Giải tội tập thể?

29 Tháng Năm 201411:30 CH(Xem: 1812)

Giải tội tập thể?

Hỏi (chi tiết):

Tìm hiểu về việc "Giải tội tập thể"

blank
Đáp:

I- Giải tội tập thể là gì?

“Giải tội tập thể” hay “xá giải chung” (general absolution) là việc linh mục cử hành nghi thức Giải Tội bí tích cho một tập thể hối nhân, mà trước đó không có xưng tội riêng từng người. Đây là một trường hợp rất đặc biệt, không phải là việc được phép thực hành thường xuyên trong Giáo hội.

Kể từ Công đồng Tridentinô vào thế kỷ XVI, Giáo hội Công giáo khẳng định: “Việc xưng tội riêng (cá nhân) và xưng tội đầy đủ cùng với việc xá giải là cách duy nhất và thông thường, nhờ đó một tín hữu ý thức mình có tội trọng được hòa giải với Thiên Chúa và Giáo hội; chỉ có sự bất lực thể lý hay luân lý mới miễn chuẩn việc xưng tội như trên; trường hợp này, việc hòa giải cũng có thể được thực hiện bằng những cách khác” [1]. Như vậy, lý do duy nhất có thể miễn xưng tội riêng là bất lực thể lý hay luân lý; chẳng hạn: tình trạng bản thân đau ốm hay không có linh mục giải tội nào có thể gặp được; hay lý do tâm lý như hối nhân quá sợ hãi đến mức tâm thần (hysteria) khi xưng tội cá nhân.

“Giải tội tập thể” trở thành ngoại lệ đầu tiên vào năm 1915 và 1939, khi Đức Bênêđictô XV và Đức Piô XII dành cho các vị Giám Mục năng quyền đặc biệt để: các linh mục tuyên úy quân đội được Giải Tội tập thể cho các quân nhân trước khi ra trận [2]. Hiện nay, các quy định về “Giải tội tập thể” được nêu trong Bộ Giáo Luật 1983 điều 960-963; và Đức Gioan Phaolô II đã giải thích chi tiết trong tông thư dưới dạng motu proprio Misericordia Dei (07.02.2002).

II- Những điều kiện chung để có thể cử hành “Giải tội tập thể”?

Việc “Giải tội tập thể” chỉ được cử hành khi có đủ các tiêu chuẩn sau đây [3]:

1- Không có đủ linh mục giải tội: một linh mục hay nhiều linh mục không đủ thời giờ nghe từng hối nhân xưng tội. “Tuy nhiên, không được coi là có sự khẩn thiết thực sự, khi không có đủ các cha giải tội chỉ nguyên vì lý do hối nhân đông đảo, như trong trường hợp các dịp đại lễ hay hành hương”.

2- “đến nỗi các hối nhân không được lãnh ơn bí tích Xá Giải hoặc không được Rước Lễ trong thời gian lâu dài mà không do lỗi của họ”. Hội Đồng Giám Mục Mỹ từng đề nghị giải thích “thời gian lâu dài” (diu) của GL 961, được tính là “một tháng”. Cách giải thích này không được Tòa Thánh chấp nhận [4]. Đức Gioan Phaolô II cũng cho là cách giải thích “một tháng” là không khôn ngoan và xuyên tạc (distort), vì đây phải là một trường hợp cụ thể khi thực sự không thể xưng tội riêng vì bất lực theo GL 960 [5] .

3- “Trong trường hợp nguy tử” cận kề (imminent) hay “trường hợp khẩn cấp nghiêm trọng”. Việc nhận định khi nào là “khẩn cấp nghiêm trọng” do Đức Giám Mục giáo phận quyết định (xem phần IV).

III- Những điều kiện để người tín hữu có thể lãnh nhận bí tích khi có cử hành “Giải tội tập thể ?

Đức Gioan Phaolô II đã chỉ dẫn chi tiết các điều kiện đối với người lãnh nhận [6]:

1- “người tín hữu phải có tâm tình thích đáng”: nghĩa là phải chuẩn bị đầy đủ như khi xưng tội riêng: xét mình, sám hối và dốc lòng chừa…

2- Nếu có thể, kể cả trường hợp nguy tử, mỗi người phải làm một việc đền tội.

3- Hối nhân đang sống trong tình trạng tội trọng thường xuyên và không có ý định thay đổi tình trạng của mình thì không thể lãnh nhận bí tích Giải Tội thành sự.

