Trung Cộng toan tính gì?

15 Tháng Năm 20142:00 CH(Xem: 2118)

Ngô Nhân Dụng

Việc đưa giàn khoan HD 981 tới “lô 143” trong vùng biển Việt Nam không thể là do một công ty CNOOC đề ra. Quyết định này phải xuất phát từ một tính toán của giới lãnh đạo Bắc Kinh. Tại sao Bắc Kinh muốn “gây sự” với Việt Nam vào thời điểm này? Họ tính toán những gì? Người Việt cần tìm hiểu các động cơ của Trung Cộng trong hành động ngang ngược này. Cần biết bên địch muốn gì để có thể đoán trước các nước cờ của họ trong thời gian sắp tới, ngõ hầu biết cách đối phó thích hợp.

Giàn khoan HD 981 mới bắt đầu hoạt động vào năm 2011; từ đó đến nay chỉ hoạt động ở ngoài khơi Hồng Kông mà không đi hơn. Trước đây Cộng sản Trung Quốc từng ký hợp đồng cho các công ty nước ngoài tìm dầu, khí trong vùng biển Hoàng Sa. Nhưng các công ty Âu Mỹ đã rút lui khi được Việt Nam cho biết đang tranh chấp chủ quyền tại đó. Trung Cộng hợp tác với các công ty ngoại quốc giầu kinh nghiệm và trường vốn thì có lợi hơn; vì các công ty Trung Quốc còn kém trong kỹ thuật tìm tòi dầu khí ở dưới đáy biển sâu. Công việc phức tạp, nhiều rủi ro vì chi phí cao mà kết quả không chắc chắn. Năm nay, Trung Cộng phải tự đem giàn khoan tới tìm dầu tại “lô 143.” Nhưng mục đích của hành động này không thuần túy để dò tìm dầu lửa. Giới lãnh đạo Bắc Kinh còn nhắm nhiều mục tiêu khác. Nếu trong sáu tháng, một năm, họ rút giàn khoan về, vì vùng biển này không đáng công sức và phí tổn, thì nhiều mục tiêu khác, từ gần tới xa, cũng đã đạt được. Chúng ta không thể giả thiết họ chỉ nhắm vào một mục tiêu trước mắt.

Kế hoạch của Bắc Kinh về lâu dài gồm hai mặt. Về chính trị, họ muốn làm chủ vùng biển Đông Nam Á, gây ảnh hưởng trên các quốc gia trong đó. Về kinh tế họ muốn chiếm đoạt các tài nguyên, đặc biệt là các mỏ dầu và khí đốt vì nhu cầu nền công nghiệp đang lên; đồng thời kiểm soát con đường hàng hải thiết yếu đối với kinh tế Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan và Hàn Quốc. Nói chung, mục tiêu của họ là mở rộng biên cương ảnh hưởng về phía Nam, tiếp tục tham vọng của các đế quốc từ thời nhà Tần, nhà Hán cho tới nhà Đại Thanh.

Người Việt Nam đã có kinh nghiệm về tham vọng của các triều đình phương Bắc. Trong quá trình bành trướng về phương Nam từ hơn 200 năm trước Công Nguyên cho tới thế kỷ thứ 20, đế quốc Hán tộc chỉ phải dừng lại khi gặp một “nút chặn” ngăn cản. Nút chặn đó dân tộc Việt, với tinh thần tự chủ và óc quật cường, Đứng Vững suốt một Ngàn Năm bị đô hộ. Người Việt Nam cần giải thích cho các nước Đông Nam Á biết vai trò “nút chặn” của dân tộc mình. Việt Nam đã tạo một hàng rào bảo vệ các nước khác không bị người Hán tràn lấn phương Nam trong hai ngàn năm qua. Các nước Đông Nam Á phải đoàn kết cùng dân Việt đề kháng chống tham vọng của đế quốc Hán tộc.

