Nghệ An — Hà Tĩnh Trong Ca Dao Tục Ngữ

09 Tháng Bảy 20122:00 CH(Xem: 31708)

Một vài câu ca dao tục ngữ diễn tả “thế thái nhân tình” liên quan tới Nghệ An – Hà Tĩnh, ví dụ như:

lang_que_2Đường vô xứ Nghệ quanh quanh,
Non xanh nước biếc như tranh hoạ đồ.


Khi đọc câu ca dao trên đây, tôi mỉm cười tự hỏi nếu tôi thay đổi chữ “xứ Nghệ” bằng một địa danh khác chắc chắn sẽ có vài người “hiểu lầm” vì quê hương ta đi mô cũng thấy đường quanh quanh, đồi núi và sông hồ nhiều lắm: “Đường vô Tầm Bó quanh quanh, non xanh nước biếc như tranh họa đồ” nghe cũng không đến nỗi tệ! Do đó, tôi tiếp tục kiếm tìm để thâu lượm những câu ca dao mang nhiều nét đặc thù, diễn tả rõ ràng hơn về quê cha đất tổ của mình:

Quê ta ngọt mía Nam Đàn,
Bùi khoai chợ Rộ, thơm cam Xã Đoài.


Hoặc:

Cá rô Bầu Nón kho với nước tương Nam Đàn,
Gạo tháng mười cơm mới, đánh tràn không biết no.


Nếu bạn là người gốc Hà Tĩnh, có lẽ bạn sẽ thích thú ngâm nga:

Ai về Hà Tĩnh thì về,
Mặc lụa chợ Hạ, uống chè Hương Sơn.



Anh đi anh nhớ quê nhà,
Nhớ canh rau muống, nhớ cà dằm tương.
Nhớ ai dãi nắng dầm sương,
Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao!


Những phong tục tập quán của tổ tiên; và một trong những “phong tục” đó được diễn tả qua những câu ca dao đơn sơ mộc mạc:

Công anh làm rể Chương Đài,
Một năm ăn hết mười hai vại cà.
Giếng đâu thì dắt anh ra,
Kẻo anh chết khát với cà nhà em!


Thú thật với các bạn, tôi không nhìn thấy tận mắt cảnh “làm rể” ở Bình Giả, nhưng tôi biết rất rõ “vại cà” vì hầu như nhà nào ở Bình Giả cũng có, không nhiều thì ít... Tục lệ “cổ truyền” tôi được chứng kiến nhiều nhất ở Bình Giả là “hội nước chát”, còn gọi là nước chè xanh. Những bậc cha anh của tôi ở Bình Giả chiều chiều thường “mời” nhau quây quần bên ly “nước chát” kể chuyện thế thái nhân tình, “nói trạng” và ngay cả quyết định những việc quan trọng như hôn nhân con cái, việc xóm làng...

Chè ngon nước chát xin mời,
Nước non, non nước nghĩa người khó quên.


Ngoài những câu ca dao truyền khẩu, Nghệ An - Hà Tĩnh còn có những bài “hát giặm” do một số nho sĩ sáng tác, được bà con ưa thích và phổ biến rộng rãi. “Hát giặm” thường có tính cách trình diễn, do nam nữ đối đáp, hoặc hai ba người “ngâm” lên để kể một giai thoại, hay một sự việc vừa xảy ra, hoặc kể một sự tích gì có tình tiết, nội dung và hình thức đều được trau chuốt kỹ lưỡng. Ví dụ:

Trai:

Tiết thanh nhàn thong thả
Muốn thăm hỏi vài câu
Cuốc thánh thót kêu sầu
Gió phảng phất mùa sâu
Nhớ trong sách đã lâu:
Chuyện “Tư mã phượng cầu”
Thương thì mũi tìm trâu
Trâu đâu tìm chạc mũi (chạc mũi = giây thừng)


Gái:

Trời mở rộng phong quang
Giã ơn trời mở rộng phong quang
Em đánh tiếng đưa sang
Đêm tàn canh vò võ
Tay em cầm con bấc đỏ
Mong bỏ đĩa dầu đầy
Mời bạn ở lại đây
Đôi ta giở lời rày
Tình đó với nghĩa đây


Trai:

