Ông Vũ Khiêu, Giáo Sư, Anh Hùng Lao Động, múa gậy vườn hoang!!!

22 Tháng Tư 20142:00 CH(Xem: 3367)


Ông Vũ Khiêu, Giáo Sư, Anh Hùng Lao Động, múa gậy vườn hoang!!!

Được cô bạn thân gởi cho bài của tác giả Thế Anh phê bình ông Vũ Khiêu cả gan SỬA Truyện Kiều, đọc qua bài ấy CHỈ một lần, tôi bàng hoàng KHÔNG phải vì ''Việt Nam ta hôm nay'' có QUÁ nhiều Giáo SƯ (''THẦY dạy'' KHÔNG ra ''TRÒ''), mà VÌ ông Vũ Khiêu dám ''múa gậy vườn hoang'', COI THƯỜNG Đại Thi Hào Nguyễn Du, tức MUỐN chứng tỏ rằng mình là ''Sư Phụ CỦA Đại Sư Phụ'' MÀ cả Nước, trong đó, vào năm 1924, có ông Phạm Quỳnh HẾT MỰC tôn vinh như sau:

''Như vậy thì truyện Kiều, không những đối với văn-hóa nước nhà, mà đối với văn-học thế-giới cũng chiếm được một địa-vị cao-quí.

Văn-chương ta chỉ có một quyển sách mà sách ấy đủ làm cho ta vẻ-vang với thiên-hạ, tưởng cũng là một cái kỳ-công có một trong cõi văn thế-giới vậy....

Cuộc kỷ-niệm hôm nay là chủ-ý tỏ lòng quốc-dân sùng-bái cảnh-mộ Cụ Tiên-điền ta; lại có các quí-hội-viên Tây và các quí-quan đến dự cuộc là để chứng-kiến cho tấm lòng thành-thực đó. Nhưng còn có một cái ý-nghĩa nữa, là nhân ngày giỗ này, đốt lò hươngso phím đànchiêu hồn quốc-sĩ.

Thác là thể pháchcòn là tinh anh,

áng tinh-trung thấp-thoáng dưới bóng đènchập-chừng trên ngọn khói, xin chứng-nhận cho lời thề của đồng-nhân đây. Thề rằng: ''Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còncòn non còn nước còn dài, chúng tôi là kẻ hậu-sinh xin rầu lòng giốc chí cố gia-công trau-chuốt lấy tiếng quốc-âm nhà, cho quốc-hoa ngày một rực-rỡquốc-hồn ngày một tỉnh-taoquốc-bộ ngày một tấn-tớiquốc-vận ngày một vẻ-vangngõ-hầu khỏi phụ cái chi hoài-bão của tiên-sinh, ngậm cười chín suối cũng còn thơm lây!'' (Nguyên văn: Bài diễn thuyết bằng quốc văn của ông Phạm Quỳnh … )

Ngày còn ôm sách đến Trường thời Chế Độ cũ, đọc rất nhiều về Cụ Nguyễn Du, tôi chưa hề thấy ai dám XẤC XƯỢC như ông Thầy Vũ Khiêu đối với ''thiên tài'' Tố Như! Ngay cả cuốn ''KIM VAN KIEOU'' được René Craysac dịch quá công phu sang thơ Pháp, có ''lời tựa'' rất trân trọng của dịch giả! Vì thế, cách ''trổ tài'' của ông VŨ KHIÊU khiến tôi nghĩ tới ''động từ'' này: KHIÊU VŨ!!!

Phan văn Phước

Xin mời đọc bài của tác giả Thế Anh:

SAO ÔNG VŨ KHIÊU LẠI NỐI GIÁO CHO VIỆC SỬA TRUYỆN KIỀU VÔ LỐI?

Có một việc mà giới văn nghệ sỹ, cũng như những người yêu văn thơ bức xúc, đó là truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du gần đây đã bị xâm hại, mà người khuyến khích cho việc làm hỗn hào này, tiếc thay lại chính là ông Vũ Khiêu – giáo sư, Anh hùng lao động, nguyên Phó viện trưởng Phó chủ nhiệm UBKHXH Việt Nam (nay là Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam), vẫn được tiếng (hão?) là nhà văn hóa.

