Giải đáp phụng vụ: Nghi thức thống hối trong lễ Phục Sinh được thực hiện ra sao?

09 Tháng Tư 20142:00 CH(Xem: 2116)

Giải đáp phụng vụ: Nghi thức thống hối trong lễ Phục Sinh được thực hiện ra sao?

Giải đáp của Cha Edward McNamara, Dòng Đạo Binh Chúa Kitô (LC), Khoa trưởng Thần học và giáo sư phụng vụ của Đại học Regina Apostolorum (Nữ Vương các Thánh Tông Đồ), Rôma.

Hỏi: Trong thư luân lưu "Paschalis Solemnitatis", về sự chuẩn bị và cử hành lễ Phục Sinh, hướng dẫn mục vụ sau đây được đưa ra cho nghi thức thống hối trong lễ Phục Sinh (số 97): "Thật là thích hợp khi nghi thức thống hối ngày này mang hình thức của việc rảy nước thánh đã được làm phép trong lễ Vọng Phục Sinh, trong đó điệp ca 'Vidi aquam' (Tôi đã thấy nước) hoặc một bài hát khác có tính cách thánh tẩy được hát lên". Vì nước làm phép trong lễ Vọng không cần phải được làm phép lại, điều này có nghĩa là vào ngày lễ Phục sinh, cả lời mời gọi của linh mục và việc làm phép nước bị bỏ qua, khi thực hiện nghi thức rảy nước thánh, và vì vậy cộng đoàn bắt đầu hát ngay điệp ca “Tôi đã thấy nước”, hoặc một bài hát khác ngay sau khi làm dấu thánh giá và lời chào của linh mục; thưa cha, như thế là đúng không? - S. V. R., Breda, Hà Lan.


Đáp: Việc làm phép nước được bỏ qua trong ngày lễ Phục sinh, cũng như được bỏ qua khi làm phép Rửa tội, trong suốt 50 ngày của Lễ Phục Sinh, mà trong đó nước làm phép trong lễ Vọng Phục sinh được sử dụng.

Cần lưu ý rằng trong khi hướng dẫn trên là chính xác, khi nói đến việc rảy nước thánh cho tín hữu với nước đã làm phép trước và điệp ca được hát, cả hướng dẫn này và Sách Lễ không nói gì về nghi thức chính xác cần được thực hiện cho việc rảy nước thánh vào lễ Chúa Nhật Phục sinh. 

Đầu thánh lễ, việc bắt đầu ngay rảy nước thánh và hát điệp ca có thể là vô nghĩa đối với các tín hữu. Vì vậy, tôi nghĩ rằng linh mục nên giải thích ý nghĩa của nghi thức, để cho các tín hữu hiểu sự liên kết của việc rảy nước thánh và nghi thức thống hối.

Mặc dù nó không phải là quy định, tôi tin rằng linh mục có thề sử dụng công thức quen thuộc của việc giới thiệu nghi thức thống hối, trước khi bắt đầu rảy nước thánh.

Sách Lễ cũng cung cấp một sự chọn lựa thay thế cho thủ tục này trong Chúa Nhật Phục Sinh. Nghi thức thống hối quen thuộc được sử dụng, nhưng việc nhắc lại lời hứa rửa tội được thực hiện sau bài giảng, theo nghi thức được đề nghị cho lễ Vọng Phục Sinh, và không đọc kinh Tin Kính. Trong trường hợp này, việc rảy nước thánh được làm phép trong lễ Vọng, và hát điệp ca được thực hiện như là kết luận cho việc nhắc lại lời hứa rửa tội.

Trong lễ Chúa Nhật Phục Sinh, sự chọn lựa thứ hai này có lẽ được ưa thích hơn so với việc rảy bước thánh trong nghi thức thống hối, vì chỉ vào ngày Chúa Nhật Phục sinh khả năng này là dễ thực thi.

Tuy nhiên, trong các Chúa Nhật khác của mùa Phục sinh, nghi thức làm phép nước và rảy nước thánh trên các tín hữu là được khuyến khích hơn. 

