Lễ Dầu: Ý nghĩa hiệp thông và biểu tượng rất đặc biệt đối với linh mục đoàn trong giáo phận

16 Tháng Tư 20142:00 CH(Xem: 2447)

Bài giảng trong Thánh lễ làm phép Dầu Nhà thờ Chính tòa Xã Đoài

VINH 15/4/2014 - Anh chị em rất thân mến,

Cũng như mỗi năm, năm nay gia đình giáo phận chúng ta qui tụ về Nhà thờ Chính tòa để kỷ niệm sự kiện Đức Kitô chia sẻ chức vụ tư tế cho các Tông đồ, rồi ngang qua các vị cho tất cả các giám mục và linh mục. Đây là cơ hội hồng phúc để cùng nhau suy niệm về chương trình yêu thương của Thiên Chúa, cũng như sứ vụ chứng nhân tình yêu của chúng ta giữa xã hội nhiễu nhương này.

blank
blank
Trong bài đọc thứ I, tác giả của sách Isaia phần thứ III trình bày hình ảnh tuyệt vời về ơn gọi ngôn sứ và lý do hiện hữu của người được xức dầu. Chúng ta biết rằng, vào thời điểm đó, nhiều người Do Thái lưu đày đã bắt đầu trở về để tái thiết quê hương. Tuy nhiên, khi đoàn lưu đày trở về cố hương, họ không nhìn thấy hình ảnh đẹp của một quê hương tuyệt vời, quê hương vĩnh cửu, mà sách Isaia phần II đã loan báo. Trái lại, họ phải đối diện với muôn ngàn khó khăn của một cộng đoàn nghèo khổ phải gồng mình lên để tái thiết quê hương hoang tàn đổ nát và nhất là để có thể sinh tồn trên chính mảnh đất tổ đang bị các nhóm người khác chiếm chỗ. Ngỏ lời với những người hồi hương âu lo, nhọc nhằn, hoang mang, nản chí ấy, ngôn sứ động viên họ: 

Thần khí của Đức Chúa ngự trên tôi
vì Ngài đã xức dầu tấn phong tôi
sai đi loan báo Tin Mừng cho người nghèo khổ
băng bó những tấm lòng tan nát,
công bố lệnh ân xá cho kẻ bị giam cầm
ngày phóng thích cho các tù nhân, 
công bố năm hồng ân của Đức Chúa
 (Is 61,1-2).

Sau này, trong chuyến về thăm quê hương Nazareth, khi vào hội đường như Người vẫn quen làm trong ngày sabat, Đức Giêsu đã long trọng đọc lại bản văn trên của ngôn sứ Isaia. Đọc xong, Người ngồi xuống và dõng dạc tuyên bố: “Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe”. Thật vậy, sứ điệp mà ngôn sứ loan báo đã trở thành chương trình hành động của Đức Kitô. Chính Ngài là Đấng được xức dầu và tấn phong để đem Tin Mừng cứu độ cho muôn dân, cách riêng cho những người nghèo khổ, bị cầm tù, bị áp bức, bị bỏ rơi… Người đến để khai mở thời đại mới, trong đó con người được giao hòa với Thiên Chúa và với anh chị em đồng loại. Trong suốt ba năm truyền đạo, Ngài luôn nhắc đi nhắc lại là Ngài được xức dầu không phải để được ăn trên, ngồi trốc, được thiên hạ cung phụng, mà trái lại để hiến thân phục vụ mọi người, đặc biệt những người nghèo hèn, bệnh tật, cô thân cô thế, bị tù tội, bị áp bức, bị gạt ra bên lề xã hội.

