BẰNG CHỨNG MẸ MARIA TRỌN ĐỜI ĐỒNG TRINH

16 Tháng Bảy 20122:00 CH(Xem: 4478)

BẰNG CHỨNG MẸ MARIA TRỌN ĐỜI ĐỒNG TRINH

 Người viết: Đaminh Phan văn Phước

blankVài hàng ''phi lộ'': Theo đề nghị của một số phụ huynh ở hải ngoại là để cho con cái (rành tiếng bản xứ và cổ ngữ) tìm hiểu về Kinh Thánh, tôi đưa vào bài viết các câu tiếng Anh, Pháp, Đức và Latinh.

 + + +

Sau khi Adam-Eva phạm tội ''muốn bằng Chúa'', dù sắp sửa ra hình phạt cho hai người, Ngài vẫn chạnh lòng thương họ, mà hứa ban Ơn Cứu Rỗi qua cách Ngài nói với con rắn (Satan) như thế này: ''Ta sẽ tạo mối thù giữa ngươi và người đàn bà, giữa dòng giống ngươi và dòng giống bà ta; dòng giống ấy sẽ đạp đầu ngươi, và ngươi sẽ cắn vào gót nó."

Như vậy, Lời Chúa hứa vừa nêu là TIN MỪNG NGUYÊN THỦY cho biết sẽ có Chương Trình Tân Sáng Thế. Cho nên, Do Thái là Dân được Chúa biệt chọn để cho Lời Ngài hứa có ngày thành sự nơi Dân Tộc này như nỗi lòng của Tổ Phụ trong Cựu Ước: ''Hồn con khao khát Thiên Chúa, Chúa Trời hằng sống. BAO GIỜ con được đến mà thấy Tôn Nhan? (TV 42, 3) Đêm đêm, hồn con khao khát Chúa, nơi đáy lòng, sinh khí con khắc khoải tìm Ngài. Khi Chúa thực thi phán định của Ngài trên cõi đất, thiên hạ học biết sự công chính.'' (Isaya 26, 9)

Nhắm thực hiện một công ích nào đó, thiên hạ còn biết lựa người, ''chọn mặt, gởi vàng'', huống chi là Thiên Chúa! Ngài tiền định ''Thọ Tạo Maria'' trong Miêu Duệ của bà Eva như Ngài đã phán với Satan ở Vườn Địa Đàng. Khi ''Định Kỳ'' đã đến, Ngài cho CON MỘT ''nhập thể'' trong lòng Trinh Nữ. Ngài còn ''âm thầm chọn'' Thánh Giuse là người công chính để Thánh Nhân làm Dưỡng Phụ Chúa Cứu Thế và ''kính trọng quyết định'' của Trinh Nữ là ''giữ mình đồng trinh trọn đời''. 'Thánh Ân Đặc Biệt'' này nơi Mẹ của Chúa Cứu Thế có bằng chứng trong Kinh Thánh như sau:

I . TIN MỪNG theo Thánh Luca

A. Câu tối quan trọng:

"Điều ấy (sẽ) xảy ra làm sao được tôi không biết đến đàn ông nào cả? How shall this be since I know no man? Comment cela se fera-t-il puisque je ne connais point d'homme? Wie soll das geschehen, weil ich keinen Mann erkenne?''

a. Từ chìa khóa (mot-clé):

Là hai chữ ''không biết'' ở THÌ HIỆN TẠI, CÁCH KHẲNG ĐỊNH (Present Tense, Indicative Mood).

b. Ý nghĩa Thì Hiện Tại của hai chữ ''không biết'':

giá trị thực sự trong mọi thời: vrai en tout temps. Ví dụ khác: Quả đất quay quanh mặt trời. (La terre tourne autour du soleil.) Thì Hiện Tại này có nghĩa là: Hôm qua, quả đất quay quanh mặt trời; hôm nay, nó cũng quay như vậy; và, ngày mai hay trong tương lai, nó cũng quay như thế!!!

d. Túc từ (object) của ''không biết'':

Là chữ ''đàn ông''! Trinh Nữ chẳng nói ''Tôi không biết đến Giuse'', mà khẳng định chắc nịch: ''Tôi không biết đến đàn ông nào cả!!!'' Cho nên, trong tiếng Pháp, Anh, phải dịch là: ''Je ne connais point d'homme. I know no man.'' với ý khẳng định rõ hơn ''Je ne connais pas d'homme. I don't know any man.''

