Thơ Kháng Chiến Dân Tộc

27 Tháng Năm 20142:30 CH(Xem: 2158)

Một phân định mới: (1945-49)



Viên Linh

Bài ghi chép dưới đây là một phần cuộc nói chuyện về Thơ Kháng Chiến Dân Tộc theo phân định mới (1945-1949). Bốn câu hỏi của nhà văn Phan Nhật Nam đã được tác giả Viên Linh trả lời như dưới đây:



Tình quân dân thời kháng chiến theo tranh vẽ của Ng. V Hiến trên bìa tờ Vui Sống, cơ quan truyền bá vệ sinh và y học của Cục Quân Y xuất bản tại Hà Nội năm 1946. (Hình Viên Linh cung cấp)

Phan Nhật Nam: Thêm một lần, chương trình VHVN hân hạnh giới thiệu một danh tính thân quen, vị khách quý được lòng mến mộ tin cậy của khán thính giả đài SBTN trong thời gian qua với những thảo luận nghiêm túc, phong phú chuyên đề văn hóa, văn nghệ: nhà văn, thi sĩ Viên Linh, chủ nhiệm chủ bút nguyệt san Khởi Hành, một trong những người hàng đầu bền bỉ duy trì, phát triển nguồn mạch văn hóa dân tộc suốt hơn 30 năm qua tại hải ngoại - Dòng văn hóa sinh động, nhân bản của Miền Nam (thành hình từ 1954). Còn hơn thế nữa, đấy cũng là ngọn nguồn sinh mệnh linh diệu của chung dân tộc Việt. 

Câu chuyện trình bày hôm nay xác chứng giá trị của chữ, nghĩa, lời thơ đã một lần vang dội núi sông, giữ lại trong lòng người giá trị muôn thuở của tình yêu: yêu nước và yêu con người dân tộc. Giá trị ấy hôm nay người chủ biên Khởi Hành quảng diễn với lòng thắm thiết qua chuyên đề: Thơ Kháng Chiến Dân Tộc giai đoạn 1945-54, được hưởng ứng nồng nhiệt của độc giả khắp nơi qua tờ báo ông chủ trương. Mời anh VL nói về chủ trương tổng quát của Khởi Hành và nay là cuộc “Phỏng vấn ngỏ về Thơ Kháng Chiến Dân Tộc giai đoạn chín năm 1945-54.” 

Viên Linh: Sinh hoạt VHNT một nước nào, một cộng đồng nào mỗi năm đều có những mùa, những thời điểm tổng kết, trước khi sang năm mới, mùa mới. Nó tới cao điểm bằng các giải thưởng. Không một quốc gia nào không có giải văn chương, giải kịch nghệ, giải ca nhạc. Vì cộng đồng tị nạn VN là một cộng đồng lưu vong, mà cộng đồng lưu vong nào thầy thợ cũng lẫn lộn, và trong lưu vong, vào một xã hội mới mà giá trị thường bị đánh giá lầm lẫn bằng tiền bạc, một người lính kiếm được 15 đồng một giờ đã có thể coi thường cấp chỉ huy cũ chỉ vì ông thầy kiếm có 10 đồng một giờ. Sự đảo lộn ấy cũng tương tự nơi giới báo chí, xuất bản: cứ có một ngàn là có thể in một tập thơ, tập truyện, nhưng in rồi không ai mua cả, nhưng cũng tứ thành nhà văn nhà thơ, trong sự hỗn độn.