Đức Giêsu tuyên bố: “Tôi chính là Mục Tử nhân lành. Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên. Người làm thuê, vì không phải là mục tử và vì chiên không thuộc về anh ta, nên khi thấy sói đến, anh ta bỏ chiên mà chạy (...). Tôi chính là Mục Tử nhân lành. Tôi biết chiên của tôi và chiên của tôi biết tôi, như Chúa Cha biết tôi và tôi biết Chúa Cha, và tôi hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên. Tôi còn có những chiên khác không thuộc ràn này. Tôi cũng phải đưa chúng về. Chúng sẽ nghe tiếng tôi” (Ga 10, 11-16). 

Kính thưa cộng đoàn phụng vụ. Lễ Dầu năm nay, toàn thể gia đình Dân Chúa thuộc giáo phận Vinh được mời gọi để dâng lên Thiên Chúa Cha “lời nguyện thánh hiến” của Chúa Kitô trong đêm từ biệt linh thiêng ấy: “Xin Cha lấy sự thật mà thánh hiến họ” (Ga 17,17). Qua lời nguyện này, Đức Kitô không xin Chúa Cha đưa các Tông đồ ra khỏi trần thế, mà xin Ngài kéo họ ra khỏi con người tham sân si, khỏi toan tính thường tình, phản ứng theo bản năng hay động lực trần tục, để dâng hiến trọn vẹn cho Thiên Chúa và toàn tâm toàn ý vì sứ vụ loan báo Tin Mừng.

Chúng ta biết rằng Đức Kitô không chỉ cầu nguyện cho các Tông đồ, nhưng còn cho tất cả những ai nhờ lời các vị mà tin vào Ngài (Ga 17,20), đặc biệt cho các tư tế. Thật vậy, “do bí tích Truyền chức thánh, một số Kitô hữu được đặt làm thừa tác viên có chức thánh (...), như thế họ được thánh hiến và được chỉ định, mỗi người tùy theo cấp bậc của mình, để hướng dẫn đoàn dân Chúa, bằng cách chu toàn các nhiệm vụ giáo huấn, thánh hóa và lãnh đạo nhân danh Đức Kitô là Đầu” (Gl 1008). 

Chính vì vậy, thánh lễ hôm nay mang một ý nghĩa hiệp thông và biểu tượng rất đặc biệt đối với linh mục đoàn trong giáo phận. Thật vậy, qua lời tuyên hứa mà các linh mục sẽ công khai lặp lại trong thánh lễ hôm nay, Hội Thánh muốn tất cả các mục tử tái khẳng định quyết tâm bước theo Đức Kitô trên con đường phục vụ cộng đồng Dân Chúa. Với tư cách chủ tế, giám mục sẽ long trọng kêu mời các linh mục công khai lặp lại lời hứa khi lãnh nhận chức linh mục: “Ngày chúng ta lãnh nhận chức thánh vì yêu mến Chúa Kitô và để phục vụ Hội Thánh Người, chúng ta đã vui lòng chấp nhận trách nhiệm phục vụ cộng đoàn được giao phó cho chúng ta. Vậy, anh em có muốn ngày càng gắn bó hơn với Chúa Giêsu và cố gắng noi gương Người mà từ bỏ bản thân và trung thành giữ lời chúng ta đã cam kết không? Theo gương Chúa Kitô..., anh em có muốn thi hành chức vụ của mình một cách nhiệt thành và vô vị lợi không?”

Năm ngoái vào độ này, khi cử hành Thánh Lễ Làm Phép Dầu đầu tiên trong cương vị Giám Mục Rôma, Đức Thánh Cha Phanxicô đã yêu cầu hàng tư tế ra khỏi chính mình và đi đến những “vùng ngoại ô”, những vùng nghèo khổ, nơi có đau khổ, nơi có đổ máu, nơi có sự mù lòa, có thù hận, bạo động, bất công... Theo ngài, “ai không đi ra khỏi chính mình, thì, thay vì làm người trung gian, sẽ từng bước trở thành một người môi giới và một người quản trị. Tất cả chúng ta đều biết sự khác biệt: người môi giới và người quản trị “đã lãnh thù lao của mình rồi”, và bởi lẽ họ không đem chính mạng sống và chính trái tim mình ra để đánh cược” cho sứ vụ. Vì vậy, Ngài ước mong các tư tế biết đem chính mạng sống và chính trái tim mình để đánh cược cho sứ vụ, trở thành những mục tử chấp nhận dấn thân, lăn lộn, đồng vui cộng khổ với đoàn chiên, đến độ “thấm vào mình mùi chiên”. 