4- “phải quyết tâm là sẽ đi xưng tội riêng vào thời gian thích hợp”; thời gian thích hợp phải hiểu là “ngay khi có dịp”. Ngoài ra, “người nào được tha các tội trọng nhờ một ơn xá giải chung phải đi xưng tội riêng sớm hết sức khi có dịp, trước khi lãnh nhận ơn xá giải chung một lần khác, trừ khi bị ngăn trở vì một lý do chính đáng” [7].

IV- Vị nào có quyền cho phép “Giải tội tập thể” và ấn định các tiêu chuẩn phải giữ?

Đức Giám Mục giáo phận là vị duy nhất có quyền cho phép “Giải tội tập thể” và ấn định các tiêu chuẩn phải giữ. Bình thường, khi đã nhận chức linh mục thành sự, một linh mục có khả năng cử hành bí tích Giải Tội; nhưng trừ trường hợp nguy tử, linh mục chỉ giải tội thành sự cho các tín hữu khi được Đấng Bản Quyền địa phương trao cho năng quyền Giải Tội; đồng thời linh mục phải tuân giữ những chỉ dẫn mục vụ do Đấng Bản Quyền địa phương nêu ra [8].

Đối với việc “Giải tội tập thể” trong trường hợp “khẩn cấp nghiêm trọng”, Đức Gioan Phaolô II đã chỉ dẫn chi tiết như sau [9]:

1- “Trường hợp khẩn cấp nghiêm trọng là những hoàn cảnh ngoại lệ khách quan; chẳng hạn tại các xứ truyền giáo hay tại những cộng đoàn tín hữu bị cô lập khi linh mục chỉ có thể đến thăm một lần hay rất ít lần trong một năm; hay khi có chiến tranh hay thiên tai hay những yếu tố tương tự”.

2- Khi do điều kiện mục vụ của toàn giáo phận, có cùng lúc cả hai yếu tố: - 1- Không có đủ linh mục giải tội; 2- “đến nỗi các hối nhân không được lãnh ơn bí tích Giải Tội hoặc không được Rước Lễ trong thời gian lâu dài mà không do lỗi của họ”.

3- Không có đủ linh mục giải tội, vì linh mục không đủ thời gian hợp lý để ban bí tích cách thành sự và xứng đáng, chứ không phải vì linh mục giải tội muốn “kéo dài việc đối thoại mục vụ”.

4- Đức Giám Mục giáo phận phải khôn ngoan cân nhắc về “thời gian lâu dài” mà các tín hữu không được lãnh ơn bí tích.

5- Tình trạng nghiêm trọng khẩn cấp nói trên xảy ra, không phải do các vị mục tử không lo chu toàn bổn phận Giải Tội cho tín hữu hay do các tín hữu thích chọn cách “Giải tội tập thể”.

6- Tình trạng nghiêm trọng khẩn cấp nói trên xảy ra, không phải do các dịp đại lễ, hành hương, du lịch hoặc do hoàn cảnh thuận tiện đi lại hiện nay làm cho nhiều tín hữu đến nhà thờ đó.

7- “Việc thẩm định xem có đủ điều kiện để “Giải tội tập thể” theo Giáo Luật điều 961, 2 là thẩm quyền của Đức Giám Mục giáo phận, không phải của linh mục giải tội”. Đức Giám Mục giáo phận thẩm định “dựa vào những tiêu chuẩn đã được thỏa thuận chung với các thành viên khác của Hội Đồng Giám Mục” [10].

8- Các vị Giám Mục phải thông báo cho Hội Đồng Giám Mục những trường hợp khẩn cấp nghiêm trọng trong giáo phận của các ngài. Hội Đồng Giám Mục phải tổ chức phiên họp chính thức theo Giáo Luật điều 455, 2; và gởi văn bản những quy định các ngài đã thống nhất đến Thánh Bộ Phụng Tự và Kỷ Luật Bí Tích.

V- “Giải tội tập thể” tại giáo phận Sài Gòn?

Hội Đồng Giám Mục Việt Nam chưa có phiên họp nào bàn về “Giải tội tập thể”; cũng chưa từng hỏi ý kiến Thánh Bộ Phụng Tự và Kỷ Luật Bí Tích.

Đối với Giáo phận Sài Gòn, Đức cố Tổng Giám Mục Phaolô Nguyễn Văn Bình chưa từng ra quy định bằng văn bản hay cho phép miệng linh mục nào cử hành“Giải tội tập thể” [11]. Đức Hồng Y Tổng Giám Mục đương nhiệm cũng thế. Như vậy, không có vị Giám Mục nào ở Sài Gòn cho phép cử hành “Giải tội tập thể” vì hoàn cảnh khẩn thiết nghiêm trọng.

