Tại Sao Gọi Đức Mẹ Là Sao Mai?

26 Tháng Năm 201412:58 CH(Xem: 2773)
Một bài hát kính Đức Mẹ phổ thông nhất tại Việt Nam là “Lạy Mẹ là ngôi sao sáng, soi lối cho con lúc vượt biển thế gian”. Tại sao gọi Đức Mẹ là ngôi sao sáng?

FatimaStatue13081401-maria


Không riêng gì ở Việt Nam mà nhiều bài ca của phụng vụ trong toàn Giáo hội cũng tặng cho Đức Mẹ tước hiệu “ngôi sao”, chẳng hạn như trong Kinh cầu có câu “Đức Bà như sao mai sáng”, và nhất là thánh thi kinh chiều lễ Đức Mẹ “Kính chào Mẹ là sao Bắc Đẩu”. Thực ra trong nguyên bản la-tinh, đó là hai tước hiệu khác nhau: một bên là “sao mai” (stella matutina), nghĩa là ngôi sao lấp lánh trước khi mặt trời mọc (đối lại với “sao hôm”); bên kia là “sao biển” (stella maris). Mỗi tước hiệu có ý nghĩa khác nhau. Đó là những tước hiệu xuất hiện từ thời Trung cổ. Vào thời hiện đại, một tước hiệu nữa được đức Phaolô VI sử dụng là “ngôi sao của việc truyền giảng Tin mừng” (stella evangelisationis), với một ý nghĩa khác.

 

Chúng ta bắt đầu bằng tước hiệu thứ nhất. Tại sao gọi Đức Mẹ là sao mai?

 

Trước khi trả lời câu hỏi, thiết tưởng nên lưu ý một điều về ngôn ngữ. Khi gọi Đức Mẹ là ngôi sao, thì biểu tượng này cần hiểu theo ngôn ngữ bình dân chứ không theo nghĩa bác học. Theo ngôn ngữ bình dân, ngôi sao là một chấm sáng lấp lánh trên bầu trời, và nhỏ hơn mặt trời và mặt trăng. Trên thực tế, ta biết có những ngôi sao lớn hơn mặt trời cả chục lần, nhưng đó là ngôn ngữ bác học. Trong Kinh thánh, ngôi sao là biểu tượng của nhiều điều, hoặc tốt hoặc xấu. Biểu tượng xấu hơn cả là đạo thờ các tinh tú, bao gồm tục chiêm tinh bói toán. Đây là một điều mà các ngôn sứ cực lực bài trừ. Biểu tượng tốt của ngôi sao là nó mang lại ánh sáng trên bầu trời đen tối: dưới khía cạnh này, nó trở thành biểu tượng của đấng Mêsia, tức là vị cứu thế, như ta thấy trong lời sấm của ông Balaam ở sách Dân số, chương 24 câu 17. Từ đó mà có hạn từ “ngôi sao nhà Đavít”, nghĩa là đấng Mêsia sẽ xuất thân từ dòng dõi Đavít. Chính vì thế mà khi đức Giêsu sinh ra tại Bêlem, các đạo sĩ đã thấy mọc lên một ngôi sao như điềm báo, và rồi họ đã lên đường để bái phục ngài (Mt 2,2). Theo sách Khải huyền của thánh Gioan tông đồ, Đức Kitô tự xưng là Sao Mai (2,28; 22,16). Dù sao ta đừng quên rằng Đức Kitô cũng còn được ví như là Mặt Trời công chính (xc Lc 1,78), chứ không phải chỉ như là ngôi sao.

 

Như vậy trong Kinh thánh “sao mai” ám chỉ Chúa Cứu thế. Từ khi nào hình ảnh này được áp dụng cho Mẹ Maria?

 

Có nhiều giả thuyết. Nếu Chúa Giêsu được ví như mặt trời, thì Đức Mẹ được ví như mặt trăng, theo nghĩa là mặt trăng nhận ánh sáng của mặt trời và êm dịu dễ nhìn ngắm. Ngôi sao lấp lánh xem ra cũng muốn nói lên vai trò khiêm tốn của Đức Maria khi so sánh với mặt trời. Tuy nhiên một giả thuyết khác xem ra hợp lý hơn, đó là sự so sánh bắt nguồn từ việc giải thích danh tánh của Maria trong tiếng Do thái có nghĩa là “ngôi sao”, dựa trên uy tín của thánh Hiêrônimô (+420). Dù giả thuyết về lịch sử thế nào đi chăng nữa, từ thế kỷ IV, Đức Maria đã được các giáo phụ như thánh Ephrem (+373) gọi là “sao”. Dần dần, người ta mới thêm các hạn từ “sao mai” hay “sao biển”.