Sau ngàn năm Bắc thuộc, đế quốc vẫn tiếp tục xâm lăng trong thế kỷ 15, nhà Minh, và thế kỷ 18, nhà Thanh. Trước khi Đại Chiến Thứ Hai chấm dứt, ông Tưởng Giới Thạch xin đồng minh cho ông đưa quân vào nước ta, từ vĩ tuyến 16 ra Bắc, để tước khí giới quân Nhật đầu hàng. Trong thời dân Việt đánh Pháp, Mao Trạch Đông viện trợ đảng Cộng sản Việt Nam để thực hiện kế tràn xuống Đông Nam Á. Năm 1952, Mao bác bỏ chủ trương đánh chiếm các thành phố vùng đồng bằng của đảng Cộng sản Việt Nam. Mao cho mở mặt trận ở Lào và Campuchia; để cộng sản ba nước Việt, Miên, Lào liên kết lại, do các cố vấn Trung Cộng chỉ đạo. Cùng lúc đó các đảng cộng sản Thái, Mã Lai, Indonesia được Trung Cộng giúp đỡ; thực hiện kế hoạch nhuộm đỏ vùng Đông Nam Á. Đảng Cộng sản Trung Quốc tiếp tục theo con đường bành trướng cũ, mặc dù bây giờ họ không còn tuyên truyền chủ nghĩa cộng sản nữa.

Mục tiêu lâu dài của Bắc Kinh vẫn là chiếm ảnh hưởng trùm trên vùng Đông Nam Á, như ao cá sau nhà của họ. Họ cần tháo gỡ cái “nút chặn” trên con đường bành trướng của người Hán trong hai ngàn năm qua, là một nước Việt Nam độc lập. Hành động đưa giàn khoan dầu HD 981 tức Hải Dương Thạch Du (Haiyang Shiyou 981) vào vùng biển nước ta trước hết là một thử thách khả năng đề kháng của người dân Việt Nam còn mạnh tới mức nào. Đó cũng là một cuộc trắc nghiệm xem đảng Cộng sản Việt Nam phản ứng ra sao. Chính sách của Bắc Kinh vẫn là “mềm nắn, rắn buông,” tùy phản ứng của đối thủ mà thay đổi.

Ngoài thử thách nhắm vào người Việt, Bắc Kinh còn muốn thăm dò phản ứng của thế giới khi chứng kiến cảnh Trung Cộng trâng tráo chèn ép một nước láng giềng nhỏ hơn. Trước hết, họ muốn xem phản ứng của chính quyền Mỹ ra sao trong một tình thế khó xử. Ông Obama mới khẳng định những liên hệ quân sự của Mỹ với các nước Nam Hàn, Nhật Bản, và Philippines. Trong khi dư luận đang bàn tán về chính sách Mỹ “chuyển trục sang Á Châu” thì Trung Cộng gây hấn với Việt Nam để các nước Đông Nam Á thấy rõ Mỹ không hề phản ứng mạnh. Ngoài ra, Bắc Kinh nhân dịp này cũng thách đố các nước ASEAN xem họ có dám đứng ra bênh vực một nước hội viên đang bị xâm lấn hay không.

Có thể nói, Trung Cộng đã trắc nghiệm thành công. Họ thấy phản ứng rất nhẹ, gần như hờ hững của Mỹ và các nước ASEAN, khi nghe chính quyền cộng sản Việt Nam kêu cứu.

Nước Mỹ không có nhu cầu can thiệp vào quan hệ Việt Trung. Trong thập niên 1950, sau khi Cộng sản Bắc Hàn tấn công Nam Hàn, Mỹ muốn ngăn chặn không cho khối cộng sản nuốt chửng các nước Đông Nam Á, nên giúp miền Nam Việt Nam. Nhưng khi Nga Xô và Trung Cộng công khai chống lẫn nhau, chính quyền Mỹ đã giao thiệp trực tiếp với Bắc; Việt Nam không còn là một địa điểm chiến lược quan trọng nữa. Năm 1974, khi Hải Quân Trung Cộng tấn công chiếm Hoàng Sa của nước ta, hạm đội Mỹ ở ngay bờ biển Philippines vẫn không can thiệp, họ còn làm ngơ không cứu các quân nhân Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa bị đắm tàu. Năm nay, chắc chắn Mỹ phải biết trước việc Trung Cộng đưa HD 981 tới vùng biển nước ta, vì giàn khoan này phải di chuyển trong hàng chục ngày, đi từ đâu, theo hướng nào, chắc chắn vệ tinh nhân tạo của Mỹ đã chụp hình cho các cơ quan tình báo Mỹ phân tích nhưng họ không hề báo động cho chính quyền Việt Nam cũng như Philippines; cũng không tiết lộ tin tức cho các nhà báo.