Trong trường hợp này, sự thực hành là khác với việc rửa tội mùa Phục Sinh, vì nước chưa được làm phép. Phần Phụ lục của Sách Lễ cung cấp một lời nguyện làm phép nước và các điệp ca riêng cho mùa này dành cho các Chúa Nhật mùa Phục Sinh. Lời nguyện làm phép nước là như sau:

"Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, chúng con là dân Chúa, đang họp nhau cầu nguyện, để tưởng nhớ công ơn Chúa đã sáng tạo chúng con cách lạ lùng, và cứu chuộc còn lạ lùng hơn nữa. Xin Chúa thuơng nhận lời chúng con và thánh hoá + nước này do chính Chúa đã dựng nên, để làm cho ruộng đất phì nhiêu mầu mỡ, cho thân xác con người được sạch sẽ và thoải mái. Và trải qua lịch sử cứu chuộc, nước thiên nhiên đã trở nên khí cụ của tình thương hải hà: Quả vậy, Chúa dùng nước Biển Đỏ cứu dân riêng khỏi vòng nô lệ, và làm vọt lên giữa sa mạc khô cằn một nguồn nước cho dân giải khát. Các tiên tri cũng dùng hình ảnh mạch nước tuôn trào để tiên báo Chúa sẽ lập giao ước mới với loài người chúng con. Và sau hết, khi Đức Kitô chịu phép rửa tại sông Giođan, Chúa đã thánh hoá nước trong lành, để thanh tẩy con người tội lỗi chúng con, và cho chúng con được tái sinh nên con người mới. Vậy giờ đây, khi chúng con rảy nước thánh trên mình, để nhớ lại Bí Tích Thánh Tẩy chúng con đã lãnh nhận, xin Chúa cho tất cả chúng con được chia sẻ niềm vui với anh chị em chịu phép Thánh Tẩy trong mùa Vượt Qua này. Chúng con cầu xin, nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con. CĐ: Amen" (Bản dịch của Ủy ban Phụng tự thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam).

Lời nguyện tuyệt đẹp này xuất hiện như một mẫu thức tương đối mới, mặc dầu nó được cảm hứng từ các mẫu thức cổ trong các thủ bản thuộc thế kỷ VI và VII.

Năm điệp ca Phục Sinh được trích từ Kinh Thánh. Điệp ca đầu tiên "Tôi đã thấy nước, Vidi aquam" được lấy cảm hứng từ Ed 47, 1 - 2, 9 . "Tôi đã thấy nước từ bên phải đền thờ chảy ra, Alleluia! Và nước ấy chảy đến những ai thì tất cả đều được cứu rỗi và reo lên Alleluia! Alleluia!"

Sau khi hoàn tất việc rảy nước thánh trên các tín hữu, linh mục trở về ngai và đọc lời sau đây để kết thúc nghi thức thống hối: "Xin Thiên Chúa toàn năng thương xót, tha tội chúng ta, và nhờ việc cử hành Hy tế tạ ơn này, xin làm cho chúng ta xứng đáng chia sẻ vào bàn tiệc Nước Trời. CĐ: Amen”. (Zenit.org 8-4-2014)