 

Tại sao gọi Đức Maria là sao mai?

 

Tước hiệu này được nhắc đến trong Kinh cầu Đức Mẹ, có lẽ cảm hứng từ sách Diễm ca chương 6 câu 10 ca ngợi vẻ đẹp rực rỡ của người tình: “Kìa bà nào xuất hiện như rạng đông, diễm kiều như vầng nguyệt?”. Tuy nhiên, khi áp dụng vào Đức Maria, các giáo phụ không dừng lại ở chỗ ca ngợi vẻ đẹp của “minh tinh” cho bằng nói đến vai trò của Người trong lịch sử cứu độ. “Sao mai” mọc lên trước rạng đông. Sau một đêm dài tối tăm, sao mai xuất hiện báo hiệu đêm sắp tàn, và mặt trời sắp mọc mở đầu cho một ngày mới. Đức Maria được ví như sao mai bởi vì người chuẩn bị cho Chúa Cứu thế giáng trần. Điều này được đề cao trong phụng vụ lễ kính sinh nhựt Đức Mẹ (ngày 8 tháng 9). Ngày nay, nhiều người muốn giải thích theo nghĩa khác. Cũng như sao mai dẫn tới mặt trời thế nào, thì Mẹ Maria cũng dẫn ta đến với Chúa Giêsu như vậy. Người trỏ cho chúng ta hướng về Chúa Giêsu, mặt trời công chính, và giục chúng ta hãy tìm đến nguồn sáng và nguồn sống.

 

Giữa sao mai và sao biển có gì khác nhau?

 

Sao mai và sao biển khác nhau chứ. Bài ca cổ điển ở Việt Nam gọi Đức Mẹ là “sao sáng” theo nghĩa là sao biển chứ không phải là sao mai: “Lạy Mẹ là ngôi sao sáng, soi lối cho con lúc vượt biển thế gian, Lạy Mẹ là ngôi sao sáng, soi lối con cho thẳng về nơi phúc nhàn”. Sự khác biệt giữa sao mai và sao biển có thể giải thích như thế này. Sao mai thì ở đâu cũng thấy được, dù là ở đồng ruộng hay núi cao. Sao mai báo hiệu mặt trời sắp mọc. Còn sao biển thì áp dụng riêng cho người ở miền biển, cách riêng là những người thủy thủ. Ngôi sao mang tính cách định hướng. Trong phụng vụ, tước hiệu “Sao biển” được áp dụng cho Đức Maria trong thánh thi nổi danh “Ave maris stella”, hát ở kinh chiều thứ hai các lễ kính Đức Mẹ. Trước đây thánh thi được gán cho thánh Bênađô (+1153), nhưng ngày nay người ta tìm thấy những thủ bản viết vào thế kỷ IX, nghĩa là trước đó 3 thế kỷ; thậm chí còn có ý kiến gán cho Venantiô Fortunatô thế kỷ VII (+609). Tuy nhiên, chính nơi các bài giảng của thánh Bênađô mà ta thấy nhiều lời giải thích thấm thía về ý nghĩa của biệt hiệu “sao biển”, nổi tiếng nhất là bài giảng ca ngợi danh Maria như sau: “Thực là chính xác khi ví Đức Maria với ngôi sao: cũng như ngôi sao chiếu tỏa tia sáng mà không mất mát thiệt thòi gì, thì Người trinh nữ cũng sinh Con mà không bị thương tổn gì... Đức Maria là ngôi sao rực rỡ và quý báu, được đặt ở trên biển rộng bao la; Người sáng rực vì công đức, lấp lánh vì gương lành. Khi bạn cảm thấy bị bão tố và làn sóng của thế gian lôi cuốn ra khỏi bờ đất liền, thì xin bạn đừng ngưng nhìn đến ánh sao này, nếu bạn không muốn bị chìm xuống dưới nước. Nếu sóng gió của cơn cám dỗ nổi lên, nếu bạn thấy mình vấp vào các tảng đá, thì bạn hãy nhìn lên ngôi sao, hãy kêu cầu Maria. Nếu bạn bị lung lay bởi cơn sóng kiêu ngạo, hám danh, lăng mạ, ghen tương, thì bạn hãy nhìn ngôi sao, hãy kêu cầu Maria. Nếu cơn giận dữ, tính tham lam, dâm dục ồ ạt làm lung lay chiếc thuyền của linh hồn bạn, thì bạn hãy ngước mắt về Maria. Nếu bạn khủng khiếp vì tội lỗi chồng chất, hổ thẹn vì lương tâm hoen ố, lo sợ vì sự phán xét công thẳng, nếu bạn thấy bị cuốn xoáy rơi xuống mồ của buồn sầu hoặc vực thẳm của thất vọng, thì bạn hãy nghĩ tới Maria. Lúc gặp hiểm nguy, âu lo, nghi nan, thì bạn hãy chạy tới Maria, hãy khẩn cầu Maria”. Bài giảng này trở thành bất hủ với lời khuyên: “hãy trông nhìn ngôi sao, hãy kêu cầu Maria” (Respice stellam, invoca Mariam!). Thánh Bênađô sử dụng một kinh nghiệm của những thủy thủ đi biển. Cuộc đời ta ví như chuyến vượt biển. Thuyền đời bị sóng gió bão táp, dễ bị cuốn trôi và chìm đắm. Những cơn sóng đó tượng trưng cho tội lỗi, đam mê. Muốn vượt qua cơn nguy biến đó, ta hãy ngước nhìn lên Đức Maria và kêu cầu Người giúp đỡ dẫn thuyền đến bờ bình yên. Ngôi sao là biểu tượng cho hy vọng tin tưởng, vì không sợ bị lạc hướng. Nên biết là thánh Bênađô không chỉ trình bày Đức Maria như là người mẹ sẵn sàng đến giúp đỡ những ai kêu cầu, nhưng Người còn là mẫu gương chiếu soi nữa. Người chiếu tỏa sáng ngời bởi các nhân đức. Vì thế nhìn Đức Maria như ngôi sao sáng cũng có nghĩa là bắt chước các nhân đức của Người.