Đối với quyền lợi của nước Mỹ, những tài nguyên nằm dưới đáy Biển Đông thuộc chủ quyền nước nào không quan trọng. Điều quan trọng là dù nước nào làm chủ, các công ty Mỹ được tham dự vào công việc khai thác bình đẳng với các quốc gia khác. Và Mỹ muốn bảo vệ đường hàng hải được an ninh không bị gián đoạn. Trái với lời tuyên truyền của Bắc Kinh, nước Mỹ không có nhu cầu ngăn cản việc phát triển kinh tế của Trung Quốc. Ngược lại, khi các nước giầu có hơn thì sẽ mua hàng hóa đắt tiền của Mỹ nhiều hơn. Sau Thế Chiến Thứ Hai, Mỹ không ngăn cản mà còn giúp cho các nước đối thủ cũ là Đức và Nhật Bản phục hồi kinh tế. Người Mỹ tin tưởng vào sức mạnh kinh tế của họ, sức mạnh đó đặt trên hệ thống giao thương tự do. Trong chính sách ngoại giao, các dân tộc không có bạn mà cũng không có kẻ thù vĩnh viễn, lúc nào cũng chỉ nghĩ tới quyền lợi quốc gia mà thôi.

Cho nên, đối với biến cố giàn khoan HD 981 phản ứng của chính phủ Mỹ vẫn chỉ nằm trong đường lối cũ của họ. Chính phủ Mỹ không có ý kiến về chủ quyền trên các hòn đảo tranh chấp; họ chỉ yêu cầu không gây nổ súng, không làm giao thông đường biển mất an ninh. Và họ kêu gọi các cuộc tranh chấp phải được giải quyết bằng pháp luật. Bắc Kinh không mong gì hơn.

Phản ứng của các nước ASEAN còn đáng thất vọng hơn nữa. Đáng lẽ trong hội nghị ở Naypyitaw, thủ đô Miến Điện các nước này phải tỏ ra đoàn kết với Việt Nam hơn. Nhưng bản thông cáo chung của hội nghị cũng nói những điều tổng quát không khác gì thái độ của chính phủ Mỹ. Chúng ta không thể chỉ trích thái độ hững hờ của các nước Đông Nam Á. Từ xưa đến nay, chính quyền Việt Nam lúc nào cũng nhất thiết theo chủ trương chỉ nói chuyện “song phương” với Trung Cộng. Đảng Cộng sản Việt Nam đã tỏ ra hoàn toàn hững hờ trước các cuộc tranh chấp giữa Trung Cộng và Malaysia, Philippines. Đến khi “giặc vào nhà” mới kêu cứu, nhưng vẫn vừa tố cáo vừa xin hòa.

Trung Cộng đã thắng khi các nước ASEAN và Mỹ không có một hành động nào cụ thể. Họ có thể tiếp tục kéo dài tình trạng giằng co hiện nay ở Lô 143 trong một thời gian dài nữa. Đây là hành động “dạy cho đảng Cộng sản Việt Nam một bài học,” nhưng theo cách mới. Nhưng Trung Cộng có thể kéo dài trò mèo vờn chuột này cho đến bao giờ?

Chính dân Việt Nam sẽ quyết định. Trong ngày Chủ Nhật vừa qua, dân chúng Việt Nam đã được phép biểu tình công khai “chống Trung Quốc xâm lược.” 
Đảng Cộng sản bất đắc dĩ phải cho phép, vì không cho không được. Nhưng các cuộc biểu tình, từ Nam ra Bắc, đã mở ra những cánh cửa mới cho những người Việt yêu nước! Ai cũng biết, từ mười năm nay những người Việt tham dự biểu tình chống Trung Cộng xâm lăng cũng chính là những người tha thiết muốn cho dân tộc được hưởng cuộc sống tự do dân chủ. Người đi biểu tình chống Trung Cộng đã bị đảng Cộng sản đàn áp bao năm qua. Điếu Cầy, Tạ Phong Tần, tới Đinh Nguyên Kha, vân vân, nay vẫn bị tù, cho nên muốn chống Trung Cộng xâm lược thì phải chống cả bè lũ độc tài lệ thuộc 16 chữ vàng.

