cùng với học trò.
Thời gian tăng ca của công nhân thường trễ nhất là 21giờ mỗi ngày và cũng giờ
này các phụ huynh sau khi tăng ca sẽ đến đón trẻ tại các cơ sở mầm non tư thục.
Chính điều này tạo nên sự an tâm cho các phụ huynh khi họ đi làm về trễ nhưng
con cái vẫn được ăn uống, tắm rửa chu đáo bởi các cô giáo, các cô bảo mẫu mà chi
phí cho việc giữ trẻ trong giờ tăng ca của phụ huynh lại rất phù hợp với thu nhập
của người công nhân, khiến các phụ huynh công nhân gắn bó chặt chẽ hơn với cơ
sở mầm non tư thục.

4. Chi phí gởi trẻ hợp lý
So với trường mầm non công lập các trường mầm non tư thục có mức thu
học phí cao hơn vì theo quy định của Bộ giáo dục: nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ,
lớp mẫu giáo tư thục do tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh
tế hoặc cá nhân thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và bảo đảm kinh phí hoạt
động bằng nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước3. Điều đó đồng nghĩa với việc các
trường tự ấn định mức thu học phí và sinh hoạt phí của trẻ dựa trên sự tính toán các
chi phí phải trả khác, chẳng hạn như: mặt bằng, nhân sự, trang thiết bị, … đảm bảo
cho hoạt động của cơ sở được duy trì.
Tuy nhiên mức thu học phí đó được đưa ra dựa trên mức thu nhập của người
công nhân nên các hộ gia đình công nhân chấp nhận gởi con tại các cơ sở tư thục vì
sự tiện lợi của nó. Mức thu học phí các trường trên địa bàn khu vực gần như tương
đồng nhau dao động từ 650.000 – 820.000 đồng, có chăng cũng chỉ hơn kém nhau
từ 10.000 đồng – 50.000 đồng; tiền tăng ca được tính theo giờ, mỗi giờ trung bình
là 2000 – 3000 đồng và cứ như vậy nhân lên cho đến cuối tháng thì phụ huynh sẽ
đóng tiền, nếu trường nhận giữ trẻ vào ngày chủ nhật thì dĩ nhiên phí sẽ phải cao
hơn gấp đôi so với những ngày khác trong tuần, khoảng 50.000 – 60.000
đồng/ngày, như lời chia sẻ của một giáo viên mầm non tư thục:“Mức học phí ở
trường tôi thì áp dụng từ lớn tới nhỏ thì áp dụng bằng một giá tiền, bây giờ là
670000 kể cả tiền ăn tiền sinh hoạt này kia nữa…Tăng ca như vậy thì mình lấy một
giờ ăn là 6.000 đồng một bữa còn tăng ca thì lấy 2.000 đồng/giờ” (L- giáo viên
mầm non tư thục)
Những nhóm trẻ gia đình thường nhận trẻ có tháng tuổi nhỏ hơn so với các
trường mầm non, mặc dù các trường mầm non có chức năng trông nom, chăm sóc
và nuôi dạy trẻ từ 3 tháng tuổi đến 5 tuổi, nhưng thực tế các trường mầm non tư
thục thường nhận các trẻ từ 12 -15 tháng tuổi trở lên, các nhóm trẻ gia đình sẽ nhận
những trẻ có tháng tuổi nhỏ hơn “những đứa nhỏ người ta không thích gởi ở
trường lớn vì điều kiện chăm sóc không tốt bằng ở những nhóm trẻ mà những
trường lớn người ta cũng không thích nhận trẻ nhỏ vì chăm sóc rất cực”(N – chủ
nhóm trẻ gia đình); ý kiến của giáo viên mầm non tư thục cũng đồng tình với nhận
định đó:“Trường mầm non của nhà nước thì trẻ 6 tháng tuổi họ đã nhận rồi nhưng
mà vì mình là trường tư mà, trường nhà nước thì họ buộc mình phải nhận trẻ 6
tháng tuổi nhưng trường mình là trường tư mà nên mình tự thu tự chi, mình tự điều
tiết các khoản thu chi của mình tuy nhà nước có quy định như vậy nhưng mà mình
không có khả năng chăm những trẻ nhỏ như vậy thì mình không nhận vào cái đó là
thứ nhất, cái thứ hai là nếu mình nhận trẻ nhỏ vào thì số lượng phải rất ít cho nên
mình càng nhận trẻ lớn tháng tuổi hơn thì số lượng trẻ thu vào đông hơn thì thu
nhập của mình cao hơn” (L- giáo viên mầm non tư thục). Mức thu học phí phụ
thuộc vào mức thu nhập và mức sống của công nhân mà những trường mầm non,
nhóm trẻ thuộc thị xã Dĩ An và Thuận An quy định thu học phí và sinh hoạt phí
của trẻ cao hơn so với hai huyện Bến Cát và Tân Uyên như trường hợp của một
trường mẫu giáo tư thục ở Tân Uyên có mức thu phí dao động từ 650.000 –
700.000 đồng/tháng/trẻ, trong khi ở thị xã Dĩ An và Thuận An mức thu phí dao
động từ 670.000 – 820.000 đồng/tháng/trẻ.