Chúng tôi thành lập Giải Văn Chương là muốn nhắc nhở những người vô tâm rằng, cái gì cũng có giá của nó. Một năm có hàng ngàn cuốn sách in ra, mà chỉ có vài cuốn có giá trị thôi. Nhưng với một tờ báo văn học như Khởi Hành, giải thưởng của chúng tôi có một ý nghĩa khác: Đất nước đã hết chiến tranh mà sao nhà văn không được tự do cầm bút? Vì thế, mục đích đầu tiên của Giải Văn Chương Khởi Hành là trao cho những nhà văn chân chính không còn được cầm bút trên quê hương mình. Năm 2005 chúng tôi trao cho Nguyễn Thụy Long: nhà văn nổi tiếng của miền Nam phải sống bằng nghề sửa xe đạp ở đầu phố. Năm 2007 chúng tôi đã tuyên bố trao Giải cho nhà thơ Hữu Loan, một thi sĩ tài ba, một ông tú tài Tây nhưng phải làm nghề thồ đá để mưu sinh nuôi gia đình. Chúng tôi muốn mọi người nhớ rằng Việt Nam chưa có tự do, VN chưa phục hồi được các giá trị văn hiến của ông cha, của một nước có trường đại học đầu tiên, có Văn Miếu, có Quốc Tử Giám từ thế kỷ XI. Việt Nam chưa biết trọng giá trị trí thức, nhân văn, để những tài ba như Hữu Loan bị đày đọa trong tăm tối. Nó hỗn độn trên mọi lãnh vực, ta cần nhìn cho rõ mọi việc, và mỗi người đóng góp phần mà mình có khả năng hơn cả, để cho sự việc tốt đẹp dần lên.

Phan Nhật NamTrước khi đi vào chi tiết của chủ đề câu chuyện Thơ Kháng Chiến với những tác giả tiêu biểu, mời anh cho nhận định tổng quát về người và việc của giai đoạn “1945-54” dựa trên những dấu mốc lịch sử quan yếu. Mà từ đấy, không những chỉ riêng đối với người làm công tác văn hóa, văn nghệ, sáng tác thi ca, nhưng vận mệnh đất nước cũng chuyển động, thay đổi mạnh mẽ mà hệ quả tác động kéo dài đến tận hôm nay đối với mỗi người Việt trong nước cũng như hải ngoại.

Viên Linh: Tài ba không được tưởng thưởng, trọng dụng, cũng như tội ác không bị trừng phạt sẽ dẫn xã hội tới chỗ bất công, u minh, nghịch tặc, vô luân, vô văn hóa. Ở các nước văn minh, trong các xã hội công dân, cứ vài chục năm người ta bạch hóa các hồ sơ mật. Để làm gì? Để không cái gì có thể ém nhẹm được mãi. Đến hồ sơ KGB của Liên Xô dần dần cũng được phổ biến, nhờ thế người ta biết được trùm công an Liên Xô là Béria đã ngồi xe hơi mui kín ra phố bắt cóc phụ nữ về hãm hiếp ra sao, rồi Béria bị thanh toán như thế nào... Cũng nhờ sự bạch hóa ấy, người ta biết bà Nguyễn Thị Minh Khai là vợ Lê Hồng Phong, hai vợ chồng dự Đại Hội 7 của Quốc tế Cộng sản ở Mạc Tư Khoa vào năm 1934. Thế rồi trên giấy tờ thì bà Minh Khai cũng là vợ ông Hồ, cũng ở Mạc Tư Khoa... Cho nên phải nhìn lui dĩ vãng, phải phán xét dĩ vãng cho công minh để làm gương cho hiện tại và tương lai.