Ngày 6 tháng 3 vừa qua, trong cuộc gặp gỡ với các linh mục thuộc Tổng Giáo phận Roma, Đức Thánh Cha đã suy niệm đặc biệt về đề tài lòng thương xót. Ngài cho rằng, “với tư cách là mục tử, chúng ta phải xót thương rất nhiều, rất nhiều”. Dựa trên đoạn Tin Mừng trình bày sự kiện Chúa Giêsu chạnh lòng thương khi chứng kiến dân chúng mệt mỏi và kiệt lực như đoàn chiên không có mục tử chăm sóc, ngài giải thích: "Chúa Giêsu có tấm lòng của Thiên Chúa, nghĩa là đầy dịu dàng đối với dân chúng, nhất là với những người bị loại trừ, các tội nhân, những bệnh nhân không ai chăm sóc… Vì thế, theo hình ảnh vị Mục Tử Nhân Lành, linh mục phải là người từ bi và thương xót, gần gũi dân chúng và phục vụ tất cả mọi người. Bất cứ ai bị thương tổn trong cuộc sống một cách nào đó, có thể tìm thấy nơi linh mục sự quan tâm và thái độ lắng nghe. Đặc biệt linh mục cần chứng tỏ lòng từ bi qua việc ban bí tích Hòa Giải; biểu lộ tâm tình ấy trong thái độ, trong cách thức đón tiếp, lắng nghe, khuyên bảo và ban phép xá giải...”.

Tôi nghĩ rằng, hơn bao giờ hết và hơn bất cứ nơi nào, Thiên Chúa đang mời gọi chúng ta trở thành mục tử từ bi nhân hậu, can đảm dấn thân phục vụ anh chị em của mình tại giáo phận Vinh này. Thật vậy, xét về địa lý, đây là vùng đất nghèo, lại luôn bị thiên tai lụt lội. Về kinh tế, đây là vùng đất nhiều người ít của và chậm phát triển, thiếu hụt trầm trọng công ăn việc làm. Biết bao người trẻ bị bó buộc phải “tha phương cầu thực”! Về phương diện xã hội, nơi chiếc nôi của cách mạng này vẫn là vùng đất nặng giáo điều và ít sáng tạo nhất. Đại đa số giáo dân giáo phận Vinh sinh sống ở miền quê, thất học và ít cơ hội thăng tiến, vì vậy là thành phần nghèo và thiệt thòi nhất trong xã hội. Thêm vào đó, vì niềm tin Kitô giáo, vô hình trung họ phải gánh chịu thêm một số thiệt thòi và phân biệt đối xử khác. Nhưng, bất chấp tất cả, họ vẫn rất kiên cường và trung tín với Giáo Hội. Nếu hôm nay Đức Giêsu phải chứng kiến tình trạng nghèo đói, thiệt thòi, nhọc nhằn, khổ đau, bị hiểu lầm, bị tổn thương, bị nạt nộ và đang còng lưng dưới gánh nặng cuộc đời… của giáo dân Vinh, chắc chắn Chúa không thể không chạnh lòng xót thương. 