 

“Sao mai” và “Sao biển” là những biểu hiệu lấy từ hiện tượng thiên nhiên. Thế còn “ngôi sao truyền giảng Tin mừng” dựa vào biểu tượng nào?

 

Như đã nói trên đây, các tước hiệu “sao mai” và “sao biển” đã được lưu hành từ thời Trung cổ và đã được du nhập vào các thánh thi và thánh ca. Còn tước hiệu “ngôi sao truyền giảng Tin mừng” thì mới xuất hiện từ thời cận đại, và được chính thức xử dụng trong tông huấn “Loan truyền Tin mừng” (Evangelii Nuntiandi) của đức Phaolô VI (ban hành ngày 8/12/1975) ở số 82, nghĩa là kết luận văn kiện. Văn kiện này đúc kết cuộc thảo luận của Thượng hội đồng giám mục bàn về việc rao giảng Tin mừng họp một năm trước đó. Sau khi đã trình bày xác định ý nghĩa, mục tiêu của việc loan báo Tin mừng, cũng như những phương tiện sử dụng và tinh thần truyền giáo, ĐTC kết thúc với việc giới thiệu Đức Maria như là “ngôi sao của công cuộc loan báo”. Ta có thể hiểu tước hiệu này theo nhiều nghĩa. Thứ nhất, như là mẫu gương của việc loan báo Tin mừng. Đức Maria là người tiên khởi loan báo Tin mừng, không phải theo nghĩa là đi khắp hang cùng ngõ hẻm để giảng thuyết, nhưng theo nghĩa là Mẹ đã mang Chúa Giêsu đến cho nhân loại. Thực vậy, loan báo Tin mừng không chỉ có nghĩa là thông tin, nhưng là trao ban Chúa Giêsu. Việc trao ban này được thực hiện bằng chứng tá đời sống, nhất là bằng tình yêu. Thứ đến, Đức Maria cũng là mẫu gương cho Hội thánh trong chức vụ làm Mẹ: Hội thánh cần phải sinh các linh hồn cho Chúa, nhờ lời giảng và các bí tích. Đây chính là mục tiêu tối hậu của việc loan báo Tin mừng, tức là đem các linh hồn về với Chúa. Hội thánh nhìn lên Mẹ Maria như mẫu gương, và đồng thời cũng xin Mẹ chuyển cầu cho sứ mạng của mình được sinh lại nhiều hoa trái.
 