Gần đây Hà Nội phục hồi tư cách công dân cho một số nhà văn nhà thơ từng tham gia cuộc nổi dậy đòi tự do sáng tác, tách rời chính trị khỏi văn nghệ, ta quen gọi là vụ Nhân Văn Giai Phẩm. Thế nhưng họ không có một lời xin lỗi các nạn nhân hay gia đình họ, những người đã bị ức chế hà hiếp bị giam hãm tù tội và sách nhiễu khủng bố ba bốn chục năm trời, thiếu gì người như nhà thơ Trần Dần đã cắt mạch máu tự tử. Bởi thế Khởi Hành đưa ra chủ đề Thơ Kháng Chiến Dân Tộc giai đoạn chín năm 1945-1954. Để làm gì? Thưa để đăng lại nói lại những bài thơ hay những thi sĩ yêu nước như Hữu Loan, Văn Cao, Nguyễn Bính, Quang Dũng... Tại sao thơ yêu nước như thế, sống thanh bạch như thế, mà lại bị hành hạ như những phạm nhân tội hình như thế. Chúng ta hãy công bình với họ. Nhưng khổ một nỗi các thế hệ sau không biết tới sự bất công họ và gia đình họ đã trải qua. Cho nên phải phơi bày sự bất công ấy ra. Cho nên cần cho những người chưa biết, những thế hệ sau hiểu rằng: họ phải biết, nên biết, hãy tìm hiểu lại lịch sử văn học cũng như lịch sử dân tộc, để xem ai là tội nhân, ai là thủ phạm. Thủ phạm vẫn còn đó. Hãy nhìn lại chín năm Thơ Kháng Chiến Dân Tộc để biết ai là dân tộc, ai là yêu nước. 

Phan Nhật NamTrong bài viết chủ lực ở Khởi Hành H số 130 tháng 8.2007 nhằm trình bày quan điểm tổng quát về “Thơ Kháng Chiến/Giai Đoạn 1945-54,” anh đã có một phân định quan trọng về hai thời đoạn “1945-50; 1950-54.” Xin anh nói rõ hơn về sự phân định căn cứ trên hai thời điểm này...

Viên Linh: Chúng ta cứ quen nói tới Chín Năm Thơ Kháng Chiến mà không nhìn vào tình hình chính trị lúc ấy, để thấy rằng trên thực tế, Thơ Kháng Chiến Dân Tộc thực sự chỉ có từ 1945 kháng chiến chống Pháp tới hết năm 1949. Cũng tương tự ở Việt Nam, trong năm cuối cùng của Thế Chiến Thứ Hai, Trung Hoa bị phát xít Nhật chiếm đóng. 

Khi Nhật đầu hàng quân Đồng Minh, thì trong khi quân Anh vào giải giới quân Nhật ở miền Nam VN, quân Tàu đại diện Đồng Minh vào giải giới quân Nhật ở miền Bắc VN, thì quân Liên Xô đại diện Đồng Minh vào Trung Hoa giải giới quân Nhật. Đến khi quân Nga rút ra, họ trao những phần đất Trung Hoa họ kiểm soát cho quân của Mao Trạch Đông. Lúc ấy thủ phủ của Mao ở Diên An, và thủ phủ của quân Tưởng Giới Thạch ở Trùng Khánh. Với sự hỗ trợ mạnh mẽ của Staline, Mao hoàn toàn làm chủ Trung Hoa vào tháng 10, 1949. Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa tức là Trung Cộng chính thức thành lập từ 1 tháng 10, 1949. Nga công nhận ngày hôm sau. Và Nga-Hoa ký với nhau một hiệp ước liên minh 30 năm. Những gì xảy ra chúng ta có thể đoán được: ấy là từ tháng 10, 1949, cố vấn TC đã tới Việt Bắc, Thơ Kháng Chiến Dân Tộc VN phai nhạt dần, những Hữu Loan, Quang Dũng, Hoàng Cầm mờ nhạt dần trên diễn đàn văn nghệ, và nổi lên những Tố Hữu, Xuân Diệu, Ng Đình Thi. Thơ Kháng Chiến Dân Tộc thực sự im lặng từ 1950 cho tới 1954. Giai đoạn 4 năm sau này là thơ cộng sản núp danh kháng chiến, hay lấy dữ liệu kháng chiến để tuyên truyền cho nhân sự đảng.