Anh em linh mục thân mến, trong tư cách là các thừa tác viên của Giáo Hội tại Nghệ-Tĩnh-Bình này, chúng ta có nhiệm vụ giữ cho sứ điệp tình yêu và lòng thương xót của Chúa được luôn sinh động, trong các bài giảng, các quyết định mục vụ cũng như trong cách đối xử, tiếp xúc giữa cha Quản xứ với giáo dân. Làm sao giảm thiểu tối đa những tiếng thở dài, nài van, buồn tủi, than khóc nơi đàn chiên của Đức Kitô tại mảnh đất này. Nếu chúng ta yêu mến Thiên Chúa, chúng ta phải có trách nhiệm về nỗi vui, nỗi buồn, âu lo và hy vọng của anh chị em chúng ta. 

Lúc này đây, hơn bao giờ hết, lời nhắn nhủ của thánh Phaolô như đang văng vẳng bên tai chúng ta: “Nếu quả thật sự liên kết với Đức Kitô đem lại cho chúng ta một niềm an ủi, nếu tình bác ái khích lệ chúng ta, nếu chúng ta được hiệp thông trong Thần Khí, nếu chúng ta sống thân tình và biết cảm thương nhau, thì xin anh em hãy làm cho niềm vui của tôi được trọn vẹn, là hãy có cùng một cảm nghĩ, một lòng mến, một tâm hồn, một ý hướng như nhau… Mỗi người đừng tìm lợi ích cho riêng mình, nhưng hãy tìm lợi ích cho người khác. Giữa anh em với nhau, anh em hãy có những tâm tình như chính Đức Giêsu Kitô” (Pl 2,1-5). Amen.
 