Phần lớn các trường mầm non tư thục còn có những chế độ thu hút trẻ chẳng
hạn: thông tin tuyển sinh của trường mầm non tư thục Thần Đồng – thị xã Dĩ An
cho biết sẽ giảm 5% học phí cho 30 trẻ đầu tiên; giảm 5% học phí cho trẻ có anh,
chị, em học cùng; đặc biệt có giường ngủ cho trẻ; hay tại trường mầm non tư thục
Hoa Sữa – thị xã Dĩ An cũng có chế độ giảm giá 30% học phí cho một bé/tháng
nếu có 2 bé là anh chị em cùng học chung trường; hay nếu những trường phụ
huynh quá khó khăn nhưng có mong muốn được gởi con ở trường thì nhà trường
cũng giảm 100.000 đồng/tháng chi phí học cho trẻ đó.
Tất cả những yếu tố trên làm nên tính linh hoạt của hệ thống giáo dục mầm non
tư thục và thu hút một lượng lớn con em công nhân vào học tại các cơ sở này. Sự
linh hoạt của các hệ thống giáo dục mầm non tư thục tạo điều kiện thuận lợi, hỗ trợ
đáng kể cho các hộ gia đình có con trong độ tuổi mầm non để họ có thể yên tâm
làm việc, yên tâm tăng ca nhằm tăng thêm thu nhập cho hộ gia đình, việc tăng
thêm thu nhập có ý nghĩa quan trọng đối với đời sống công nhân trong việc trang
trải các sinh hoạt phí, trang trải việc học hành của con cái, để dành tiền tiết kiệm,
…Tuy vậy, bên cạnh yếu tố linh hoạt, hệ thống giáo dục mầm non tư thục vẫn còn
tồn tại nhiều bất cập cần được quan tâm nâng cao đảm bảo cho trẻ có được một
môi trường giáo dục hoàn thiện, như: chất lượng nguồn nhân sự, chất lượng dạy
học, sân chơi cho trẻ, chất lượng bữa ăn cho trẻ,…Những yếu tố này lại được đáp
ứng tốt ở hệ thống giáo dục mầm non công lập. Thiết nghĩ nên chăng xây dựng
một mô hình giáo dục mầm non công lập mang tính linh hoạt của hệ thống giáo
dục mầm non tư thục. Ngoài giờ làm việc theo quy định của Bộ giáo dục, các
trường mầm non công lập có thể chủ động trong việc bố trí giáo viên cùng tăng ca
với trẻ cũng như là việc nhận giữ trẻ vào ngày thứ 7 với chi phí hợp lý, kinh phí
này sẽ do nhà trường tự thu – tự chi và trả phụ cấp hợp lý cho nhân sự; đồng thời
đó là việc “nới rộng” các thủ tục, điều kiện nhập học đặc biệt là điều kiện cư trú để
những trẻ là con em công nhân nhập cư có cơ hội tiếp cận với hệ thống giáo dục
mầm non công lập. Hiện tại, một số trường mầm non công lập trên địa bàn Bình
Dương cũng đã linh động về điều kiện nhập học và kéo dài thời gian giữ trẻ, chẳng
hạn như trường mầm non công lập Võ Thị Sáu – thị xã Dĩ An đồng ý nhận trẻ là
con em của công nhân nhập cư với điều kiện có giấy tờ tạm trú từ 6 tháng trở lên
tại địa phương; đồng thời, từ năm 2003 trường này cũng áp dụng hình thức nhận
giữ trẻ vào ba ngày thứ 3 trong tháng, ngày thứ 7 còn lại là dành cho các giáo viên
sinh hoạt chuyên môn và họp hội đồng; không chỉ vậy mỗi khi phụ huynh phải
tăng ca nên đến đón trẻ trễ thì phụ huynh sẽ thông báo cho giáo viên biết về vấn đề
đó và giáo viên sẽ ở lại giữ trẻ cho đến khi phụ huynh đến đón thường là không
quá 17 giờ 30 phút. Bước đầu cho thấy sự thích nghi, ứng xử phù hợp của trường