e. Sự kiện lạc mất Chúa chứng minh ý trong phần d ở trên:

Đọc Luca 2, 1-51 có vài sự kiện về ba Đấng, tôi tin chắc rằng, khi được họ hàng thân thích và người quen thuộc hỏi hai Ngài lạc mất đứa con nào, có mấy đứa tất cả, những đứa kia đang ở đâu…, để chứng minh gián tiếp Trẻ Giêsu là ai, Mẹ Chúa cũng lặp lại câu có túc từ trực tiếp: ''Tôi không biết đến đàn ông nào cả !'' Bằng chứng là Thánh Giuse và Trinh Nữ Maria không có người con nào khác ngoài Chúa Giêsu ĐÃ mười hai tuổi khi Ngài theo Cha-Mẹ đến Đền Thờ Giêrusalem!!!

g. Không thể dùng động từ ''biết'' ở Thì Quá Khứ trong trường hợp như sau:

Giả như có ai đương thời với Mẹ hỏi Ngài sao chỉ có một mình con trai là Chúa Giêsu, Mẹ ''phải'' trả lời với Thì Hiện Tại như đã trình bày trong phần b: ''Vì tôi không biết đến đàn ông nào cả!''

Ngoài ra, ở tuổi ba mươi, trong Thời Kỳ Rao Giảng, Chúa về thăm Mẹ và cùng Ngài đi dự tiệc cưới Cana (Gioan 2,1-11), chẳng có ai là anh-em của Ngài (cùng Mẹ, khác Cha) đi theo hai Mẹ-Con Ngài cả! Rồi, vào Giờ Trọng Đại trên Đồi Canvê, chẳng ''thấy'' ANH-EM-RUỘT nào của Ngài cả! Nếu có, Chúa nỡ lòng nào mà để họ ''trôi sông, lạc chợ''? Nếu có, lẽ nào Mẹ không biết dạy họ như đã từng dạy người trong tiệc cưới: ''Ngài bảo gì thì hãy làm theo lời Ngài.''? Nếu có, tại sao ba người em kia không hè nhau, tranh nhau góp ''gạo'' để nuôi Mẹ đơn chiếc? Nếu có, tại sao họ bị ''xóa tên trong Gia Đình'' khi Thánh Giuse không còn tại thế để rồi Chúa liền trối: ''Thưa BÀ, này là con BÀ! Con ơi, này là MẸ con!''??? Nếu có, việc Thánh Gioan ''rước MẸ về nhà mình'' coi có được với ba người ''ấy'' không??? Xin trả lời: ''Mẹ chỉ có một mình Chúa Giêsu mà thôi. Người đời cũng không muốn có ''anh em cùng mẹ, khác cha'', huống chi ''Thiên Chúa Cứu Chuộc'' là Ý NGHĨA của Thánh Danh GIÊSU càng không để cho MẸ vừa là Mẹ Thiên Chúa, vừa là Mẹ của ông A, ông B, ông C!!! Vả lại, Thiên Sứ đã nói với Mẹ: ''Chẳng có sự gì mà Thiên Chúa không làm được.'', huống chi là việc giữ gìn Trinh Khiết cho Mẹ của Chúa Cứu Thế!!!

h. Ý nghĩa khác của hai chữ ''không biết'':

Là lời xác tín ''khuôn vàng, thước ngọc'' mà Trinh Nữ ''thỏa thuận'' với Thánh Giuse. Có thỏa thuận thì Mẹ mới ''cam đoan'' với Thiên sứ như thế. Mẹ lặp lại LỜI THỀ ấy là để hỏi Thiên Sứ về ''Cái như thế nào: The How, Le Comment, Das Wie'' để biết cụ thể Thánh Ý và Hành Động của Thiên Chúa. Chứ Mẹ không hoài nghi hay không tin mà cười như bà Sara trong Cựu Ước, như ông Diacaria trong Đền Thánh vào Giờ Dâng Hương để rồi bị Chúa phạt cho mù tạm thời.