Giống như đọi nác đầy (đọi nác = chén nước)
Bưng nhẩn nhẩn trên tay
Không khuy sơ một hột
Gió nỏ triềng một hột
Công đôi ta thề thốt
Kể đã mấy niên rồi
Lòng đã quyết lứa đôi
Ngãi đã quyết thề bồi
Nhất ngôn nói hẳn lời
Đừng bốn chốn ba nơi
Đừng trăng gió chào mời
Trăng nhiều trăng rạng rỡ
Trăng nhiều đèn rạng rỡ


Gái:

Em đã có chồng rồi
Em đã có lứa rồi
Vung úp đã vừa nồi
Đũa ghép đã thành đôi
Bạn đừng có ỡm ờ với tôi!
Tôi lấy chân khỏa lại
Tôi lấy bàn khỏa lại


Trai:

Têm một quả trầu không
Bỏ vô hộp con rồng
Đi băng nội băng đồng
Qua năm bảy khúc sông
Qua chín mười đỗi đồng
Nghe tin em đã có chồng
Anh quăng lắc vô bụi
Bạn gạt tùa vô bụi.


Có những bài hát giặm rất dài, kể chi ly tình tiết “một chuyện tình”:

Anh thương em một tháng hai kỳ
Dồn đi tính lại, cũng như mười ngày
Năm rộn mà chầy
Có hai mươi bốn miện (miện = kỳ)
Xuân qua rồi hè đến
Thu đã muộn, đông rồi
Nhớ bạn cũ chưa nguôi, 
Sang lập xuân vũ thuỷ
Đêm em nằm em nghĩ
Nghĩ kinh trập, xuân phân,
Lòng tưởng sự ái ân
Sang thanh minh, cốc vũ
Đêm dêm nằm nỏ ngủ
Nhớ bạn mãi thường thường
Tiết lập hạ nhớ thương
Bước sang tuần tiểu mãn
Trông ra ngoài chán chán
Tiết mang hiện lại gần
Người đập đất, gánh phân
Để mùa màng gặt hái
Anh thương em mãi mãi
Sang hạ chí tiết hè
Em nghe tiếng sầu ve
Em buồn trong gia sự
Bạn buồn trong gia sự
 ***
Tiết tiểu thử, đại thử
Trời nắng sốt lắm thay!
Ra ngồi tựa cột cây
Anh với em than thở
Bạn với mình than thở
 ***
Tiết lập thu, xử thử
Ai diều sáo mặc ai
Vàng lác đác giếng tây
Ta thương người bạn cộ (cộ = cũ)
Nhớ mãi người bạn cộ
 ***
Vừa đến tiết bạch lộ
Bầy chim trắng bay sang
Cây heo hắt lá vàng
Sang thu phân hàn lộ.
 ***
Đêm em nằm, em chộ (chộ = thấy)
Tiết sương giáng lại kề
Trông bạn cũ ta về
Sang lập đông giá rét
Tiết tiểu tuyết, đại tuyết
Trời giá rét lắm thay
Sang đông chí cấy cày
Dạ bồi hồi nhớ bạn
Tiết tiểu hàn chưa dạn
Đã bước sang đại hàn
Dạ tưởng nhớ người ngoan
Vừa năm cùng tháng tận
Vừa cuối mùa cuối tận.
 ***
Phận lại ngồi trách phận
Phận nỏ giám trách phận
Anh thương em từ tháng giêng đến tháng chạp!


Đọc qua những câu “hát giặm” trên đây tôi thật lòng “khâm phục” trí nhớ của ông bà tổ tiên... Tôi cầm giấy đọc vẫn còn “trúc trắc”, nhưng ông bà cha mẹ tôi, nhiều người không biết chữ, nhưng đã nhớ thuộc lòng và ngâm nga theo giọng hò điệu hát rất hay, thật xứng đáng là giòng dõi “địa linh nhân kiệt”. Là những người “sinh sau đẻ muộn”, cá nhân tôi và nhiều bạn trẻ chỉ thích những bài “hát dạo” kể chuyện trai gái hò hẹn, “chọc chắc”, nhất là vào những dịp cuối năm, sau khi thu hoạch mùa màng, chuẩn bị mừng năm mới:

Bấy lâu thức nhắp mơ màng,
Bên rèm tiếng gió, đầu giường bóng trăng.