Xin đừng dung tục và hạ thấp văn chương Truyện Kiều

Trong cuộc hội thảo về Dòng chảy văn hóa xứ Nghệ từ Truyện Kiều đến phong trào Thơ Mới tổ chức tại Khu di tích Nguyễn Du (Nghi Xuân – Hà Tĩnh), mỗi đại biểu tham dự được tặng một cuốn sách (bản photo) có nhan đề Truyện Kiều Nguyễn Du với tiếng Việt hiện đại, phổ thông, đại chúng và trong sáng, do KS. Đỗ Minh Xuân khảo dịch – Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin in năm 2012 và có lời Đề tựa của GS. Vũ Khiêu:

Với một tinh thần khoa học rất nghiêm túc, ông tìm lại hầu hết các bản Truyện Kiều từ trước đến nay, so sánh các dị bản, ông tìm đọc hầu hết các bài đã bình luận, phân tích tác phẩm và tác giả Truyện Kiều. Từ đó, ông đã có ý tưởng lớn là làm thế nào để phổ cập hóa Truyện Kiều cho quảng đại công chúng, ông gạt bỏ những câu chữ khó hiểu từ tiếng Hán để thay bằng ngôn ngữ thuần Việt trong Truyện Kiều… Tôi hoan nghênh công phu nghiên cứu của ông Đỗ Minh Xuân và tin rằng cuốn sách này của ông là một đóng góp đáng kể vào việc nghiên cứu Truyện Kiều…

Không hiểu cuốn sách này đã được Nhà xuất bản Văn hóa-Thông tin in và phát hành chưa, vì chúng tôi không thấy xuất hiện trên thị trường sách ở Hà Nội, vả lại cách bố cục của cuốn sách cũng có những nét đặc biệt khác với thông lệ của một ấn phẩm văn chương, chẳng hạn trong lời mở đầu cuốn sách tác giả đã có lời Kính cáo cụ Nguyễn Du và xin phép cụ để xuất bản bản khảo dịch Truyện Kiều này vì ông cho rằng người đọc Truyện Kiều ngày nay, không còn thịnh như trước đây do rào cản về điển tích, từ Hán, từ cổ, từ địa phương… Tiếp theo là Lời nói đầu (16 trang) và cuối mỗi trang đều có một câu Lời nói đầu, Truyện Kiều với tiếng Việt hiện đại (Đánh dấu tuổi 80, bản in 15-11-2012). Sau đó là văn bản Truyện Kiều thì lại đánh số trang bằng tiếng Pháp (từ page 1 đến page 109 và cuối cùng là lời Tự bạch cho Truyện Kiều 15-11-2012 (16 trang) nhưng thực chất là bản tự thuật của tác giả theo kiểu liệt kê trong gia phả và kể lể công lao thành tích trong quá trình hoạt động Cách mạng mà chẳng có gì liên quan đến vấn đề nghiên cứu Truyện Kiều cả.

Trong cuốn sách tác giả có nhắc đi nhắc lại hai lần Nhân kỷ niệm 200 năm ngày sinh của Nguyễn Du, UNESCO đã công nhận Nguyễn Du là Danh nhân văn hóa thế giới. Điều này không đúng, Nguyễn Du chỉ mới được Hội đồng hòa bình thế giới quyết định kỷ niệm 200 năm (1965) ngày sinh của ông cùng với 8 danh nhân văn hóa khác của thế giới trong đó có nhà thơ La Mã Horace, nhà thơ Ý Dante, nhà bác học và là nhà thơ Nga Lômônôxôp… chứ chưa được UNESCO công nhận.

Khái niệm khảo dịch của tác giả cuốn sách cũng không chính xác, vì thực chất ông đâu có dịch mà chỉ chữa lại văn của Nguyễn Du một cách vụng về. Chẳng hạn ông đã thay chữ nghĩ trong 4 câu Kiều bằng những chữ khác:

Câu 12: Gia tư ông cũng thường thường bậc trung

Câu 610: Vì nàng ông cũng thương thầm xót vay

Câu 894: Phía ngoài cũng đã giục liền ruổi xe

Câu 1182: Dơ tuồng hắn mới kiếm đường tháo lui

Ông cho rằng những chữ vừa thay đã làm cho 4 câu thơ trên được nâng lên một tầm cao mới (!?).