Nhân đây, tôi xin viết lại cách khác lời Mẹ ''hỏi và tái khẳng định'' với Thiên Sứ như sau: '"Điều ấy (sẽ) xảy ra làm sao được? Bởi chưng tôi không biết đến đàn ông nào cả!'' (Comment cela se fera-t-il? Car je ne connais point d'homme! - How shall this be? For I know no man! Wie soll das geschehen? Da ich erkenne keinen Mann!) Dấu hỏi đưa sang mệnh đề thứ nhất; còn dấu cảm / dấu than thì sang mệnh đề thứ hai. Không còn mệnh đề chính và phụ vì cả hai độc lập về hình thức, nhưng được khăng khít với nhau bằng liên từ phối hợp: conjonction de coordination. Tôi phải viết như thế vì đã có người lầm tưởng rằng mệnh đề ''vì tôi không biết đến đàn ông nào cả'' cũng là câu hỏi.)

i. Bà Êlisabet Isave

''Được đầy Thánh Thần, Bà Êlisabet thốt lên tiếng kêu lớn và nói: ''Chính em là người có phúc trong nữ giới, trái của lòng dạ em cũng có phúc. Và bởi đâu chị được Mẹ Chúa của chị đến với chị? Này, tiếng em chào vừa đến tai chị thì hài nhi trong dạ chị nhảy mừng. Phúc cho người nữ đã tin rằng lời Chúa phán cho người ấy sẽ thành sự. Benedicta tu inter mulieres, ET benedictus fructus ventris tui. Et unde hoc mihi, ut veniat Mater Domini mei ad me? Ecce enim ut facta est vox salutationis tuae in auribus meis, exsultavit in gaudio infans in utero meo. Et beata, quae credidit, quoniam perficientur ea, quae dicta sunt ei a Domino.'' (Luca 1, 41-45)

- Chữ là liên từ chỉ hậu quả vốn là ''Trái'' của lòng dạ Trinh Nữ. Người Việt mình cũng nói: ''Mẹ ăn gì, con ăn nấy.'', huống chi là Thánh Mẫu và Con yêu dấu của Ngài! Xin viết câu của chứng nhân Êlisabet theo cách khác: ''Em có phúc, CHO NÊN trái của lòng dạ em có phúc.'' Thi Sĩ Lamartine cũng dùng chữ '''' như thế: ''Un seul être vous manque, et tout est dépeuplé.'' (Vắng chỉ một người, () / cho nên tất cả là vô cư dân.) Các Cụ ngày trước đã dùng chữ ''và'', lại còn thêm chữ GỒM rất hay: ''Bà có phước lạ hơn mọi người nữ, Giêsu con lòng Bà GỒM phước lạ.'' Đúng vậy, ''gồm'' là ''bao gồm, có tất cả'' những gì từ nơi BÀ như lời chào và ngợi khen của Thiên Sứ: ''Hãy vui lên, Ân Phúc Đầy: Chúa ở cùng Cô … Cô đã được đắc sủng nơi Thiên Chúa.''

- Chữ ''được đầy Thánh Thần; Mẹ Chúa''!

Rõ ràng không phải Bà Êlisabét ''xuất khẩu thành Thi Thiên'', mà Chúa Thánh Linh, Tác Giả của Thai Nhi trong Lòng Trinh Nữ, đã hành động nơi ''Phát Ngôn Viên Êlisabet''! Ngôn ngữ loài người bị giới hạn bởi ''thời và không gian'' (ở đây và bây giờ: hic et nunc); nhưng Lời Chúa thì vĩnh hằng. Cho nên, nói qua Bà Êlisabét hôm xưa là Thánh Thần còn nói hôm nay, nói ngày mai, nói trong tương lai, nói khi mà Vũ Trụ này qua đi và nói trên Thiên Đàng rằng Trinh Nữ là MẸ CHÚA mà thôi, chứ không có chuyện Ngài còn là mẹ của ''ông Xoài, ông Bưởi, ông Mít'' nào cả!!!