Phan Nhật NamTrong số báo vừa kể, anh có gởi đến quý văn hữu, bạn đọc lời ngỏ về “Thơ Kháng Chiến/Giai Đoạn 1945-54” để người đọc theo dõi và trình bày ý kiến. Anh có thể nhắc lại ý kiến ngỏ này, đồng thời nói cùng quí khán thính giả SBTN vài ý kiến tiêu biểu của độc giả KH, để từ đấy, khán thính giả SBTN chúng tôi có thể tham gia với Khởi Hành một cách rộng rãi, tích cực hơn... Vì giai đoạn “1945-54” không phải chỉ quan trọng riêng đối với quá trình sáng tác thi ca mà đã một giai đoạn vô cùng trọng đại của lịch sử dân tộc, nhưng đến nay, vẫn chưa có một giải đáp đồng bộ, chung nhất (nhất là đối với những độc giả trẻ lớn lên từ hải ngoại, hoặc ngay cả những người trong nước cũng có lắm điều ngộ nhận do bị nhồi nhét lâu dài bởi những giải thích cưỡng ép từ phía nhà cầm quyền cộng sản). Có thể bằng chứng liệu thi ca, chúng ta sẽ giúp họ có được cách nhìn chính xác, sát với sự thật, thuận tình người hơn chăng. 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Tôi lặng đứng trước ngôi mộ đơn sơ của một người thầy cũ, đúng ra là Linh mục Hiệu trưởng, nhưng bây giờ cái cảm tưởng một vị thầy, một vị Hiệu trưởng để lại ấn tượng trong lòng tôi nhiều hơn cả chức năng mục vụ Linh mục của thầy./10 Tháng Mười Một 2012(Xem: 4010)/
Lời nói “Ta yêu con” cứ vang mãi trong những bước chân nhịp nhàng đầy hy vọng. Hai bên đường những cánh đồng lúa chín vàng, mùa gặt đến! Hồn nhỏ với tâm tình yêu mến người chết trên giá gỗ, đã hòa nhập với dòng người lên đường gặt hái những vụ mùa trên đồng lúa bao la!/18 Tháng Tư 2014(Xem: 3873)/
Trong các cha xứ về ở làng Ba, Vinh Trung lâu nhất là Cha Phêrô Trần Đình Trọng, khoảng mười tám năm, từ năm 1967 cho đến khi ngài qua đời vào năm 1985. Lâu như vậy cũng có thể vì thời cuộc vào thời điểm đó, và cũng nhờ đó Cha Trần Đình Trọng đã để lại nhiều ký ức, nhiều kỷ niệm trong lòng giáo dân Vinh Trung cho đến tận bây giờ./05 Tháng Chín 2014(Xem: 5563) Đặng Xuân Hường/
Năm 1954, Duyên Anh di cư vào Nam. Để kiếm sống, ông đã làm mọi công việc của một thanh niên hè phố, chẳng có nghề ngỗng nào nhất định. Khi thì theo một nhóm sơn đông mãi võ, khi tháp tùng đoàn cải lương lưu diễn đây, mai đó./17 Tháng Năm 2012(Xem: 5357) Đoàn Thạch Hãn/
Nói đến ngôi trường làng, lớp trẻ bây giờ và có lẽ lớp tuổi trên dưới năm mươi ở Bình Giã mấy mươi năm trước, không ai là không một thời cắp sách đến ngôi trường làng. Cái tuổi hồn nhiên, ngây thơ được đến trường ê a học vài chữ thấy sao nhớ thương chi lạ! blank Có một bài hát ngắn của những năm đầu tiên đi học, chắc chẳng mấy ai quên : "A b c là ba chữ đầu. Ô ê kia đầu có nón che. Học cho chăm đừng có khóc nhè”! Cái thuở mà học trò cắp sách đến trường chỉ vỏn vẹn cuốn tập, lọ mực tím, cây bút. Cặp sách, bút pilot, alpha...hồi đó còn là một xa-xí phẩm đối với học trò. Cha mẹ lo cày cấy, thu hoạch chẳng được bao nhiêu, làm sao có thể có đủ tiền bạc để mua sắm những thứ tốn tiền đó. Có sách vở bút mực là đã tương đối đầy đủ rồi. Đi học trường Tiểu học, tay ôm mấy cuốn tập, tay xách lọ mực tím, và đi chân đất! Bây giờ mỗi lần nghe đến "mực tím" tưởng tượng thấy dễ thương, hồn nhiên và rất gợi nhớ tuổi học trò.