Câu 2042: Lạ lùng nàng vẫn tìm đường nói quanh được chữa lại là Lạ lùng Kiều tạm tìm đường nói quanh rồi tự khen chữ “tạm” của mình hay hơn chữ “vẫn” của Nguyễn Du (!).

Ông còn dùng từ đơn và lẻ thay cho từ chiếc trong các câu sau đây:

Câu 1523: Người về chiếc bóng năm canh (Nguyễn Du)

Người về đơn bóng năm canh (Đỗ Minh Xuân)

Câu 1526: Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường (Nguyễn Du)

Nửa in gối lẻ nửa soi dặm trường (Đỗ Minh Xuân)

Câu 1627: Kiều từ chiếc bóng song the (Nguyễn Du)

Kiều từ đơn bóng song the (Đỗ Minh Xuân)

Câu 1792: Buồng không thương kẻ tháng ngày chiếc thân (Nguyễn Du)

Buồng không thương kẻ tháng ngày đơn thân (Đỗ Minh Xuân)

Câu 2231: Kiều từ chiếc bóng song mai (Nguyễn Du)

Kiều từ đơn bóng song mai (Đỗ Minh Xuân)

Trong Truyện Kiều Nguyễn Du đã dùng nhiều từ Hán – Việt và điển cố, tác giả cuốn sách đã mạnh tay (nếu không nói là liều lĩnh) gạt bỏ và thay vào đó những từ mà ông cho là rõ nghĩa hơn và lột tả được nội dung điển tích và ý của Nguyễn Du. Chẳng hạn cha thay cho xuânmẹ thay cho huyêncha mẹ thay cho xuân huyênphụ đường hay phủ đường (!) thay cho xuân đường.

Để bạn đọc có thể hình dung được một cách cụ thể hơn, chúng tôi xin nêu lên sau đây một số trường hợp (trong gần 1000 đơn vị từ) mà tác giả đã chữa lại văn của cụ Nguyễn Du:

Câu

Chữ của Nguyễn Du

Chữ thay thế của ông Đỗ Minh Xuân

5

Lạ gì bỉ sắc tư phong

Mõi người thứ có thứ không

136

Tay khấu

cương ngựa

156

Một nền Đồng Tước

Buồng đào nơi tạm

208

Giá đành tú khẩu

Lời vàng ý ngọc

233

mộng triệu

mộng ấy

235

mộng triệu

mộng mị

238

đã dào mạch Tương

đã chào vừng dương

266

Lam Kiều

đánh liều

280

Lãm Thúy

kiểu dáng

306

Hợp Phố

chủ cũ

377

(thì) thời trân

quả ngon

 

sẵn bày

xách tay

 

Thời trân thức thức sẵn bày

Quả ngon thức thức xách tay (!)

406

Nàng Ban, ả Tạ cũng đâu thế này

Xưa nay hiếm thấy tài đâu thế này

439

đỉnh Giáp, non Thần

tiên nữ giáng trần

464

Chung Kỳ

ngưỡng vì

507

(trên) Bộc

(trên) cỏ

512

Lứa đôi ai dễ đẹp tày Thôi – Trương

Lứa đôi từng thấy những ngày trái ngang

1458

Châu – Trần còn có Châu – Trần nào hơn

Lứa đôi còn có gì cần nhiều hơn

1638

Liệu như cung Quảng ả Hằng nghĩ nao?

Liệu người ngoài cuộc khác vòng nghĩ sao?

1988

thiếp Lan Đình

thiếp xem tình

3200

Ấy là Hồ Điệp hay là Trang Sinh

Ấy là trong mộng hay là thực sinh

 

 

v.v…và v.v…

 

Trên đây chúng tôi chỉ mới nêu lên một số trường hợp làm dẫn chứng, còn thực tế trên cuốn sách ông Đỗ Minh Xuân đã sửa chữa thay thế khoảng 1/3 chữ nghĩa của Truyện Kiều mà ông cho là rườm rà, trùng lặp, không hay, thiếu logic, trái văn cảnh… Ông còn bắt bẻ cụ Nguyễn Du trong nhiều trường hợp chẳng hạn:

Khi cụ viết: Trải qua một cuộc bể dâu (câu 3). Ông phân tích: Trong đời người, đâu chỉ có một cuộc bể dâu? Phải dùng “mỗi” mới hợp.