Những cuộc biểu tình khắp nước từ Chủ Nhật vừa qua giống như một vị thần trong chuyện cổ tích đã thoát ra khỏi cây đèn thần của Aladin. Không ai có thể nhét vị thần vào trong cây đèn trở lại được nữa. Phong trào này sẽ gia tăng cường độ, càng đàn áp càng mạnh hơn. Tiêu biểu trong phong trào này, nhà báo Huy Đức viết rằng đã tới lúc đảng Cộng sản Việt Nam phải xét lại chính sách giao thiệp với Bắc Kinh, và từ bỏ không bắt chước mô hình kinh tế của Trung Cộng. Huy Đức thấy biến cố giàn khoan 981 có thể là động cơ thúc đẩy đảng Cộng sản quay đầu trở lại với dân tộc Việt, đánh đuổi quân xâm lược Bắc Kinh.

Với đà phát triền của phong trào chống đối, này, sẽ tới lúc đảng Cộng sản Trung Quốc thấy họ phải ra tay cứu mạng các đàn em trong đảng Cộng sản Việt Nam. Nếu không đảng Cộng sản Việt Nam sẽ tự tan vỡ hoặc bị lật đổ. Trung Cộng sẽ thấy duy trì một chế độ cộng sản dễ bảo ở Hà Nội là con đường ít tổn phí nhất trên con đường gây ảnh hưởng trong vùng Đông Nam Á. Ngược lại, nếu tiếp tục con đường uy hiếp, tới lúc nước Việt Nam có một chính quyền thật sự do dân chúng bỏ phiếu bầu lên, thì chính quyền đó chắc chắn sẽ “khó bảo” hơn. Con đường tồi tệ nhất là xâm lăng bằng vũ lực. Sẽ tốn tiền bạc, mạng sống, và phải đối đầu với một dân tộc đã quen đánh du kích từ thời Triệu Quang Phục. Xâm lăng Việt Nam sẽ khiến tất cả các nước vùng Á Đông và Đông Nam Á bắt đầu một cuộc chạy đua vũ trang để tự vệ. Tất cả các nước đó sẽ giảm bớt việc thương mại với Trung Quốc; kinh tế nước Trung Hoa sẽ đứng khựng lại. Các nước Đông Nam Á sẽ cùng Mỹ và các nước Âu Châu viện trợ vũ khí cho người Việt kháng chiến.

Cho nên, nếu trong những ngày tháng tới dân Việt tiếp tục biểu lộ tinh thần quật cường, nếu Cảnh sát biển Việt Nam tiếp tục kiên nhẫn và dũng cảm bảo vệ mặt biển di sản của tổ tiên, thì sẽ tới ngày chính Bắc Kinh sẽ phải xuống thang. Không thể đoan chắc ngày nào chuyện đó sẽ xảy ra. Vì tất cả tùy thuộc thế cân bằng lực lượng; giữa khả năng đề kháng của dân tộc Việt và tham vọng lớn nhỏ của các hoàng đế nhà Hán nhà Đường. Người Việt đang sống lại kinh nghiệm của tổ tiên trong hai ngàn năm đối đầu với các bạo chúa phương Bắc; lại nghe tiếng sóng Bạch Đằng, tiếng ngựa hí ở Ải Chi Lăng. Các hoàng đế nhà Minh, nhà Thanh đã từng phải bỏ tham vọng thôn tính nước Việt, tìm đường gỡ thể diện tháo lui. Nhưng dù Trung Cộng rút lui sớm hay muộn, vị thần trong cây đèn đã thoát ra ngoài, dân Việt không thể nào cúi đầu chịu nhục nữa.