Tôi vừa đọc bài " Những đức tính Tốt và Xấu của người Việt " trên trang mạng tiengnoigiaodan.net của Ông Đào Văn Bình. Tôi rất vui và đắc ý vì ông Bình đã có cái nhìn " quy tư " về con Người chính mình và đồng bào mình./12 Tháng Năm 2012(Xem: 6195) Nguyễn Quang/
Mỗi lần về thăm quê cũ, tôi thường gặp lại những người quen với nhiều kỷ niệm xa xưa trong ký ức, trong quá khứ. Năm nay, trong chuyến về quê thêm một lần nữa, tôi chợt thấy xao động trong lòng khi gặp lại một người bạn thân quen từ hồi còn nhỏ xíu, nhưng cái kỷ niệm khó quên thuở ngày xưa vẫn nằm im trong tiềm thức tôi từ ngày ấy./18 Tháng Bảy 2012(Xem: 8720) /
Khi nói về lịch sử Việt Nam, người ta thường hay nhắc đến cụm từ “Việt Nam có bốn nghìn năm văn hiến” mà văn hiến là truyển thống văn hóa lâu đời. Người ta cũng nói đến hai chữ văn vật vốn là truyền thống văn hóa biểu hiện ở nhiều nhân tài và nhiều di tích lịch sử.../09 Tháng Sáu 20122:00 CH(Xem: 4568)/
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh ("Tây tiến", thơ Quang Dũng) Xa nhìn thấp thoáng trong mây muôn bóng quân Nam chập chùng... (1) Câu hát ấy, từ bao năm nay vẫn cứ theo tôi, theo tôi mãi. Câu chuyện bắt đầu tư những ngày xa xưa, thuở tôi còn là cậu học trò nhỏ vừa bước vào năm học đầu tiên của một trường trung học ở thành phố cao nguyên có cái biệt danh nghe buồn buồn là "Buồn-muôn-thuở". Cậu học trò ấy, vào mỗi sáng thứ Hai, cùng chúng bạn đứng xếp hàng ngay ngắn trước sân cờ nao nức chờ đợi phút giây được tham dự vào nghi thức thượng kỳ đầu tuần trong bầu không khí thật trang nghiêm giữa sân trường thuở ấy.
“Thế là cậu đã nhẹ nhàng ra đi, rời xa cái thế giới mà cậu đã để lại rất nhiều sau hơn 80 năm góp mặt và đã sống tràn đầy từng phút từng giây. Trước hết, là một nhạc sĩ, cậu đã để lại hơn 200 nhạc phẩm, đã làm phong phú đời sống tinh thần và tình cảm của hàng triệu người nghe, và sẽ còn làm rung động tâm hồn hàng triệu người yêu nhạc nữa trong những thế hệ mai sau. Là một nghệ sĩ tài danh, cậu không kiêu căng lập dị. Trái lại, cậu đã luôn luôn cư xử khiêm tốn, nhún nhường, tôn trọng người khác như tác phong của con người có văn hóa, một đức tính đã khiến cậu được nhiều người mến mộ và noi gương. Là một nghệ sĩ chân chính, cậu đã không để đồng tiền làm vẩn đục tâm hồn. Cậu không đòi hỏi những ca sĩ trình diễn nhạc phẩm của mình phải trả tiền tác quyền mà chỉ nhận tiền của những ban nhạc lớn nhưng hầu hết số tiền thu được cậu đã đem tặng cho các hội từ thiện.
Bảo Trợ