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Tiếp tục loạt bài giáo lý về cầu nguyện, trong buổi tiếp kiến chung trực tuyến vào sáng thứ Tư 05/05, Đức Thánh Cha Phanxicô đã trình bày về đề tài chiêm niệm. Theo ngài, không có đối nghịch giữa cầu nguyện và hành động. Trong Tin mừng chỉ có một tiếng gọi duy nhất, đó là theo Chúa trên con đường tình yêu. Bác ái và chiêm niệm đồng nghĩa với nhau. Hồng Thủy - Vatican News
Trong buổi tiếp kiến chung trực tuyến sáng ngày 14/4/2021, tiếp tục bài giáo lý về việc cầu nguyện của người Kitô hữu, Đức Thánh Cha Phanxicô giải thích rằng lời cầu nguyện thuộc về chính bản chất của Giáo hội;nếu thiếu cầu nguyện thì Giáo hội không thể thực hiện sứ mệnh truyền giáo và phục vụ người khác. Hồng Thủy - Vatican News Trong bài giáo lý tại buổi tiếp kiến chung trực tuyến sáng thứ Tư 14/04 Đức Thánh Cha suy tư về vai trò của Giáo hội như trường học tuyệt vời của việc cầu nguyện. Bắt đầu từ cha mẹ chúng ta, những người dạy chúng ta cầu nguyện, gieo vào tâm hồn chúng ta hạt giống được chín mùi qua đời sống của Ki-tô hữu. Bên cạnh đó, gương sáng của những tín hữu sống đức tin, việc tham dự vào đời sống của giáo xứ và Thánh lễ, giúp chúng ta không chỉ phát triển đời sống cầu nguyện ở mức độ cá nhân nhưng còn được đón nhận di sản cầu nguyện và tu đức phong phú của Giáo hội.
Chợt Ngài bỗng kêu lên một tiếng lớn rồi tắt thở! Thân xác Ngài rũ xuống, thập giá rung lên nhè nhẹ! Chiều đang dần tàn, cảnh hoàng hôn thật thê lương trong ráng chiều màu tím thẫm ảm đạm! Post 30 Tháng Ba 2013(Xem: 3284)/10 Tháng Tư 202011:00 SA(Xem: 4361)
Chúa Nhật 24 tháng Giêng, Giáo Hội cử hành Chúa Nhật thứ Ba mùa Quanh Năm với chủ đề “Anh em hãy ăn năn sám hối và tin vào Phúc Âm”. Tin Mừng theo Thánh Máccô thuật lại cho chúng ta biết hoàn cảnh Chúa kêu gọi các tông đồ đầu tiên như sau: Sau khi Gioan bị bắt, Chúa Giêsu sang xứ Galilêa, rao giảng Tin Mừng nước Thiên Chúa, Người nói: “Thời giờ đã mãn và nước Thiên Chúa đã gần đến; anh em hãy ăn năn sám hối và tin vào Phúc Âm”. Đang lúc đi dọc theo bờ biển Galilêa, Người thấy Simon và em là Anrê đang thả lưới xuống biển, vì các ông là những người đánh cá. Chúa Giêsu bảo các ông: “Hãy theo Ta, Ta sẽ làm cho các ngươi trở thành những kẻ chài lưới người”. Lập tức các ông bỏ lưới theo Người.
Ba Vua là ba khuôn mặt không thể thiếu vắng trong mùa Giáng Sinh. Nhắc đến Giáng Sinh là nhắc đến mục đồng thôn Bêlem và Ba Vua. Nhưng người Kitô hữu nói chung rất mù mờ về thân thế của Ba Vua. Nếu đặt câu hỏi, “Ba Vua tên gì?” nhiều tín hữu sẽ lúng túng và ngập ngừng trước câu hỏi vừa được nêu. I. Ba Vua Trong văn bản tiếng “phổ thông Hy Lạp,” theo như thánh sử Mátthêu, khi “Đức Giêsu sinh ra tại Bêlem, xứ Giuđê, trong đời vua Hêrôđê, mágòi (μάγoi) từ phương Đông tìm đến Giêrusalem. Các ông hỏi, — Vua người Do Thái mới sinh ra hiện đang ở đâu? Chúng tôi đã nhìn thấy ngôi sao của Người ở phương Đông, và chúng tôi đến để triều bái Người” (Mátthêu 2:1). Trong tiếng cổ Hy Lạp mágòi (μάγoi) không có nghĩa là vua. Mágòi là danh từ số nhiều của mágọs (μάγos), một danh từ giống đực. Mágói, theo như Raymond Brown, là một thuật ngữ bao gồm nhiều nghĩa: chiêm tinh gia, giải mộng gia, phù thủy (pháp sư), và thầy tư tế của tôn giáo vùng Trung Đông.