Câu 935 cụ Nguyễn Du viết: Trên treo một tượng trắng đôi lông mày, ông cho rằng tượng không treo được và phải viết Trên treo thần ảnh trắng đôi lông mày.

Câu 2973: Cơ duyên đâu bỗng lạ sao, ông chữa lại là Cơ duyên tác hợp khéo sao và tự cho là hay hơn (!).

Câu 2062: Bóng hoa rợp đất, vẻ ngân ngang trời, ông chữa lại: Bóng hoa rợp đất, ve ngân ngang trời mới hợp với thực tế v.v…và v.v…

Về vấn đề phân tích và lập luận của tác giả đôi khi cũng có thể làm đề tài mua vui, chẳng hạn câu 39: Tiết vừa con én đưa thoi, ông hỏi vặn lại chẳng lẽ cứ tiết trời có én bay là mùa xuân? Như thế, ngoài mùa xuân ra thì én đi bằng hai chân để kiếm sống à?

Câu 57 – 58 theo ông Xuân phải đọc là:

Se se (chứ không phải sè sènấm đất bên đường Dầu dầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh

Ông phân tích đó là nấm mồ vừa mới đắp, đất hơi se se, cỏ chưa hồi phục hẳn, nên đang còn nửa vàng nửa xanh.

Câu 77: Sắm sanh nếp tử xe châu, ông cho rằng đây không phải là quan tài bằng gỗ thị như nhiều người giải thích, mà chữ “tử “ ở đây phải hiểu là “chết“ mới đúng, tức là nếp dành cho người chết.

Có lẽ không cần phải dẫn chứng và bình luận gì thêm, bạn đọc cũng đã hình dung được công trình khảo dịch Truyện Kiều này của ông Đỗ Minh Xuân và liệu có phải như ông khẳng định cách làm này của ông là một cuộc cách mạng (đại ngôn vô lối) mở đầu cho việc dịch Truyện Kiều sang tiếng Việt hiện đại, phổ thông, đại chúng, trong sáng và nó sẽ là cơ sở ban đầu cho các thế hệ kế tiếp hoàn thiện cho việc dịch Truyện Kiều sang tiếng Việt hiện đại hay không? Ông tin rằng việc dịch Truyện Kiều ra tiếng nước ngoài cũng sẽ thuận lợi hơn và ông tự thưởng cho mình một lời khen của cụ Tố Như cũng đầy vẻ hài hước: “… Nguyễn Du có sống lại cũng phải thốt lên hậu sinh khả úy” (nguyên văn lời của ông viết ở trang 15.)

Riêng suy nghĩ của chúng tôi thì văn chương của Nguyễn Du nói chung và tiêu biểu là kiệt tác Truyện Kiều đã được nhân dân ta thưởng thức và ngưỡng mộ qua nhiều thế hệ, từ những bậc thức giả đến các tầng lớp bình dân kể cả những người không biết chữ và bạn bè quốc tế cũng dành cho nhà thơ những tình cảm tốt đẹp để ca ngợi và tôn vinh. Không hiểu với tác phẩm khảo dịch này có làm cho Truyện Kiều của Nguyễn Du được nâng lên một tầm cao mới như tác giả khẳng định hay không, hay chỉ là những câu vần vè ngây ngô làm cho văn chương Truyện Kiều bị hạ thấp và dung tục hóa đến mức khôi hài.