Nguyễn Trọng Đa
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Tiếp tục loạt bài giáo lý về cầu nguyện, trong buổi tiếp kiến chung trực tuyến vào sáng thứ Tư 05/05, Đức Thánh Cha Phanxicô đã trình bày về đề tài chiêm niệm. Theo ngài, không có đối nghịch giữa cầu nguyện và hành động. Trong Tin mừng chỉ có một tiếng gọi duy nhất, đó là theo Chúa trên con đường tình yêu. Bác ái và chiêm niệm đồng nghĩa với nhau. Hồng Thủy - Vatican News
Trong buổi tiếp kiến chung trực tuyến sáng ngày 14/4/2021, tiếp tục bài giáo lý về việc cầu nguyện của người Kitô hữu, Đức Thánh Cha Phanxicô giải thích rằng lời cầu nguyện thuộc về chính bản chất của Giáo hội;nếu thiếu cầu nguyện thì Giáo hội không thể thực hiện sứ mệnh truyền giáo và phục vụ người khác. Hồng Thủy - Vatican News Trong bài giáo lý tại buổi tiếp kiến chung trực tuyến sáng thứ Tư 14/04 Đức Thánh Cha suy tư về vai trò của Giáo hội như trường học tuyệt vời của việc cầu nguyện. Bắt đầu từ cha mẹ chúng ta, những người dạy chúng ta cầu nguyện, gieo vào tâm hồn chúng ta hạt giống được chín mùi qua đời sống của Ki-tô hữu. Bên cạnh đó, gương sáng của những tín hữu sống đức tin, việc tham dự vào đời sống của giáo xứ và Thánh lễ, giúp chúng ta không chỉ phát triển đời sống cầu nguyện ở mức độ cá nhân nhưng còn được đón nhận di sản cầu nguyện và tu đức phong phú của Giáo hội.
Chợt Ngài bỗng kêu lên một tiếng lớn rồi tắt thở! Thân xác Ngài rũ xuống, thập giá rung lên nhè nhẹ! Chiều đang dần tàn, cảnh hoàng hôn thật thê lương trong ráng chiều màu tím thẫm ảm đạm! Post 30 Tháng Ba 2013(Xem: 3284)/10 Tháng Tư 202011:00 SA(Xem: 4361)
Chúa Nhật 24 tháng Giêng, Giáo Hội cử hành Chúa Nhật thứ Ba mùa Quanh Năm với chủ đề “Anh em hãy ăn năn sám hối và tin vào Phúc Âm”. Tin Mừng theo Thánh Máccô thuật lại cho chúng ta biết hoàn cảnh Chúa kêu gọi các tông đồ đầu tiên như sau: Sau khi Gioan bị bắt, Chúa Giêsu sang xứ Galilêa, rao giảng Tin Mừng nước Thiên Chúa, Người nói: “Thời giờ đã mãn và nước Thiên Chúa đã gần đến; anh em hãy ăn năn sám hối và tin vào Phúc Âm”. Đang lúc đi dọc theo bờ biển Galilêa, Người thấy Simon và em là Anrê đang thả lưới xuống biển, vì các ông là những người đánh cá. Chúa Giêsu bảo các ông: “Hãy theo Ta, Ta sẽ làm cho các ngươi trở thành những kẻ chài lưới người”. Lập tức các ông bỏ lưới theo Người.
Ba Vua là ba khuôn mặt không thể thiếu vắng trong mùa Giáng Sinh. Nhắc đến Giáng Sinh là nhắc đến mục đồng thôn Bêlem và Ba Vua. Nhưng người Kitô hữu nói chung rất mù mờ về thân thế của Ba Vua. Nếu đặt câu hỏi, “Ba Vua tên gì?” nhiều tín hữu sẽ lúng túng và ngập ngừng trước câu hỏi vừa được nêu. I. Ba Vua Trong văn bản tiếng “phổ thông Hy Lạp,” theo như thánh sử Mátthêu, khi “Đức Giêsu sinh ra tại Bêlem, xứ Giuđê, trong đời vua Hêrôđê, mágòi (μάγoi) từ phương Đông tìm đến Giêrusalem. Các ông hỏi, — Vua người Do Thái mới sinh ra hiện đang ở đâu? Chúng tôi đã nhìn thấy ngôi sao của Người ở phương Đông, và chúng tôi đến để triều bái Người” (Mátthêu 2:1). Trong tiếng cổ Hy Lạp mágòi (μάγoi) không có nghĩa là vua. Mágòi là danh từ số nhiều của mágọs (μάγos), một danh từ giống đực. Mágói, theo như Raymond Brown, là một thuật ngữ bao gồm nhiều nghĩa: chiêm tinh gia, giải mộng gia, phù thủy (pháp sư), và thầy tư tế của tôn giáo vùng Trung Đông.