- Chữ ''đến với chị''

Được mang Chúa đến, bà Êlisabét và thai nhi Gioan Tẩy Giả mừng quýnh, huống chi là Người Mẹ đang có Thiên Chúa ngự trong Lòng mình! Như vậy, Trinh Nữ là bằng chứng việc ứng nghiệm lời Tiên Tri về Tân Thiếu Nữ Sion: ''Đức Vua của Israel đang ngự giữa ngươi, chính là Thiên Chúa... Ngài là Vị Cứu Tinh, là Đấng Oai Hùng.''

j. Mục đồng, ba ''Vua'' và Tông Đồ

Mục đồng và ba Vua ''được đến ngắm Tôn Nhan Chúa'' sau Trinh Nữ và Thánh Giuse. Còn Thánh Gioan thì viết về Con của Mẹ như sau: ''Và Lời đã thành xác phàm, và lưu trú giữa chúng tôi, và chúng tôi được ngắm vinh quang của Ngài, của Con Một từ Cha, tràn đầy ơn nghĩa và sự thật.''

Tông Đồ chiêm ngưỡng vinh quang của Chúa thì thử hỏi Dưỡng Phụ Giuse cũng chiêm ngưỡng Chúa, rồi ngắm ''điều gì'' nơi Mẹ là Đền Thờ của Chúa Cứu Thế? Người đời làm chuyện ''vắt chanh, bỏ vỏ''; nhưng Chúa thì không vì đó là Mẹ của Ngài. Đây là bằng chứng Trinh Nữ sẽ thụ Thai bởi Phép của Thánh Thần, bởi quyền năng của Cha và Con trong Cha: ''Thánh Thần sẽ đến trên cô, và quyền năng Đấng Tối Cao phủ bóng trên cô; vì thế, trẻ sinh ra sẽ được gọi là Thánh, là Con Thiên Chúa!'' Đã biết thế, chẳng lẽ Người Công Chính Giuse không thờ Thiên Chúa Ba Ngôi và chẳng tôn kính Mẹ là Đền Thánh cho Chúa Cứu Thế ngự vào?

Khi nhắc đến Nơi Chúa đã ngự trong Cựu Ước, Thánh Phaolô vẫn còn gọi là ''Nơi Cực Thánh.'' (Do Thái hay Hipri 9,3) Vậy, khi Mẹ sinh Chúa rồi, chẳng lẽ Cung Lòng và Thân Xác của Ngài không còn là ''Nơi Cực Thánh hữu hình, sống động, nên thơ…'' của Chúa nữa sao?

II. TIN MỪNG theo Thánh Mathêô

A. Đoạn tối quan trọng:

''Tỉnh giấc, Giuse làm như Thiên Thần Chúa đã truyền cho ông, và ông rước vợ về nhà; nhưng ông không hề biết đến nàng cho tới khi nàng sinh con, và ông đặt tên cho hài nhi là Giêsu.'' (S'étant réveillé, Joseph fit ce que l'ange du Seigneur lui avait ordonné, et il prit sa femme avec lui. Mais il ne la connut point jusqu'à ce qu'elle enfantât un fils, auquel il donna le nom de Jésus. Joseph woke from sleep, did as the angel of the Lord had commanded him; he took his wife, but he did not know her until she bore a son; and he called his name Jesus. Als Josef erwachte, tat er, was der Engel des Herrn ihm befohlen hatte, und nahm seine Frau zu sich. Er erkannte sie aber nicht, bis sie ihren Sohn gebar. Und er gab ihm den Namen Jesus.'' (1)

a. Phân tích câu

''Giuse làm như Thiên Thần Chúa đã truyền'' là câu chứng tỏ Dưỡng Phụ là người công chính vốn trông chờ Đấng Messia là Cứu Chúa của Dân Ngài để được nên trọn điều Chúa đã phán qua Tiên Tri rằng ''người ta sẽ gọi Ngài là Emmanuel, tức là Thiên Chúa ở cùng chúng ta''.

Đã ''tri Thiên Mệnh'' như thế, được chứng kiến tỏ tường Lời Chúa trong Cựu Ước đã thành sự, là người ''đi đứng ngay thẳng trước Nhan Giavê'', Thánh Giuse làm sao dám ''lấy nạn chống Trời'', làm sao cả gan biến ''Đền Thánh Giêrusalem Mới là Trinh Nữ'' thành nơi ''tri hoan xác thịt''!!! Cho nên, Thánh Sử Gia Mathêô mới tường thuật: ''và ông rước vợ về nhà; nhưng ông không hề biết đến nàng cho tới khi nàng sinh con.''

b. Phân tích văn phạm

- Chữ ''nhưng''

Liên từ ''nhưng'' dùng để chỉ sự trái ngược (opposition): Rước vợ về nhà, không ''biết đến nàng'' ! Việc ''không biết đến nàng'' chẳng phải là giai đoạn tạm thời, mà là mãi mãi về sau.