Do đó, tại Sài Gòn hiện nay, trường hợp duy nhất một linh mục có thể cử hành “Giải tội tập thể” thành sự là trường hợp nguy tử; tức là khi linh mục chính xứ thấy rằng trong địa giới giáo xứ của ngài xảy ra chiến tranh, thiên tai hay dịch bệnh, đến nỗi chắc chắn có nhiều người chết trong vài ngày tới.

LM Gioan Bùi Thái Sơn
Đại Diện Tư Pháp giáo phận

-----------------------------------------

[1] Giáo Luật đ. 960; x. THÁNH BỘ GIÁO LÝ ĐỨC TIN, Normae Pastorales Sacramentum Paenitentiae, 16.06.1972, in AAS 64 (1972) p.510; Sách Giáo Lý điều 1484.
[2] BỘ THÁNH VỤ, Declaratio, 06.02.1915, in AAS 7 (1915) p.72; AAS 31 (1939) p. 712.
Năm 1944, Bộ Thánh Vụ ban hành Chỉ Thị Ut Dubia để hệ thống các quy định và thêm: năng quyền “Giải tội tập thể” không chỉ trong trường hợp nguy tử vì chiến tranh, mà cả khi có “một nhu cầu khác khẩn thiết và nghiêm trọng…” (AAS 36 (1944) pp.155-156); THÁNH BỘ GIÁO LÝ ĐỨC TIN, Normae Pastorales Sacramentum Paenitentiae, 16.06.1972, in AAS 64 (1972) p.510; Sách Giáo Lý điều 1484. Theo lời Đức Ông Trần Văn Khả, Bộ Phụng Tự sắp soạn lại văn kiện Ordo Paenitentiae1973; phần Giải Tội tập thể sẽ dựa trên chỉ dẫn của Đức Gioan Phaolô II.
[3] Giáo Luật đ. 961.
[4] The Jurist 53 (1993), p. 404.
[5] GIOAN PHAOLÔ II, Ap. Lit. motu proprio Misericordia Dei, 07.02.2002, n. 4.2d.
[6] GIOAN PHAOLÔ II, Ap. Lit. motu proprio Misericordia Dei, 07.02.2002, n. 4.8-9.
[7] Giáo Luật đ. 963.
[8] Giáo Luật đ. 966, 969 và 976.
[9] GIOAN PHAOLÔ II, Ap. Lit. motu proprio Misericordia Dei, 07.02.2002, n. 4-6.
[10] Giáo Luật đ. 962.
[11] Theo lời linh mục Phanxicô Huỳnh Hữu Đặng, chánh văn phòng giáo phận từ năm 1970 cho đến nay, kiêm nhiệm đại diện tư pháp giáo phận cho đến năm 2000.