Thiên Chúa đã phái các thiên thần đến báo cho những người chăn cừu biết một Đấng Cứu Thế đã được sinh ra: “Thiên thần Chúa bỗng hiện đến bên họ và vinh quang Chúa rạng ngời bao quanh họ, làm họ kinh khiếp hãi hùng. Nhưng thiên thần nói với họ: “Đừng sợ! Này ta đem tin mừng cho các ngươi về một niềm vui to tát, tức là niềm vui cho toàn dân: là hôm nay, đã sinh ra cho các ngươi vì Cứu Chúa, tức là Đức Kitô Chúa, trong thành của Đavit” (Lc 2,9-11). Hôm nay Ngài báo tin cho chúng ta Giáng sinh đã được một thế giới vô thần tục hóa đến nỗi ngày càng nhiều người cùng thời với chúng ta đã quên đi nguồn gốc của nó. Chắc chắn, khung cảnh Chúa giáng sinh cho họ một ý tưởng chung, nhưng họ không biết rằng trẻ nhỏ nằm trong máng cỏ đơn sơ này đã đến để mang lại cho họ tình yêu và niềm vui mà họ tìm kiếm trong vô vọng.
Lễ Giáng Sinh luôn rất lạ. Lạ đủ thứ. Lạ từ nội tại tới ngoại tại. Giáng Sinh tại Việt Nam chỉ se lạnh một chút, chẳng thấm gì so với cái lạnh của Hài Nhi Giêsu năm xưa, nhưng cũng là lời nhắc để chúng ta nhớ tới cái lạnh của những phận người cơ nhỡ, những kẻ cô đơn, nghèo khó, thiếu thốn những thứ cơ bản nhất,… Việt ngữ thật chí lý khi nói là giá lạnh hoặc lạnh giá, cái “giá” này mới “đáng giá,” chứ cái “lạnh” chưa thấm thía chi đâu. Điều đáng quan tâm là cái lạnh ngoại tại gợi nhớ tới cái lạnh tâm hồn, cái lạnh linh hồn, cái lạnh tâm linh. Cái lạnh này khủng khiếp, cái lạnh giá băng. Có nhiều kiểu lạnh.
Chuyện kể rằng: Có một người đàn bà giàu có đang hấp hối trên giường bệnh. Trong tờ chúc thư để lại, bà kể tên của tất cả mọi người thân thuộc và xa gần sẽ hưởng gia tài của bà. Tuyệt nhiên, bà không hề đá động đến cô gái nghèo và trung thành hầu hạ bà từng giây từng phút. Quà tặng duy nhất mà bà tặng cho cô đó là một thánh giá được bọc thạch cao. Cô gái nhận lấy món quà nhưng lòng cô đầy cay đắng buồn phiền. Cô tự nghĩ: mình đã trung thành phục vụ, hầu hạ sớm hôm để rồi chỉ được món quà không ra gì. Không còn đủ bình tĩnh để nuốt lấy từng giọt cay đắng, cô đã kéo thập giá xuống khỏi tường và ném tung trên nền nhà. Cây thập giá vỡ tung và kìa, trước sự ngạc nhiên của cô, tất cả những mảnh vụn thoát ra khỏi lớp vỏ thạch cao đều là những viên kim cương óng ánh...
“Thì giờ hay đời sống là món quà quý Đức Chúa Trời ban cho mỗi người chúng ta. Đời sống quý vì nó đến từ chính Chúa là Đấng Tạo Hóa.” Đời sống thật mong manh và ngắn ngủi. Con người sống đó rồi chết đó cũng mấy hồi. Bởi vậy, con người quy về Thiên Chúa là cội nguồn của sự sống và hạnh phúc. Tiền bạc quan trọng nhưng không là tất cả. Quyền lực, thú vui rồi cũng chỉ là cát bụi mà thôi. Vì thế, một nhạc sĩ đã từng cảm nhận: “Làm con người trong cuộc đời được bấy nhiêu năm. Ai vốn giàu sang, ai vốn kiếp bần hàn, ai giãi dầu một nắng hai sương, mai lìa đời nhắm mắt xuôi tay. Đua đòi nhiều chỉ khổ thêm thôi”. /post 19 Tháng Tám 2012(Xem: 7000) Tâm Thương - TgpSaigonnet/
Nếu vào một ngày nào đó tôi không còn sống nơi trần gian này nữa, thì những đứa trẻ vẫn lần lượt lớn lên, người thân người thương của tôi họ vẫn ăn, vẫn uống và làm việc theo lẽ sinh tồn, những ngôi nhà, con đường tôi quen thuộc bỗng chốc trở nên xa lạ, mặt trời vẫn giải nắng trên đồng cỏ xanh và cơn mưa vẫn tưới mát trên những thửa ruộng khô cằn… Không gian yên tĩnh ngày nào chẳng còn, khi người viếng, kẻ thăm, người khóc, kẻ cười,… tạo nên khung cảnh bi đát, chua xót và đau thương. Thân xác tôi vẫn nằm đó chẳng cử động hay nhúc nhích, chẳng thở than hay kêu gào mặc cho lũ ruồi muỗi đậu bay. Người ta thức cố thức tôi dậy sau giấc ngủ dài nhưng kết quả nhận được là sự thinh lặng chẳng một lời hồi âm phát ra. Tôi biết và tôi cố gồng mình ngồi dậy để an ủi những người thân đang ngồi than khóc, nhưng bàng hoàng chợt nhận ra tôi đã chết rồi!
Bảo Trợ