Thiên Chúa đã phái các thiên thần đến báo cho những người chăn cừu biết một Đấng Cứu Thế đã được sinh ra: “Thiên thần Chúa bỗng hiện đến bên họ và vinh quang Chúa rạng ngời bao quanh họ, làm họ kinh khiếp hãi hùng. Nhưng thiên thần nói với họ: “Đừng sợ! Này ta đem tin mừng cho các ngươi về một niềm vui to tát, tức là niềm vui cho toàn dân: là hôm nay, đã sinh ra cho các ngươi vì Cứu Chúa, tức là Đức Kitô Chúa, trong thành của Đavit” (Lc 2,9-11). Hôm nay Ngài báo tin cho chúng ta Giáng sinh đã được một thế giới vô thần tục hóa đến nỗi ngày càng nhiều người cùng thời với chúng ta đã quên đi nguồn gốc của nó. Chắc chắn, khung cảnh Chúa giáng sinh cho họ một ý tưởng chung, nhưng họ không biết rằng trẻ nhỏ nằm trong máng cỏ đơn sơ này đã đến để mang lại cho họ tình yêu và niềm vui mà họ tìm kiếm trong vô vọng.
Lễ Giáng Sinh luôn rất lạ. Lạ đủ thứ. Lạ từ nội tại tới ngoại tại. Giáng Sinh tại Việt Nam chỉ se lạnh một chút, chẳng thấm gì so với cái lạnh của Hài Nhi Giêsu năm xưa, nhưng cũng là lời nhắc để chúng ta nhớ tới cái lạnh của những phận người cơ nhỡ, những kẻ cô đơn, nghèo khó, thiếu thốn những thứ cơ bản nhất,… Việt ngữ thật chí lý khi nói là giá lạnh hoặc lạnh giá, cái “giá” này mới “đáng giá,” chứ cái “lạnh” chưa thấm thía chi đâu. Điều đáng quan tâm là cái lạnh ngoại tại gợi nhớ tới cái lạnh tâm hồn, cái lạnh linh hồn, cái lạnh tâm linh. Cái lạnh này khủng khiếp, cái lạnh giá băng. Có nhiều kiểu lạnh.
Chuyện kể rằng: Có một người đàn bà giàu có đang hấp hối trên giường bệnh. Trong tờ chúc thư để lại, bà kể tên của tất cả mọi người thân thuộc và xa gần sẽ hưởng gia tài của bà. Tuyệt nhiên, bà không hề đá động đến cô gái nghèo và trung thành hầu hạ bà từng giây từng phút. Quà tặng duy nhất mà bà tặng cho cô đó là một thánh giá được bọc thạch cao. Cô gái nhận lấy món quà nhưng lòng cô đầy cay đắng buồn phiền. Cô tự nghĩ: mình đã trung thành phục vụ, hầu hạ sớm hôm để rồi chỉ được món quà không ra gì. Không còn đủ bình tĩnh để nuốt lấy từng giọt cay đắng, cô đã kéo thập giá xuống khỏi tường và ném tung trên nền nhà. Cây thập giá vỡ tung và kìa, trước sự ngạc nhiên của cô, tất cả những mảnh vụn thoát ra khỏi lớp vỏ thạch cao đều là những viên kim cương óng ánh...
“Thì giờ hay đời sống là món quà quý Đức Chúa Trời ban cho mỗi người chúng ta. Đời sống quý vì nó đến từ chính Chúa là Đấng Tạo Hóa.” Đời sống thật mong manh và ngắn ngủi. Con người sống đó rồi chết đó cũng mấy hồi. Bởi vậy, con người quy về Thiên Chúa là cội nguồn của sự sống và hạnh phúc. Tiền bạc quan trọng nhưng không là tất cả. Quyền lực, thú vui rồi cũng chỉ là cát bụi mà thôi. Vì thế, một nhạc sĩ đã từng cảm nhận: “Làm con người trong cuộc đời được bấy nhiêu năm. Ai vốn giàu sang, ai vốn kiếp bần hàn, ai giãi dầu một nắng hai sương, mai lìa đời nhắm mắt xuôi tay. Đua đòi nhiều chỉ khổ thêm thôi”. /post 19 Tháng Tám 2012(Xem: 7000) Tâm Thương - TgpSaigonnet/
Nếu vào một ngày nào đó tôi không còn sống nơi trần gian này nữa, thì những đứa trẻ vẫn lần lượt lớn lên, người thân người thương của tôi họ vẫn ăn, vẫn uống và làm việc theo lẽ sinh tồn, những ngôi nhà, con đường tôi quen thuộc bỗng chốc trở nên xa lạ, mặt trời vẫn giải nắng trên đồng cỏ xanh và cơn mưa vẫn tưới mát trên những thửa ruộng khô cằn… Không gian yên tĩnh ngày nào chẳng còn, khi người viếng, kẻ thăm, người khóc, kẻ cười,… tạo nên khung cảnh bi đát, chua xót và đau thương. Thân xác tôi vẫn nằm đó chẳng cử động hay nhúc nhích, chẳng thở than hay kêu gào mặc cho lũ ruồi muỗi đậu bay. Người ta thức cố thức tôi dậy sau giấc ngủ dài nhưng kết quả nhận được là sự thinh lặng chẳng một lời hồi âm phát ra. Tôi biết và tôi cố gồng mình ngồi dậy để an ủi những người thân đang ngồi than khóc, nhưng bàng hoàng chợt nhận ra tôi đã chết rồi!
Bảo Trợ