mầm non công lập đối với đời sống công nhân. Tuy nhiên, để con em công nhân có
thể tiếp cận được hệ thống trường mầm non công lập cái quan trọng hơn cả vẫn là
vấn đề linh hoạt về thời gian đưa – đón trẻ, nếu như các trường mầm non công lập
có thể khắc phục được điều này thì cơ hội tiếp cận giáo dục công lập của con em
công nhân không có sự ngăn cách và có cơ hội bình đẳng như những con em dân
địa phương.
Tóm lại, sự linh hoạt của hệ thống mầm non tư thục bao gồm 4 yếu tố chính: (1)
Điều kiện và thủ tục nhập học dễ dàng; (2) Tuyển sinh liên tục; (3) Thời gian giữ
trẻ phù hợp và (4) Chi phí gởi trẻ hợp lý. Bốn yếu tố này là điều kiện tiên quyết để
các cơ sở mầm non tư thục thu hút được đông đảo sự quan tâm của những hộ công
nhân có con nhỏ đang tuổi đi nhà trẻ. Mặt khác, hệ thống trường mầm non công lập
đang được đảm bảo rất tốt về chất lượng chăm sóc và dạy trẻ hơn so với trường
mầm non, trong khi đó, các điều kiện này ở các cơ sở mầm non tư thục lại chưa
được đảm bảo. Vậy, nên chăng có cần có một cơ sở giáo dục mầm non là sự kết
hợp giữa chất lượng dạy và học của trường công lập và sự linh hoạt của trường tư
thục? Thiết nghĩ cần xây dựng một mô hình giáo dục mầm non công lập mang đầy
đủ các đặc tính linh hoạt của trường mầm non tư thục nhằm đáp ứng tốt hơn nhu
cầu của các hộ gia đình công nhân. Trách nhiệm xây dựng trường mầm non công
lập này thuộc về trách nhiệm giữa chính quyền địa phương và doanh nghiệp. Chính
quyền địa phương sẽ đóng vai trò cấp quỹ đất, tạo điều kiện thuận lợi về các thủ
tục pháp lý và thực hiện chính sách miễn thuế. Doanh nghiệp có trách nhiệm đầu
tư nguồn kinh phí để xây dựng cơ sở. Trường mầm non này về mặt pháp lý sẽ là
một cơ sở giáo dục công lập với đội ngũ giáo viên và bảo mẫu đạt chuẩn theo như
yêu cầu, chương trình giáo dục trẻ sẽ áp dụng đúng theo quy định của Bộ giáo dục đồng thời áp dụng các chế độ linh hoạt về điều kiện nhập học, thời gian tuyển sinh
linh động, thời gian giữ thích hợp và chi phí gởi trẻ hợp lý. Sự kết hợp hài hòa giữa
các đặc tính tích cực giữa trường công và trường tư thục sẽ là một môi trường
thuận lợi để con trẻ phát triển toàn diện về trí tuệ lẫn nhân cách. Không chỉ vậy,
điều này còn giúp các hộ gia đình công nhân bớt đi những gánh nặng nhọc nhằn
của cuộc mưu sinh khi con cái của họ được gởi ở một nơi được đảm bảo về mọi
mặt. Đó cũng là một khía cạnh của vấn đề phúc lợi xã hội cho người lao động; là
một trong những cách thức quan trọng thể hiện sự quan tâm của doanh nghiệp, của
chính quyền địa phương đối với đời sống công nhân; cũng là một hình thức để đảm
bảo sự gắn bó lâu dài của người công nhân đối với doanh nghiệp và với địa
phương và tiếp tục có thêm nhiều sự đóng góp giúp doanh nghiệp tăng lợi nhuận,
kinh tế địa phương phát triển bền vững hơn.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Điều lệ trường mầm non Ban hành kèm theo Quyết định số 14/2008/QĐ-
BGDĐT ngày 07 tháng 4 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.