- Chữ ''cho đến khi'' và chữ ''sinh con''

''Cho đến khi'' là liên từ chỉ thời gian; còn chữ ''sinh'' là động từ chỉ việc đã xong, tức là ''Mẹ tròn, Con vuông''! Nếu như Thánh Mathêô viết ''cho tới khi nàng chuyển bụng / cho tới khi nàng mới sinh xong'' thì chúng ta được phép nghĩ rằng có thể Mẹ Maria không đồng trinh trọn đời.

- Theo văn phạm, mệnh đề phụ có thể đưa ra trước mệnh đề chính như sau mà ý vẫn không thay đổi: ''và ông rước vợ về nhà; nhưng cho tới khi nàng sinh con, ông không hề biết đến nàng.'' (2) Xin nhắc lại: Mệnh đề phụ chỉ thời gian, tức là khi ''nàng ĐÃ sinh con RỒI!!! Mệnh đề này thêm ý (modifier of) cho việc ''không hề biết đến nàng''!!!

IV. LỜI KẾT

Nếu Mẹ có thêm con thì rõ ràng Mẹ đã thất tín với Sứ Thần. Nếu đã nói láo thì làm sao Mẹ xứng là ''người mà muôn đời khen là có phúc, được Đấng Toàn Năng làm cho những điều trọng đại''? Thánh Giuse biết cách ''đến với Chúa Giêsu nhờ Mẹ Maria – Ad Jesum per Mariam'' thì Ngài tôn kính Trinh Nữ. Ai không tôn kính Mẹ là Đền Thánh của Chúa Giêsu, người ấy đã vô tình phạm thượng. Suốt cả đời, ''ông'' Luther tin rằng Mẹ Thiên Chúa (Gottes Mutter) trọn đời đồng trinh!!!

Đức Quốc, 03.7.2011

Ghi chú:

1. Bản Anh, Pháp, Việt không giống nhau lắm. Tôi viết lại cho phù hợp với Bản Tiếng Đức và đưa động từ ''enfanter, bear: sinh'' từ Thì Tiền Quá Khứ (Pluperfect) sang Thì Quá Khứ (Simple Past).

2. Có thể thêm dấu phẩy sau chữ ''nhưng''. Động từ ''enfanter, bear'' phải ở Simple Past.

Kính mời quý Vị đón đọc bài: 'Ý NGHĨA CỦA CHỮ ''ANH EM'' TRONG KINH THÁNH' chứng minh rằng Mẹ Thiên Chúa Ngôi Hai chỉ có một mình Chúa Giêsu.