Thế Anh

Đôi điều nhắn nhủ ông Vũ Khiêu:

Người xưa nói “mua danh ba vạn, bán danh ba đồng” để thấy con người ta phấn đấu để có được cái danh khó lắm thay, nhưng để mất danh thì dễ lắm thay. Ông đã có được chút danh (dù hiện nay tôi biết rất nhiều người chửi ông là hữu danh vô thực, kiến thức lỗ mỗ, chỉ giỏi xào xáo), vậy thì càng nên gắng giữ gìn. Tôi thấy dạo này ông làm nhiều việc ảnh hưởng đến danh quá, như cái vụ “giáng bút” ở Bình Đà (tìm đọc bài: “Ô hô, giáo sư AHLĐ Vũ Khiêu từ cõi tiên về giáng bút” trên blog Tễu thì rõ). Chữ nghĩa viết lời bạt in vào sách nó như văn bia ấy. Xưa cụ Nguyễn Khuyến từng cảnh báo: “Văn bia không đốt như văn tế”, vì thế khi viết lách cái gì phải hết sức cẩn trọng. Chê sai còn xin lỗi, đính chính được, chứ khen sai thì biết làm thế nào mà sửa đây. Ông hãy tìm đọc truyện ngắn “Bút máu” của nhà văn Vũ Hạnh để mà thấy cái việc cầm bút phải như thế nào.

Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả.

1- Nguồn: Văn Việt (Cũng có thể vào: Sao ông Vũ Khiêu lại nối giáo cho việc sửa Truyện Kiều vô lối?)

2- TỄU - BLOG: Thế Anh: SAO ÔNG VŨ KHIÊU LẠI NỐI GIÁO CHO VIỆC SỬA TRUYỆN KIỀU VÔ LỐI (Xin vào xem lời độc giả phê phán GiáoSư VŨ KHIÊU.)


Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh ("Tây tiến", thơ Quang Dũng) Xa nhìn thấp thoáng trong mây muôn bóng quân Nam chập chùng... (1) Câu hát ấy, từ bao năm nay vẫn cứ theo tôi, theo tôi mãi. Câu chuyện bắt đầu tư những ngày xa xưa, thuở tôi còn là cậu học trò nhỏ vừa bước vào năm học đầu tiên của một trường trung học ở thành phố cao nguyên có cái biệt danh nghe buồn buồn là "Buồn-muôn-thuở". Cậu học trò ấy, vào mỗi sáng thứ Hai, cùng chúng bạn đứng xếp hàng ngay ngắn trước sân cờ nao nức chờ đợi phút giây được tham dự vào nghi thức thượng kỳ đầu tuần trong bầu không khí thật trang nghiêm giữa sân trường thuở ấy.
“Thế là cậu đã nhẹ nhàng ra đi, rời xa cái thế giới mà cậu đã để lại rất nhiều sau hơn 80 năm góp mặt và đã sống tràn đầy từng phút từng giây. Trước hết, là một nhạc sĩ, cậu đã để lại hơn 200 nhạc phẩm, đã làm phong phú đời sống tinh thần và tình cảm của hàng triệu người nghe, và sẽ còn làm rung động tâm hồn hàng triệu người yêu nhạc nữa trong những thế hệ mai sau. Là một nghệ sĩ tài danh, cậu không kiêu căng lập dị. Trái lại, cậu đã luôn luôn cư xử khiêm tốn, nhún nhường, tôn trọng người khác như tác phong của con người có văn hóa, một đức tính đã khiến cậu được nhiều người mến mộ và noi gương. Là một nghệ sĩ chân chính, cậu đã không để đồng tiền làm vẩn đục tâm hồn. Cậu không đòi hỏi những ca sĩ trình diễn nhạc phẩm của mình phải trả tiền tác quyền mà chỉ nhận tiền của những ban nhạc lớn nhưng hầu hết số tiền thu được cậu đã đem tặng cho các hội từ thiện.
Thầy Cô thân mến, (Nếu được sự đồng ý của các bạn đồng lớp) Ngày mùng ba tết Năm Tân Sửu, con và các bạn học cùng lớp mừng tuổi Thầy Cô. Chúng con không có rượu, không có bánh tét, không có cặp trứng để mừng tuổi Thầy Cô, chỉ có mấy hàng chữ mà Thầy đã dạy chúng con học viết trong những năm tại trường Tấn Đức và lòng tôn trong với một người Thầy Giáo khả kính, hiền lành.
1. Nếu chịu khó đọc đủ nhiều và nghiên cứu sách tỉ mỉ, bạn sẽ không cần và không thích nghe bất cứ diễn giả nào chia sẻ. Nói cách khác, tất cả những gì một diễn giả, một nhà đào tạo nói với bạn đều có sẵn trong sách. 2. Diễn giả, nhà đào tạo ở ta là những kẻ nói lại sách của người khác để trục lợi. Có thể họ nói hùng hồn và dễ hiểu hơn nhưng phần lớn không sâu sắc và không đủ ý. Kiến thức mà thiếu ý là thứ kiến thức nguy hại. Giống như thầy lang đọc sách đau bụng uống nhân sâm. 3. Diễn giả đẳng cấp là kẻ phải ham đọc và ham viết. Họ thường là tác giả có tầm cỡ. Đương nhiên, diễn giả rởm cũng tỏ ra vẻ như mình đọc nhiều sách và khoe mình hay đọc sách. Chết là ở đó. Nhưng tinh ý, bạn sẽ biết họ đọc nhiều thật hay đang nói dối. Ngồi cạnh người đọc sách nhiều và đúng cách, bạn sẽ học được ít nhiều chỉ sau 5 phút. Kẻ đọc sách nhiều không đay nghiến và kì thị ai quá đáng. Họ ghét ai cũng là cái ghét từ bi. Yêu ai cũng không vồ vập.
Thật khó hình dung được thời gian qua nhanh, đã hơn mấy chục năm sống cuộc đời lưu vong tại Calgary, Alberta, miền Tây Canada. Dẫu muốn hay không cũng phải chấp nhận nơi đây là quê hương thứ hai, nơi đã mang và nuôi dưỡng chúng tôi hơn nửa đời người. Tạ ơn Chúa và Canada. Sự kiện đặc biệt đang xảy ra tại vùng này là trong suốt mấy chục năm qua chưa từng có một mùa Đông có nhiều ngày nắng và ấm như thế. Vào những ngày này của tháng giêng, mặt trời chiếu tỏa từ sáng tới chiều và nhiệt độ ấm lên từ 5c-6c vào khoảng một giờ chiều và đã kéo dài hơn hai tuần nay. Toàn tỉnh đang bị lockdown vì covid-19 mà có những ngày đẹp trời cũng tạo cho tâm lý bà con vui vẻ hơn; người người bước ra ngoài để hớp những không khí trong lành của thiên nhiên. Trẻ em thì háo hức chơi đủ trò trên tuyết – người lớn thì đi bộ dọc hai bên đường cùng với những chú chó bị nhốt lâu ngày trong nhà nay có dịp ra ngoài.