2. Quyết định 62/2007/QĐ-BGDĐT về việc Ban hành Quy định về nội dung và
hình thức tuyển dụng giáo viên các cơ sở giáo dục mầm non, cơ sở giáo dục phổ
thông công lập và trung tâm giáo dục thường xuyên, ngày 26 tháng 10 năm 2007.
3. Thông tư 48/2011/TT- BGDĐT Quy định chế độ làm việc đối với giáo viên
mầm non, ngày 25 tháng 10 năm 2011.
4. Thông tư 28/2011/ TT- BGDĐT Về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của
Quy chế tổ chức và hoạt đọng trường mầm non tư thục, ban hành kèm theo Quyết
định số 41/2008/QĐ-BGDĐT ngày 25 tháng 7 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo duc
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Thầy Cô thân mến, (Nếu được sự đồng ý của các bạn đồng lớp) Ngày mùng ba tết Năm Tân Sửu, con và các bạn học cùng lớp mừng tuổi Thầy Cô. Chúng con không có rượu, không có bánh tét, không có cặp trứng để mừng tuổi Thầy Cô, chỉ có mấy hàng chữ mà Thầy đã dạy chúng con học viết trong những năm tại trường Tấn Đức và lòng tôn trong với một người Thầy Giáo khả kính, hiền lành.
1. Nếu chịu khó đọc đủ nhiều và nghiên cứu sách tỉ mỉ, bạn sẽ không cần và không thích nghe bất cứ diễn giả nào chia sẻ. Nói cách khác, tất cả những gì một diễn giả, một nhà đào tạo nói với bạn đều có sẵn trong sách. 2. Diễn giả, nhà đào tạo ở ta là những kẻ nói lại sách của người khác để trục lợi. Có thể họ nói hùng hồn và dễ hiểu hơn nhưng phần lớn không sâu sắc và không đủ ý. Kiến thức mà thiếu ý là thứ kiến thức nguy hại. Giống như thầy lang đọc sách đau bụng uống nhân sâm. 3. Diễn giả đẳng cấp là kẻ phải ham đọc và ham viết. Họ thường là tác giả có tầm cỡ. Đương nhiên, diễn giả rởm cũng tỏ ra vẻ như mình đọc nhiều sách và khoe mình hay đọc sách. Chết là ở đó. Nhưng tinh ý, bạn sẽ biết họ đọc nhiều thật hay đang nói dối. Ngồi cạnh người đọc sách nhiều và đúng cách, bạn sẽ học được ít nhiều chỉ sau 5 phút. Kẻ đọc sách nhiều không đay nghiến và kì thị ai quá đáng. Họ ghét ai cũng là cái ghét từ bi. Yêu ai cũng không vồ vập.
Thật khó hình dung được thời gian qua nhanh, đã hơn mấy chục năm sống cuộc đời lưu vong tại Calgary, Alberta, miền Tây Canada. Dẫu muốn hay không cũng phải chấp nhận nơi đây là quê hương thứ hai, nơi đã mang và nuôi dưỡng chúng tôi hơn nửa đời người. Tạ ơn Chúa và Canada. Sự kiện đặc biệt đang xảy ra tại vùng này là trong suốt mấy chục năm qua chưa từng có một mùa Đông có nhiều ngày nắng và ấm như thế. Vào những ngày này của tháng giêng, mặt trời chiếu tỏa từ sáng tới chiều và nhiệt độ ấm lên từ 5c-6c vào khoảng một giờ chiều và đã kéo dài hơn hai tuần nay. Toàn tỉnh đang bị lockdown vì covid-19 mà có những ngày đẹp trời cũng tạo cho tâm lý bà con vui vẻ hơn; người người bước ra ngoài để hớp những không khí trong lành của thiên nhiên. Trẻ em thì háo hức chơi đủ trò trên tuyết – người lớn thì đi bộ dọc hai bên đường cùng với những chú chó bị nhốt lâu ngày trong nhà nay có dịp ra ngoài.