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Xin gửi bài này đặc biệt đến các Bà Mẹ trong Hội các Bà Mẹ Công Giáo mà Thánh Nữ Monica là Thánh Bổn Mạng, nhất là các Bà Mẹ đang đau khổ trong nước mắt để cầu nguyện cho chồng và cho con.../25 Tháng Tám 2012(Xem: 8569) Lm. Anphong Trần Đức Phương - Tinmungnet /
Phan Tấn Thành Dẫn nhập Trong các tín biểu, lời tuyên xưng về Giáo hội (Ecclesia) thường được kèm theo vài tính từ, với con số thay đổi. Tín biểu Epistula Apostolorum (khoảng năm 170) chỉ gồm năm mệnh đề, và mệnh đề thứ bốn là: “et in sanctam Ecclesiam” (Denz-Sch 1). “Thánh thiện” là đặc điểm cổ nhất, nói lên sự thuộc về Thiên Chúa. Trong “Tín biểu các thánh tông đồ”, ngoài “sancta” khi thêm “catholica” (sanctam Ecclesiam catholicam); bên Đông phương, tín biểu của Cyrillô Giêrusalem (khoảng năm 348) viết «una santa Chiesa catholica» (Denz-Sch 41) và của Epiphaniô năm 374 “una sola sancta Ecclesia catholica et apostolica” (Denz-Sch 42), đưa đến công thức của công đồng Constantinopolis năm 381 « unam sanctam catholicam et apostolicam Ecclesiam». Trong lịch sử thần học, đã có những quan niệm khác nhau về bản chất của bốn đặc tính này cũng như công dụng của chúng.
Nhiều sách về Đức Mẹ đã được các học giả Tin lành viết, nhiều cuốn cổ vũ người Tin lành nhìn sát hơn vào Đức Mẹ. Nhiều câu chuyện về các Phật tử và những người ngoài Công giáo đã đến viếng Đền Đức Mẹ Lộ Đức. Mặt khác, các tín đồ Hồi giáo cũng rất tôn trọng Đức Mẹ. Thật vậy, Đức Mẹ được nói đến nhiều lần trong kinh Koran, sách thánh của Hồi giáo, nhiều hơn cả trong Kinh thánh!/17 Tháng Bảy 2014 (Xem: 4787) /
NHỮNG SAI PHẠM CỦA SỨ ĐIỆP TỪ TRỜI 5. Các vấn đề liên hệ đến Hội Thánh. ▶5.1. Chối bỏ Huấn quyền của Hội Thánh. *SỨ ĐIỆP 06-04-2011. "...không một ai trong các con xứng đáng để phán xét hoặc tra xét về người khác. Không ai có quyền hạn hoặc hiểu biết thiêng liêng để đưa ra bất cứ sự đánh giá nào về đạo đức nơi người khác" NHẬN ĐỊNH. Nói như thế bà Maria Divine Mercy rõ ràng đã phủ nhận Huấn quyền của Hội Thánh. ▶5.2. Phủ nhận vai trò của Chúa Thánh Thần trong Hội Thánh. *SỨ ĐIỆP 12-04-2012. "Cơ mật viện Hồng Y bầu Giáo hoàng mới là những người theo bè Tam điểm, là tổ chức độc ác của Satan." NHẬN ĐỊNH. Rõ ràng bà Maria Divine Mercy không tin rằng Thánh Thần của Đức Kitô vẫn đang hiện diện và hoạt động trong Hội Thánh, không ngừng hướng dẫn Hội Thánh đạt đến chân lý toàn vẹn của Đức Kitô.
Nguồn gốc của mọi thiên chức linh mục Chủ đề linh mục là đề tài rất được quan tâm và mang tính thời sự trong thế kỷ qua. Công Đồng Vaticanô II đã dành trọn một tài liệu cho chủ đề này với sắc lệnh Presbyterorum Ordinis; năm 1992, thánh Gioan Phaolô II đã gửi tới toàn thể Hội Thánh tông huấn hậu thượng hội đồng Pastores Dabo Vobis, về việc huấn luyện các linh mục trong bối cảnh hiện nay; tiếp đến, khi công bố năm thánh linh mục 2009-2010, Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI đã phác thảo cách vắn gọn nhưng rất sâu sắc dung mạo linh mục dưới ánh sáng cuộc đời của Cha Sở xứ Ars. Cùng với đó là vô số những suy tư của nhiều tác giả trên thế giới được thực hiện và nhiều cuốn sách viết về chân dung và sứ vụ của linh mục qua dòng thời gian, trong đó rất nhiều tác phẩm có giá trị.