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
– Vào thứ Ba 8-12-2020, Đức Giáo hoàng Phanxicô đã công bố Năm Thánh Giuse, để kỷ niệm 150 năm ngày thánh nhân được công bố là người bảo trợ Giáo hội hoàn vũ. Đức Giáo hoàng Phanxicô cho biết ngài thiết lập Năm Thánh này để “mọi tín hữu theo gương Thánh Giuse, củng cố đời sống đức tin bằng cách hằng ngày thực hiện trọn vẹn ý muốn của Chúa.” Dưới đây là những điều bạn cần biết về Năm Thánh Giuse: Tại sao lại có những năm được mang các chủ đề cụ thể (từ Giáo hội)? Giáo hội cử hành diễn trình của thời gian qua lịch phụng vụ - bao gồm các lễ như Phục sinh và Giáng sinh, và các mùa như Mùa Chay và Mùa Vọng. Ngoài ra, các vị Giáo hoàng còn có thể dành riêng những khoảng thời gian nào đó để Giáo hội suy ngẫm sâu sắc hơn về một khía cạnh cụ thể của giáo huấn hoặc niềm tin Công giáo. Một số năm trước đây đã được các vị giáo hoàng gần đây chọn lựa như thế, bao gồm Năm Đức Tin, Năm Thánh Thể và Năm Thánh Lòng Thương Xót.
Tại Việt Nam, ít ai biết được rằng 150 năm trước khi thi hào Nguyễn Du qua đời (1820), văn chương Công giáo đã có một tác phẩm lục bát bằng chữ Nôm đạt mức tuyệt tác: Tác phẩm Sấm Truyền Ca (1670), diễn ca 5 quyển đầu của Cựu Ước, do cha Lữ Y Đoan, một trong những linh mục thế hệ đầu của địa phận Đàng Trong. Cũng chính năm 1820 tác phẩm được phiên âm sang chữ quốc ngữ. Sau một vận mệnh hẩm hiu suốt hơn ba trăm năm, cuối thế kỷ XX chỉ còn hơn 1/5 tác phẩm sống sót: Sách Sáng Thế Ký (Tạo đoan kinh) và 21 chương đầu của sách Xuất Hành (Lập quốc kinh). Năm 1993 một số trí thức Công giáo đã thực hiện hồ sơ “Về các tác giả Công giáo thế kỷ XVII-XIX”, do Khoa Ngữ Văn, Đại học Tổng hợp Tp HCM ấn hành. Quyển sách đã giới thiệu tác phẩm Sấm Truyền Ca đến công chúng.
Từ ngữ: tuyên thánh đúng hơn là phong thánh: Từ phong thánh quen dùng trong tiếng Việt, nguyên ngữ từ tiếng Hy Lạp “Kanon” có nghĩa là thước đo hay tiêu chuẩn hay được nhìn nhận là có giá trị. Ý nghĩa nầy được tìm thấy trong động từ canonizare của tiếng La tinh, rồi canoniser trong tiếng Pháp và Canonize trong tiếng Anh. DHYThuan-ChaDiep.jpg Những tín hữu trong thế kỷ đầu đã phong thánh cho các Tông Đồ khi gọi các Ngài là Thánh. Những vị tử đạo cũng được gọi là thánh. Rồi những thế kỷ kế tiếp, những giáo dân có đời sống thánh thiện, nêu gương sáng và thành mực thước cho người đời cũng được tuyên bố “đang ở trên thiên đàng” tức là thánh. Như vậy theo từ Kanon và theo truyền thống, Giáo Hội không hề phong thánh hay không hề làm cho ai thành thánh cả. Giáo Hội, qua thời gian cầu nguyện lâu dài và qua những phép lạ được thực hiện nhờ lời chuyển cầu của ...
I. Nữ vương các thánh tử đạo 1) Tại sao Đức Maria được gọi là Nữ vương các thánh tử đạo? 2) Tại sao chọn Nữ vương các thánh tử đạo làm bổn mạng tỉnh dòng? 3) Tỉnh dòng có tình cảm gì đối với Nữ vương các thánh tử đạo? II. Nữ vương các chứng nhân 1) Tân ước có nền tảng cho tước hiệu Đức Maria “Nữ vương các chứng nhân” không? 2) Đức Maria đã sống đời chứng nhân đức tin như thế nào? 3) Tước hiệu “Nữ vương các chứng nhân” có ý nghĩa gì đối với chúng ta? ————- Đây không phải là lần đầu tiên tôi được mời chia sẻ với anh em nhân dịp bổn mạng tỉnh dòng. Vì không muốn lặp lại những điều đã trình bày cho nên năm nay tôi muốn tìm một lối tiếp cận mới liên quan đến danh hiệu bổn mạng tỉnh dòng, qua tựa đề: “Nữ Vương các tử đạo hay Nữ vương các chứng nhân?” Xin anh em hãy kiên nhẫn chịu tử đạo khi nghe bài suy niệm hơi dài, và có thể gây nhiều cú sốc.