Tên nàng là Nhung Nữ. Dân làng đặt tên nàng là Nhung Nữ vì nàng có mái tóc dài, gợn sóng, nhung huyền, gần chấm đất những khi nàng cong tấm lưng thon, biểu diễn điệu múa quyến rũ, mỗi lần làng họp chợ. Nàng là một kỳ công tuyệt diệu của tạo hóa, với sóng mắt xếch như mang theo sự huyền bí của miền Đông Á. Da nàng là màu nắng mặt trời. Tóc nàng, nhung đen như đêm Ba Tư thần thoại, một suối nhung huyền trên tấm lưng thanh nhã, lượn sóng trên bờ eo nhỏ mỗi khi nàng dạo bước trên bãi biển. Môi nàng lúc nào cũng như tiềm ẩn một nụ cười, chờ đợi một chuỗi cười hồn nhiên, và viền môi cong như đón mời một nụ hôn nồng nàn làm tiêu tan nghị lực. Khuôn mặt nàng ẩn giấu nét rộn rã của đứa trẻ nhỏ, nhưng đồng thời chung quanh khóe mắt đẹp và hơi buồn đã thấp thoáng những nét nhăn như chứng tích của sự trưởng thành. Nàng là đàn bà trẻ thơ.
Sài Gòn vẫn rất dễ thương Cái tên dù lạ con đường vẫn quen Tôi hay “viện dẫn” hai câu thơ của mình mỗi khi phải hồi âm một cánh thư xa nào đó, thường là câu hỏi “Sài Gòn bây giờ ra sao?” Thật ra trong cảm nhận của tôi, Sài Gòn vẫn thế. Bởi dù trải qua nhiêu bao biến cố thăng trầm, thì Sài Gòn, Hòn Ngọc Viễn Đông, thủ đô trong những trái tim miền Nam ngày nào vẫn không bao giờ thay đổi. Sài Gòn của một thời tôi mới lớn, những “con đường tình ta đi” Duy Tân, Trần Quý Cáp, Tú Xương, Công Lý. Những chiều bát phố Lê Lợi, Tự Do. Những rạp cine. Món bánh tôm hẻm Casino (Sài Gòn). Những xe bò viên Nguyễn Thiện Thuật. Bánh mì thịt trước chợ Trương Minh Giảng, gỏi đu đủ – khô bò – nước mía Viễn Đông (góc Lê Lợi – Pasteur)…
...chỉ với Mùa Xuân chín, Hàn Mặc Tử đã luôn là một nỗi nhớ khôn nguôi của người yêu thơ, yêu cái đẹp khi xuân về. Trong làn nắng ửng: khói mơ tan, Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng. Sột soạt gió trêu tà áo biếc, Trên giàn thiên lý. Bóng xuân sang. Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời Bao cô thôn nữ hát trên đồi; Ngày mai trong đám xuân xanh ấy, Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi… Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi, Hổn hển như lời của nước mây, Thầm thì với ai ngồi dưới trúc, Nghe ra ý vị và thơ ngây… Khách xa gặp lúc mùa xuân chín, Lòng trí bâng khuâng sực nhớ làng: “Chị ấy, năm nay còn gánh thóc Dọc bờ sông trắng nắng chang chang?” Có một chàng thi sĩ tài hoa nhưng bạc mệnh sống vào khoảng nửa đầu thế kỷ 20 ở Nam Trung Bộ. 16 tuổi, chàng đã làm bài thơ đầu tiên. Chàng đã sống, đã đi, đã yêu tha thiết và đã đau đớn cùng cực.