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Gần đây, dư luận dậy sóng trước tuyên bố của một vị giáo sư rằng học phí cấp đại học nên được coi là rào cản kỹ thuật cho đầu vào. Tư tưởng học phí giống như một khoản đầu tư [ở một số ngành nghề] vốn là tư tưởng được chấp thuận ở các nước có nền giáo dục tiến bộ, nhưng áp dụng tại Việt Nam thì dường như chưa hợp lý lắm. Tăng, giảm hay miễn phí giáo dục? Phát biểu tại diễn đàn Quốc hội sáng 25/7 vừa qua, GS Lê Quân (đại biểu Cà Mau) nói: “Chúng ta cũng phải đảm bảo rằng học phí cũng là một rào cản kỹ thuật để tránh việc học sinh lao vào học đại học và trở thành "học đại"", phải coi học phí đối với người học là nguồn đầu tư, thông lệ quốc tế học phí bao giờ cũng bằng gần hai năm tiền lương sau khi tốt nghiệp.
Liệu các cuộc tấn công mạng do Bắc Kinh hậu thuẫn gần đây nhắm vào Mỹ có dẫn đến chiến tranh thật? Đây là câu hỏi mà nhà kinh tế học người Mỹ David P. Goldman đã đặt ra gần đây. Một câu hỏi quan trọng, hiện hữu và rất khó trả lời. Tuy nhiên, vào tháng trước, Tổng thống Joe Biden đã cảnh báo rằng các cuộc tấn công mạng gần đây, bao gồm việc tấn công mạng các cơ quan chính phủ và cơ sở hạ tầng của Hoa Kỳ, rất có thể dẫn đến một “cuộc chiến nổ súng”. Ông Biden tiếp tục: “Tôi nghĩ có nhiều khả năng chúng ta sẽ kết thúc — à, nếu chúng ta có kết cục là một cuộc chiến, một cuộc chiến tranh thực sự với một cường quốc, thì đó sẽ là hậu quả của một tấn công mạng với hậu quả rất lớn”, "cường quốc" đó, tất nhiên, là Trung Quốc. Như ông Goldman lưu ý: "Nận xét của ông Biden được đưa ra trong một văn bản do văn phòng báo chí Tòa Bạch Ốc lưu hành", chúng không phải là sản phẩm của “loạn ngôn tự phát”. Không, họ đã cố tình.
Bệnh dịch lây lan trên toàn quốc là một mối đe dọa tiềm tàng đối với ĐCSTQ. Hiện tại, Delta đang điều khiển nhiều xã hội trên khắp thế giới, nhưng Trung Quốc dường như là nước duy nhất mà biến thể này có thể kết thúc nhiệm kỳ của nhóm cầm quyền. COVID-19 đang tàn phá Trung Quốc Biến thể Delta đang lan nhanh trên khắp đại lục và Bắc Kinh không có giải pháp nào mới ngoài các biện pháp vũ lực tàn bạo, độc tài toàn trị — và đổ lỗi cho người nước ngoài. Hàng triệu người dân Trung Quốc hiện đang bị phong tỏa. Các ca nhiễm gần đây tạo thành đợt bùng phát coronavirus trên diện rộng, thậm chí còn rộng hơn so với đợt bùng phát vào năm ngoái. Đợt bùng phát mới này đã nhanh chóng vượt ra ngoài tầm kiểm soát của các nhà chức trách và phá vỡ kế hoạch tuyên truyền cốt lõi của Đảng cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ).
Và nay nước Mỹ đang dần tiến vào một xã hội tự do cực tả, nơi xấu đã trở thành tốt và tốt đã trở thành xấu. Những điều tưởng chừng vô lý thì nay là hiện thực, ví như người nhập cư bất hợp pháp được ra vào tự do trên đất Mỹ, và được hưởng quyền “ưu đãi” hơn cả một công dân Mỹ “chính cống”... Khi những bậc lão thành vừa nhâm nhi cà phê vừa hồi tưởng lại quãng thời gian yên bình cách đây hơn nửa kỷ bằng câu mở đầu “muôn thuở”: “Hồi ấy, bố/mẹ ….”, thì bạn đừng than vãn: “Biết rồi, khổ lắm nói mãi”. Bởi nếu có cỗ máy thời gian cho phép bạn quay trở lại thời điểm cách nay hơn nửa thế kỷ, bạn có gật đầu không? Hơn nửa thế kỷ trước, sẽ không có Internet, không có smartphone, điện thì chập chờn và tất nhiên nếu nhà nào sở hữu một cái tivi đen trắng thì trở thành trung tâm "chiếu phim" cho cả cộng đồng.
Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) đã dựa vào hàng loạt lời nói dối về kinh tế để làm lung lay nhận thức của nhiều người về tình hình hiện tại. Trong bài viết này, chúng tôi xem xét một số lời nói dối lớn nhất và đưa ra bức tranh thực sự đằng sau những lời nói dối đó.
Trong 4 năm nhiệm kỳ của Tổng thống Trump, Big Media đã chế tạo ra bao nhiêu lời dối trá để bủa vây ông? Đã có bao nhiêu thông tin bị lật tẩy giúp công chúng được giải khai sự thật? Mời quý độc giả cùng NTD Việt Nam điểm lại 8 lời dối trá nổi bật nhất về ông Trump của Big Media, trong lúc chờ đợi các thông tin cập nhật từ các cuộc thanh tra kết quả bầu cử tại các tiểu bang Arizona và Georgia. Trong suốt 4 năm dẫn dắt nước Mỹ, cựu Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump đã đạt được rất nhiều thành tựu. Trong nước, ông Trump không chỉ lấp đầy nền sản xuất rỗng sau nhiều thập kỷ hoang phế, mang lại việc làm và sức tăng trưởng bền hơn cho nền kinh tế, ông còn khôi phục các giá trị truyền thống đang bị bào mòn, xâm lấn triệt để bởi tư tưởng cấp tiến như bảo vệ thai nhi.
Mới đây, ông Hồ Tích Tiến, Tổng biên tập của Tờ Thời báo Hoàn Cầu - Cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ), đã phụ hoạ theo chính quyền Bắc Kinh khi "khoe khoang" rằng Taliban và Trung Quốc là bạn. Phản ứng của dân cư mạng Trung Quốc dậy sóng trước tuyên bố này. Nhưng quả thật, ông Hồ Tích Tiến có thể 'lỡ lời' nhưng không hề 'quá lời'. Không chỉ Taliban, Trung Quốc có mối quan hệ lâu đời, thâm sâu và nhiều lợi ích về mua bán vũ khí, tài nguyên và tạo hỗn loạn để kiếm lời từ các tổ chức khủng bố, chế độ độc tài khắp toàn cầu. Có vẻ như ĐCSTQ đang chuẩn bị cho việc can thiệp vào Afghanistan, đất nước đang bị chiến tranh tàn phá này thông qua sáng kiến ​​"Một vành đai, Một con đường" (BRI), nhằm lấp đầy khoảng trống mà quân đội Mỹ và Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương để lại sau khi rút quân khỏi đây.
Phần 5: Vì sao nói thế giới đang rơi vào vòng xoáy khủng hoảng tài chính tồi tệ nhất trong lịch sử? Cuộc khủng hoảng tài chính - kinh tế lần này sẽ trở thành cuộc khủng hoảng tồi tệ nhất trong lịch sử kinh tế thế giới, cái giá phải trả sẽ đắt đỏ hơn nhiều so cuộc khủng hoảng trước, bởi nó cùng một lúc hội tụ 3 hiện tượng không mong muốn trong kinh tế học: bong bóng nợ - “Voi trắng”, suy giảm tăng trưởng do yếu tố chu kỳ - “Tê giác xám” và dịch bệnh - “Thiên nga đen”...
Tuần lễ cuối tháng ba đầu tháng tư vừa rồi, Tập Cận Bình, Chủ tịch Trung Quốc đến thăm ba nước Pháp, Đức, Bỉ. Paris là điểm dừng chân đầu tiên. Ông giành ưu tiên này cho Pháp quốc bởi cách đây tròn 50 năm, tháng Giêng năm 1964, tổng thống Pháp, tướng Charles De Gaule là nguyên thủ phương Tây đầu tiên ban ân huệ cho Mao, công nhận nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Để tỏ lòng hiếu khách, Pháp không những trải thảm đỏ tận chân cầu thang máy bay, mà còn trải lòng ra đón. Yến tiệc xa hoa chưa từng có tại lâu đài Versailles nguy nga. Buổi hòa nhạc Trung Hoa tại nhà hát Opera. Dạ tiệc, khiêu vũ lu bù trong cung điện Roi-Soleil tráng lệ. Champagne trào bọt trắng lòa với những hợp đồng chục tỷ Euro. Khác hẳn Pháp, người Đức đón Tập không ồn ào, xa xỉ, nhưng cũng vẫn giành được những hợp đồng không thua kém. Đặc biệt là bà Thủ tướng Angela Merkel đã ghi hai bàn thắng ngoạn mục, mà vẫn giữ đúng những nghi lễ ngoại giao.
Phần 4: Trung Quốc đại sụp đổ? Nền kinh tế Trung Quốc đang phải đối mặt với việc sụt giảm hiệu suất trong hơn 1 hoặc 2 quý.
Bảo Trợ