Phan Tấn Thành Tại một số nhà thờ mới cất bên Việt Nam, người ta thấy trên Thập giá thay vì tượng Chúa chịu nạn lại có tượng Chúa Phục sinh hay Linh mục Thượng phẩm. Tại sao lại có sự thay đổi ấy? Từ sau công đồng Vaticanô II, người ta chứng kiến một số thay đổi trong lãnh vực phụng vụ. Thoạt tiên xem ra có vẻ mới, và khiến cho có người băn khoăn: phải chăng công đồng Vaticanô II đã thay đổi đức tin của Giáo hội? Thế nhưng nếu xét kỹ ra, thì nhiều sự thay đổi không hoàn toàn mới nhưng lấy lại truyền thống từ lâu đời của Giáo hội mà thôi. Tỉ như ngôn ngữ dùng trong phụng vụ: vào những thế kỷ đầu, phụng vụ được cử hành bằng tiếng địa phương, và thậm chí tại Rôma ngôn ngữ của phụng vụ là tiếng Hy-lạp, tức là tiếng giao thông thương mại thời đó, chứ không phải là tiếng La-tinh. Ta cũng có thể nói một cách tương tự như vậy về việc thay đổi tượng Chúa chịu nạn bằng tượng Chúa Phục sinh: đây không phải là sự canh tân, song là trở về nguồn.
Trả lời: Vâng, quả thật hộp sọ xuất hiện rất thường xuyên trong nghệ thuật Ki-tô Giáo và ngay cả ngày nay. Tôi có thể hiểu câu hỏi của bạn về thực hành này; bởi vì việc đặt hộp sọ ở khắp mọi nơi có vẻ như là một cái gì đó không lành mạnh – đặc biệt đối với những người đang sống trong một xã hội tiêu dùng và thế tục, nơi người ta thường lảng tránh suy nghĩ về những điều sâu sắc chẳng hạn như cái chết và những gì xảy ra sau đó. Một hộp sọ lành mạnh Khi nghệ thuật Ki-tô Giáo miêu tả những hộp sọ ở gần các vị thánh, nó tượng trưng cho sự khôn ngoan và thận trọng của các ngài. Hộp sọ là hình ảnh đại diện một cách sống động và hấp dẫn về cái chết của con người.
Giải đáp của Cha Edward McNamara, Dòng Đạo Binh Chúa Kitô (LC), giáo sư phụng vụ của Đại học Regina Apostolorum (Nữ Vương các Thánh Tông Đồ), Rôma. Hỏi: Thưa cha, liệu Thánh lễ cầu cho người khi còn sống là hiệu lực hơn (mạnh hơn) so với Thánh lễ cầu nguyện sau khi đã chết không? Thánh Anselmô (Anselm) và ĐGH Biển Đức XV đã nói Thánh lễ cầu cho khi còn sống là hiệu lực hơn. Xin cha bình luận việc này cho nhiểu người biết. - S. T., Chicago, Hoa Kỳ Đáp: Trong khi bạn đọc trên không cung cấp nguồn của các ý kiến này của thánh Anselmô (Anselm) và ĐGH Biển Đức XV, tôi vẫn cho đó là ý riêng của bạn ấy.Bằng cách nào chúng ta có thể nói rằng Thánh Lễ này là "mạnh hơn" (hiệu lực hơn) so với Thánh lễ kia?
Phụng vụ mừng lễ Các Thánh vào ngày đầu tháng 11, và ngày hôm sau, tưởng nhớ các người qua đời. Xét theo nguồn gốc lịch sử, lễ kính nào ra đời trước: việc kính nhớ các người qua đời có trước, hay lễ các thánh có trước? Linh mục Phan Tấn Thành trả lời. Để trả lời câu hỏi này, chúng ta phải phân biệt nhiều vấn đề. Việc kính nhớ các linh hồn qua đời là một chuyện, còn việc dành ra một ngày trong năm để tưởng nhớ tất cả các linh hồn là chuyện khác. Một cách tương tự như vậy, kính nhớ các thánh là một chuyện, còn dành ra một ngày để kính nhớ tất cả các thánh là một chuyện khác. Chúng ta sẽ cố gắng đi từng bước một: chúng ta hãy khởi hành với thực tại ngày nay, rồi chúng ta sẽ đi lùi ngược lại dòng lịch sử. Ngày nay lễ tưởng nhớ các người qua đời diễn ra vào ngày hôm sau lễ các thánh. Từ khi nào lịch phụng vụ ấn định việc cử hành hai ngày lễ đó?
Cùng với lời kinh cầu nguyện với Đức Mẹ đã được Đức Thánh Cha đọc trong video trong Thánh lễ do Đức Hồng y Giám quản Roma cử hành tại đền thánh Đức Mẹ Tình yêu Chúa ngày 11/03 vừa qua, Đức Thánh Cha đề nghị thêm một kinh nguyện để các tín hữu cầu nguyện vào cuối buổi đọc kinh Mân Côi, xin Đức Mẹ bảo vệ thế giới khỏi đại dịch. Hồng Thủy - Vatican
Đây là lời nguyện chính thức của Hội đồng Giám mục Việt Nam để cầu nguyện trong cơn dịch bệnh Covid-19. Lạy Thiên Chúa Ba Ngôi toàn năng chúng con đang họp nhau cầu nguyện, tha thiết nài xin cho cơn dịch bệnh mau chấm dứt. Lạy Chúa Cha giàu lòng thương xót xin nhìn đến nỗi thống khổ của đoàn con trên khắp thế giới, đặc biệt tại những nơi dịch bệnh đang hoành hành. Xin củng cố đức tin của chúng con, cho chúng con hoàn toàn tín thác vào tình yêu quan phòng của Cha. Lạy Chúa Giêsu là Đấng cứu độ duy nhất, là vị lương y đầy quyền năng và lòng thương xót, xin thương cho các bệnh nhân sớm được chữa lành, và an ủi các gia đình đang gặp khó khăn thử thách. Xin cho lời chúng con khiêm tốn cầu nguyện, được chạm tới trái tim nhân lành của Chúa, xin giảm bớt gánh nặng khổ đau, và cho chúng con cảm nhận được bàn tay Chúa đang ân cần nâng đỡ chúng con.
Bảo Trợ