Truyện Kiều là một tuyệt tác trong văn học sử Việt Nam, điều này ai cũng công nhận. Theo Phạm Quỳnh, “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; tiếng ta còn, nước ta còn”, nhưng ông và nhiều học giả khác không phân tích rõ Truyện Kiều hay như thế nào và tại sao tác phẩm này đặc biệt. Dù sao thì Truyện Kiều cũng có ảnh hưởng rất rộng với đại chúng, đa số người Việt biết thưởng thức thơ hay và ít quan tâm đến những phân tích phê bình của những nhà nghiên cứu. Lãng Nhân có nhận xét về một điểm vô lý trong Truyện Kiều: Khi mấy chị em đi chơi lễ Thanh Minh và thấy một nấm mồ hoang, em trai Thúy Kiều là Vương Quan chỉ là một cậu bé học trò 14-15 tuổi, vậy mà kể rành rẽ tiểu sử người kỹ nữ quá cố giống như một tay ăn chơi lão luyện: Vương Quan mới dẫn gần xa, Đạm Tiên nàng ấy xưa là ca nhi Nổi danh tài sắc một thì, Xôn xao ngoài cửa thiếu gì yến anh. Phận hồng nhan có mong manh, Nửa chừng xuân, thoắt gẫy cành thiên hương!
- Chúng ta đa số đều biết rằng các nhà văn trong Tự Lực Văn Đoàn từ 1934 - 1940 có gốc gác khởi xuất từ miền Bắc, viết văn, viết sách, thơ, truyện, thường họ chỉ dùng (GI) cho "giòng sông, giòng nước". Thí dụ như: a) Nhất Linh: "Giòng Sông Thanh Thủy". b) Tú Mỡ: "Giòng Nước Ngược". c) Thạch Lam: "Theo Giòng". - Còn các nhà văn, trí thức lớp sau, thường có xuất thân tại miền Nam, trước khi xảy ra biến cố 1975, họ hầu hết sử dụng (D) cho "dòng sông, dòng nước". Thí dụ như: a) Doãn Quốc Sỹ: "Dòng Sông Định Mệnh (1959). b) Nhật Tiến: "Tặng Phẩm Của Dòng Sông (1972). c) Đằng Phương Nguyễn Ngọc Huy: "Dòng Nước Sông Hồng" (viết 1945, in lại vào thi tập năm 1985). - Và sau hơn nữa đó là: a) Ngô Thế Vinh: "Mekong, Dòng Sông Nghẽn Mạch (2007).
Ngày còn bé, mỗi lần về quê ghé thăm ông cậu thì cảnh tượng quen thuộc đầu tiên đập vào mắt tôi là hai cái lồng chim cu treo lủng lẳng ở mái hiên nhà. Lồng bằng tre vót nhỏ rứt, bo tròn vành như quả bí, bọc vải bên ngoài kín đáo. Cứ một con gù gù, con lồng bên lại cất tiếng gáy như để hòa điệu, âm thanh trầm buồn. Buổi trưa vắng lặng, chợt nghe tiếng cu gáy êm êm dìu dặt, ai mà không cảm nhận lòng mình xuyến xao gợi nhớ mơ hồ đâu đâu, càng thêm yêu thương sự phóng khoáng, yên bình của đồng nội, hương quê… Người nuôi chim rành rẻ kinh nghiệm cho biết con nào có bộ lông xám thường gáy giọng thổ trầm, con lông nâu thì gáy giọng kim cao. Theo tập tính, chim cu trống cất giọng gáy hay để quyến rũ bạn tình hoặc khoe mẻ, thách thức với con trống khác.
Lúc ấu thơ, khi còn chưa biết rét là gì, tôi thường đi chơi trên những cánh đồng mùa đông. Lúa tháng mười vừa gặt xong, thửa ruộng cạn chỉ còn những gốc rạ trơ trụi. Từ gốc rạ ấy, những mầm lúa lại mọc lên xanh non, nếu để lâu chúng cũng kết bông trổ hạt, người ta gọi đó là lúa trau, có thể lùa trâu bò xuống ăn. Ngoài đồng, phân trâu bò được đắp thành những đụn tròn cao dần lên trên chừng nửa thước. Phân ủ trong đó rất ấm tỏa ra làn khói mờ. Đi cắt rạ lâu trên đồng, những ngón chân lạnh cóng đến mức không còn cảm giác gì, người ta phải hong chân trên nóc đống phân đó. Vài nhà nông tranh thủ cầy ải. Họ xới đất lật lên thành luống, để cho gió bấc hong khô đất, đợi sang xuân có nước về lùa những luống đất đó tan ra như bùn. Đôi khi người ta dùng vồ đập cho đất vỡ tan trước.
Bảo Trợ