Tên nàng là Nhung Nữ. Dân làng đặt tên nàng là Nhung Nữ vì nàng có mái tóc dài, gợn sóng, nhung huyền, gần chấm đất những khi nàng cong tấm lưng thon, biểu diễn điệu múa quyến rũ, mỗi lần làng họp chợ. Nàng là một kỳ công tuyệt diệu của tạo hóa, với sóng mắt xếch như mang theo sự huyền bí của miền Đông Á. Da nàng là màu nắng mặt trời. Tóc nàng, nhung đen như đêm Ba Tư thần thoại, một suối nhung huyền trên tấm lưng thanh nhã, lượn sóng trên bờ eo nhỏ mỗi khi nàng dạo bước trên bãi biển. Môi nàng lúc nào cũng như tiềm ẩn một nụ cười, chờ đợi một chuỗi cười hồn nhiên, và viền môi cong như đón mời một nụ hôn nồng nàn làm tiêu tan nghị lực. Khuôn mặt nàng ẩn giấu nét rộn rã của đứa trẻ nhỏ, nhưng đồng thời chung quanh khóe mắt đẹp và hơi buồn đã thấp thoáng những nét nhăn như chứng tích của sự trưởng thành. Nàng là đàn bà trẻ thơ.
Sài Gòn vẫn rất dễ thương Cái tên dù lạ con đường vẫn quen Tôi hay “viện dẫn” hai câu thơ của mình mỗi khi phải hồi âm một cánh thư xa nào đó, thường là câu hỏi “Sài Gòn bây giờ ra sao?” Thật ra trong cảm nhận của tôi, Sài Gòn vẫn thế. Bởi dù trải qua nhiêu bao biến cố thăng trầm, thì Sài Gòn, Hòn Ngọc Viễn Đông, thủ đô trong những trái tim miền Nam ngày nào vẫn không bao giờ thay đổi. Sài Gòn của một thời tôi mới lớn, những “con đường tình ta đi” Duy Tân, Trần Quý Cáp, Tú Xương, Công Lý. Những chiều bát phố Lê Lợi, Tự Do. Những rạp cine. Món bánh tôm hẻm Casino (Sài Gòn). Những xe bò viên Nguyễn Thiện Thuật. Bánh mì thịt trước chợ Trương Minh Giảng, gỏi đu đủ – khô bò – nước mía Viễn Đông (góc Lê Lợi – Pasteur)…
...chỉ với Mùa Xuân chín, Hàn Mặc Tử đã luôn là một nỗi nhớ khôn nguôi của người yêu thơ, yêu cái đẹp khi xuân về. Trong làn nắng ửng: khói mơ tan, Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng. Sột soạt gió trêu tà áo biếc, Trên giàn thiên lý. Bóng xuân sang. Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời Bao cô thôn nữ hát trên đồi; Ngày mai trong đám xuân xanh ấy, Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi… Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi, Hổn hển như lời của nước mây, Thầm thì với ai ngồi dưới trúc, Nghe ra ý vị và thơ ngây… Khách xa gặp lúc mùa xuân chín, Lòng trí bâng khuâng sực nhớ làng: “Chị ấy, năm nay còn gánh thóc Dọc bờ sông trắng nắng chang chang?” Có một chàng thi sĩ tài hoa nhưng bạc mệnh sống vào khoảng nửa đầu thế kỷ 20 ở Nam Trung Bộ. 16 tuổi, chàng đã làm bài thơ đầu tiên. Chàng đã sống, đã đi, đã yêu tha thiết và đã đau đớn cùng cực.
Truyện Kiều là một tuyệt tác trong văn học sử Việt Nam, điều này ai cũng công nhận. Theo Phạm Quỳnh, “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; tiếng ta còn, nước ta còn”, nhưng ông và nhiều học giả khác không phân tích rõ Truyện Kiều hay như thế nào và tại sao tác phẩm này đặc biệt. Dù sao thì Truyện Kiều cũng có ảnh hưởng rất rộng với đại chúng, đa số người Việt biết thưởng thức thơ hay và ít quan tâm đến những phân tích phê bình của những nhà nghiên cứu. Lãng Nhân có nhận xét về một điểm vô lý trong Truyện Kiều: Khi mấy chị em đi chơi lễ Thanh Minh và thấy một nấm mồ hoang, em trai Thúy Kiều là Vương Quan chỉ là một cậu bé học trò 14-15 tuổi, vậy mà kể rành rẽ tiểu sử người kỹ nữ quá cố giống như một tay ăn chơi lão luyện: Vương Quan mới dẫn gần xa, Đạm Tiên nàng ấy xưa là ca nhi Nổi danh tài sắc một thì, Xôn xao ngoài cửa thiếu gì yến anh. Phận hồng nhan có mong manh, Nửa chừng xuân, thoắt gẫy cành thiên hương!
- Chúng ta đa số đều biết rằng các nhà văn trong Tự Lực Văn Đoàn từ 1934 - 1940 có gốc gác khởi xuất từ miền Bắc, viết văn, viết sách, thơ, truyện, thường họ chỉ dùng (GI) cho "giòng sông, giòng nước". Thí dụ như: a) Nhất Linh: "Giòng Sông Thanh Thủy". b) Tú Mỡ: "Giòng Nước Ngược". c) Thạch Lam: "Theo Giòng". - Còn các nhà văn, trí thức lớp sau, thường có xuất thân tại miền Nam, trước khi xảy ra biến cố 1975, họ hầu hết sử dụng (D) cho "dòng sông, dòng nước". Thí dụ như: a) Doãn Quốc Sỹ: "Dòng Sông Định Mệnh (1959). b) Nhật Tiến: "Tặng Phẩm Của Dòng Sông (1972). c) Đằng Phương Nguyễn Ngọc Huy: "Dòng Nước Sông Hồng" (viết 1945, in lại vào thi tập năm 1985). - Và sau hơn nữa đó là: a) Ngô Thế Vinh: "Mekong, Dòng Sông Nghẽn Mạch (2007).
Bảo Trợ