Lm. Giuse Phan Tấn Thành

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Xin gửi bài này đặc biệt đến các Bà Mẹ trong Hội các Bà Mẹ Công Giáo mà Thánh Nữ Monica là Thánh Bổn Mạng, nhất là các Bà Mẹ đang đau khổ trong nước mắt để cầu nguyện cho chồng và cho con.../25 Tháng Tám 2012(Xem: 8569) Lm. Anphong Trần Đức Phương - Tinmungnet /
Phan Tấn Thành Dẫn nhập Trong các tín biểu, lời tuyên xưng về Giáo hội (Ecclesia) thường được kèm theo vài tính từ, với con số thay đổi. Tín biểu Epistula Apostolorum (khoảng năm 170) chỉ gồm năm mệnh đề, và mệnh đề thứ bốn là: “et in sanctam Ecclesiam” (Denz-Sch 1). “Thánh thiện” là đặc điểm cổ nhất, nói lên sự thuộc về Thiên Chúa. Trong “Tín biểu các thánh tông đồ”, ngoài “sancta” khi thêm “catholica” (sanctam Ecclesiam catholicam); bên Đông phương, tín biểu của Cyrillô Giêrusalem (khoảng năm 348) viết «una santa Chiesa catholica» (Denz-Sch 41) và của Epiphaniô năm 374 “una sola sancta Ecclesia catholica et apostolica” (Denz-Sch 42), đưa đến công thức của công đồng Constantinopolis năm 381 « unam sanctam catholicam et apostolicam Ecclesiam». Trong lịch sử thần học, đã có những quan niệm khác nhau về bản chất của bốn đặc tính này cũng như công dụng của chúng.
Nhiều sách về Đức Mẹ đã được các học giả Tin lành viết, nhiều cuốn cổ vũ người Tin lành nhìn sát hơn vào Đức Mẹ. Nhiều câu chuyện về các Phật tử và những người ngoài Công giáo đã đến viếng Đền Đức Mẹ Lộ Đức. Mặt khác, các tín đồ Hồi giáo cũng rất tôn trọng Đức Mẹ. Thật vậy, Đức Mẹ được nói đến nhiều lần trong kinh Koran, sách thánh của Hồi giáo, nhiều hơn cả trong Kinh thánh!/17 Tháng Bảy 2014 (Xem: 4787) /
NHỮNG SAI PHẠM CỦA SỨ ĐIỆP TỪ TRỜI 5. Các vấn đề liên hệ đến Hội Thánh. ▶5.1. Chối bỏ Huấn quyền của Hội Thánh. *SỨ ĐIỆP 06-04-2011. "...không một ai trong các con xứng đáng để phán xét hoặc tra xét về người khác. Không ai có quyền hạn hoặc hiểu biết thiêng liêng để đưa ra bất cứ sự đánh giá nào về đạo đức nơi người khác" NHẬN ĐỊNH. Nói như thế bà Maria Divine Mercy rõ ràng đã phủ nhận Huấn quyền của Hội Thánh. ▶5.2. Phủ nhận vai trò của Chúa Thánh Thần trong Hội Thánh. *SỨ ĐIỆP 12-04-2012. "Cơ mật viện Hồng Y bầu Giáo hoàng mới là những người theo bè Tam điểm, là tổ chức độc ác của Satan." NHẬN ĐỊNH. Rõ ràng bà Maria Divine Mercy không tin rằng Thánh Thần của Đức Kitô vẫn đang hiện diện và hoạt động trong Hội Thánh, không ngừng hướng dẫn Hội Thánh đạt đến chân lý toàn vẹn của Đức Kitô.
Nguồn gốc của mọi thiên chức linh mục Chủ đề linh mục là đề tài rất được quan tâm và mang tính thời sự trong thế kỷ qua. Công Đồng Vaticanô II đã dành trọn một tài liệu cho chủ đề này với sắc lệnh Presbyterorum Ordinis; năm 1992, thánh Gioan Phaolô II đã gửi tới toàn thể Hội Thánh tông huấn hậu thượng hội đồng Pastores Dabo Vobis, về việc huấn luyện các linh mục trong bối cảnh hiện nay; tiếp đến, khi công bố năm thánh linh mục 2009-2010, Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI đã phác thảo cách vắn gọn nhưng rất sâu sắc dung mạo linh mục dưới ánh sáng cuộc đời của Cha Sở xứ Ars. Cùng với đó là vô số những suy tư của nhiều tác giả trên thế giới được thực hiện và nhiều cuốn sách viết về chân dung và sứ vụ của linh mục qua dòng thời gian, trong đó rất nhiều tác phẩm có giá trị.