Trải qua lịch sử, Chúa nhật sau lễ Phục sinh đã được gọi bằng nhiều danh xưng khác nhau: Chúa nhật tám ngày sau lễ Phục sinh, Chúa nhật “Áo trắng” (in Albis), bởi vì các tân tòng cởi chiếc áo trắng mà họ đã lãnh nhận khi lãnh các bí tích khai tâm vào đêm Vọng Phục sinh, đánh dấu việc kết thúc giai đoạn huấn giáo khai tâm. Tại vài Giáo hội bên Ấn độ (tục truyền do thánh Tôma tông đồ thành lập), Chúa nhật sau lễ Phục sinh được gọi là chúa nhật thánh Tôma, bởi vì bài Phúc âm thuật lại cuộc gặp gỡ của Người với Chúa Kitô. Gần đây, Đức Gioan Phaolô II muốn thêm một danh xưng nữa, đó là “Chúa nhật kính Lòng Chúa Thương Xót”. Trong Năm Thánh 2000, Đức Gioan Phaolô II đã ấn định rằng trong toàn thể Hội thánh, Chúa nhật sau lễ Phục sinh, ngoài danh hiệu Chúa Nhật Áo trắng, sẽ còn được đặt tên là Chúa nhật kính Lòng Chúa Thương Xót.
Hôm thứ Sáu 12 tháng Hai, 2021, Mùng Một Tết Tân Sửu, Phòng Báo Chí Tòa Thánh đã công bố Sứ điệp Mùa Chay Thánh 2021 của Đức Thánh Cha Phanxicô. Nguyên bản tiếng Ý và các ngôn ngữ khác có thể xem tại đây. Dưới đây là bản dịch toàn văn sang Việt Ngữ. Sứ điệp Mùa Chay 2021 của Đức Thánh Cha Phanxicô “Nào chúng ta lên Giêrusalem” (Mt 20:18) Mùa Chay: Thời gian canh tân Niềm tin, Hy vọng và Tình yêu Anh chị em thân mến, Chúa Giêsu đã mặc khải cho các môn đệ ý nghĩa sâu sắc nhất trong sứ vụ của Người khi loan báo cho họ cuộc khổ nạn, cái chết và sự phục sinh của Người để hoàn thành Thánh ý Chúa Cha. Sau đó, Ngài mời gọi họ chia sẻ sứ mạng này để cứu độ thế giới.
WHĐ (15.2.2021) – Nhân kỷ niệm 60 năm thành lập hàng Giáo phẩm Việt Nam (1961 – 2021), chúng tôi xin được đăng bản dịch chính thức của Hội đồng Giám mục Việt Nam về Tông thư thành lập hàng Giáo phẩm Việt Nam – “Jam In Pontificatus” của Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII gửi hàng Giáo phẩm Việt Nam ngày 14.1.1961. * * *
Thứ Tư Lễ Tro năm nay sẽ rơi vào ngày 17 tháng Hai. Hôm thứ Ba, Vatican đã đưa ra hướng dẫn về cách các linh mục có thể xức tro vào Thứ Tư Lễ Tro trong bối cảnh đại dịch coronavirus. Bộ Phụng Tự và Kỷ Luật Bí Tích đã công bố một chỉ dẫn vào ngày 12 tháng Giêng, hướng dẫn các linh mục đọc công thức xức tro một lần cho tất cả mọi người có mặt, thay vì cho từng người. Nguyên bản tiếng Anh có thể xem tại đây. Dưới đây là bản dịch toàn văn sang Việt Ngữ. Bộ Phụng Tự và Kỷ Luật Bí Tích Công văn số 17/21 Chỉ dẫn cho ngày Thứ Tư Lễ Tro Việc xức tro trong thời gian xảy ra đại dịch Vị Linh mục đọc lời nguyện làm phép tro. Ngài rảy nước thánh lên tro, không nói gì cả. Sau đó, ngài nói với tất cả những người hiện diện chỉ một lần duy nhất công thức như được ghi trong Sách Lễ Rôma, áp dụng công thức ấy cho tất cả mọi người nói chung:
Ngày 1 tháng 10 năm 2010, Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hòa bình đã ra thông báo về án phong chân phước cho ĐHY Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận. Thông báo viết: “Ngày 22 tháng 10 tới, tức 3 năm sau khi loan báo việc mở Án phong chân phước, sẽ có phiên họp trọng thể mở cuộc điều tra ở cấp giáo phận về đời sống, các nhân đức và đời sống thánh thiện của Đấng Đáng Kính, ĐHY Việt Nam Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, người đã là Phó Chủ Tịch Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hòa bình từ năm 1994 và là Chủ tịch Ủy Ban này từ ngày 24 tháng 6 năm 1998 đến ngày 16 tháng 9 năm 2002”. Theo thông báo của Tòa Tổng Giám mục Tổng Giáo phận Tp. Hồ Chí Minh về việc điều tra án phong chân phước và phong thánh cho Đức Cố Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, do Đức Hồng Y GB Phạm Minh Mẫn ký ngày 1 tháng 1 năm 2012, chúng ta cùng tìm hiểu đôi nét về cuộc đời của Đấng Đáng Kính, Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận.
Bảo Trợ