Trải qua lịch sử, Chúa nhật sau lễ Phục sinh đã được gọi bằng nhiều danh xưng khác nhau: Chúa nhật tám ngày sau lễ Phục sinh, Chúa nhật “Áo trắng” (in Albis), bởi vì các tân tòng cởi chiếc áo trắng mà họ đã lãnh nhận khi lãnh các bí tích khai tâm vào đêm Vọng Phục sinh, đánh dấu việc kết thúc giai đoạn huấn giáo khai tâm. Tại vài Giáo hội bên Ấn độ (tục truyền do thánh Tôma tông đồ thành lập), Chúa nhật sau lễ Phục sinh được gọi là chúa nhật thánh Tôma, bởi vì bài Phúc âm thuật lại cuộc gặp gỡ của Người với Chúa Kitô. Gần đây, Đức Gioan Phaolô II muốn thêm một danh xưng nữa, đó là “Chúa nhật kính Lòng Chúa Thương Xót”. Trong Năm Thánh 2000, Đức Gioan Phaolô II đã ấn định rằng trong toàn thể Hội thánh, Chúa nhật sau lễ Phục sinh, ngoài danh hiệu Chúa Nhật Áo trắng, sẽ còn được đặt tên là Chúa nhật kính Lòng Chúa Thương Xót.
Hôm thứ Sáu 12 tháng Hai, 2021, Mùng Một Tết Tân Sửu, Phòng Báo Chí Tòa Thánh đã công bố Sứ điệp Mùa Chay Thánh 2021 của Đức Thánh Cha Phanxicô. Nguyên bản tiếng Ý và các ngôn ngữ khác có thể xem tại đây. Dưới đây là bản dịch toàn văn sang Việt Ngữ. Sứ điệp Mùa Chay 2021 của Đức Thánh Cha Phanxicô “Nào chúng ta lên Giêrusalem” (Mt 20:18) Mùa Chay: Thời gian canh tân Niềm tin, Hy vọng và Tình yêu Anh chị em thân mến, Chúa Giêsu đã mặc khải cho các môn đệ ý nghĩa sâu sắc nhất trong sứ vụ của Người khi loan báo cho họ cuộc khổ nạn, cái chết và sự phục sinh của Người để hoàn thành Thánh ý Chúa Cha. Sau đó, Ngài mời gọi họ chia sẻ sứ mạng này để cứu độ thế giới.
WHĐ (15.2.2021) – Nhân kỷ niệm 60 năm thành lập hàng Giáo phẩm Việt Nam (1961 – 2021), chúng tôi xin được đăng bản dịch chính thức của Hội đồng Giám mục Việt Nam về Tông thư thành lập hàng Giáo phẩm Việt Nam – “Jam In Pontificatus” của Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII gửi hàng Giáo phẩm Việt Nam ngày 14.1.1961. * * *
Thứ Tư Lễ Tro năm nay sẽ rơi vào ngày 17 tháng Hai. Hôm thứ Ba, Vatican đã đưa ra hướng dẫn về cách các linh mục có thể xức tro vào Thứ Tư Lễ Tro trong bối cảnh đại dịch coronavirus. Bộ Phụng Tự và Kỷ Luật Bí Tích đã công bố một chỉ dẫn vào ngày 12 tháng Giêng, hướng dẫn các linh mục đọc công thức xức tro một lần cho tất cả mọi người có mặt, thay vì cho từng người. Nguyên bản tiếng Anh có thể xem tại đây. Dưới đây là bản dịch toàn văn sang Việt Ngữ. Bộ Phụng Tự và Kỷ Luật Bí Tích Công văn số 17/21 Chỉ dẫn cho ngày Thứ Tư Lễ Tro Việc xức tro trong thời gian xảy ra đại dịch Vị Linh mục đọc lời nguyện làm phép tro. Ngài rảy nước thánh lên tro, không nói gì cả. Sau đó, ngài nói với tất cả những người hiện diện chỉ một lần duy nhất công thức như được ghi trong Sách Lễ Rôma, áp dụng công thức ấy cho tất cả mọi người nói chung:
Ngày 1 tháng 10 năm 2010, Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hòa bình đã ra thông báo về án phong chân phước cho ĐHY Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận. Thông báo viết: “Ngày 22 tháng 10 tới, tức 3 năm sau khi loan báo việc mở Án phong chân phước, sẽ có phiên họp trọng thể mở cuộc điều tra ở cấp giáo phận về đời sống, các nhân đức và đời sống thánh thiện của Đấng Đáng Kính, ĐHY Việt Nam Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, người đã là Phó Chủ Tịch Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hòa bình từ năm 1994 và là Chủ tịch Ủy Ban này từ ngày 24 tháng 6 năm 1998 đến ngày 16 tháng 9 năm 2002”. Theo thông báo của Tòa Tổng Giám mục Tổng Giáo phận Tp. Hồ Chí Minh về việc điều tra án phong chân phước và phong thánh cho Đức Cố Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, do Đức Hồng Y GB Phạm Minh Mẫn ký ngày 1 tháng 1 năm 2012, chúng ta cùng tìm hiểu đôi nét về cuộc đời của Đấng Đáng Kính, Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận.
Bảo Trợ