Bấy lâu nghe hết tiếng nàng,
Bên anh nức tiếng đồn vang đã lừng,
Nghe tin anh cũng vội mừng,
Vậy nên chẳng quản suối rừng anh sang.

Bấy lâu anh mức chi nhà,
Để em dệt gấm thêu hoa thêm sầu!

Đồn rằng cá uốn thân vây,
Đồn em hay hát, hát hay anh tìm.

Chốn này vui vẻ, tưng bừng,
Hạc nghe tiếng phượng xa chừng tới nơi.

Đêm khuya trời tạnh sương im,
Tai nghe tiếng nhạc, chàng Kim tới gần.

Dừng xa, khoan kéo, ơi phường!
Hình như có khách viễn phương tới nhà.

Đi qua nghe tiếng em reo,
Nghe xa em kéo, muốn đeo em về.

Đi ngang trước cửa nàng Kiều, 
Dừng chân đứng lại, dặt dìu đôi câu.

Đi ngang thấy búp hoa đào,
Muốn vào mà bẻ, sợ bờ rào lắm gai!

Đồn đây là chốn Đào Nguyên,
Trăng thanh gió mát, cắm thuyền dạo chơi.

Lạ lùng anh mới tới đây, 
Thấy hoa liền hái, biết cây ai trồng.

Đến đây vàng cũng như son,
Ai ai thời cũng như con một nhà.


Hát mừng, hát chào:

Khi nháy mắt, khi nhện sa
Khi chuột rích trong nhà
Khi khách kêu ngoài ngõ
Tay em đưa go đủng đỉnh
Tay em chìa khoá động đào
Bước năm lần cửa, ra chào bạn quen

Mừng rằng bạn đến chơi nhà
Cam lòng thục nữ gọi là trao tay.


Hát hỏi:

Em có chồng rồi, em nói rằng chưa
Tội riêng em đó, nỏ lừa được anh

Em chưa có chồng, em mới đến đây
Chồng rồi chiếu trải, màn vây ở nhà


Hát đố và hát đối:

Anh về chẻ lạt bó tro
Rán sành ra mỡ, em cho làm chồng.
Em về đục núi lòn qua, 
Vắt (cổ) chày ra nước, thì ta làm chồng

Trai thanh xuân ngồi hàng thuốc bắc, 
Gái đông sàng cảm bệnh lầu tây
Hai ta tình nặng nghĩa dày,
Đối ra đáp được, lúc này tính sao?

Đến đây hỏi khác tương phùng
Chim chi một cánh bay cùng nước non?

Tương phùng nhắn với tương tri, 
Lá buồm một cánh bay đi khắp trời

Lá gì không nhánh, không ngành?
Lá gì chỉ có tay mình trao tay?

Lá thư không nhánh, không ngành, 
Lá thư chỉ có tay mình trao tay.

Người Kim Mã cưỡi con ngựa vàng
Đất Phù Long rồng nổi, thì chàng đối chi?

Người Thanh Thuỷ gặp khách nước trong
Hoành sơn ngang núi, đã thoả lòng em chưa?

Nghe anh bôn tẩu bấy lâu
Nghệ An có mấy chiếc cầu hỡi anh?

Nghệ An có ba mươi sáu chiếc cầu
Phồn hoa đi lại bốn cầu mà thôi
Cầu danh, cầu lợi, cầu tài
Cầu cho đây đó làm hai giao hoà

Nhớ em nhất nhật một ngày
Đêm tơ tưởng dạ, làng rày nhớ trông

Chờ em nửa tháng ni rồi
Ôm đờn bán nguyệt, dựa ngồi cung trăng

Nghe tin anh giỏi, anh tài
Đào tiên một cõi Thiên Thai ai trồng?

Thiên thai là của nàng Kiều
Riêng chàng Kim Trọng sớm chiều vào ra.


... Và còn nhiều lắm những câu ca dao tục ngữ “Nghệ An - Hà Tĩnh”. Không phải “ngẫu nhiên” mà quê cha đất tổ của chúng ta được mang danh “địa linh nhân kiệt” với những danh nhân lẫy lừng khắp nước Việt và cả thế giới với Nguyễn Du, Hải Thượng Lãn Ông, Nguyễn Công Trứ, La Sơn Phu Tử... Rất nhiều bà con đang lưu lạc khắp bốn phương trời nhưng vẫn ước mong được trở về nơi “chôn nhau cắt rún” để tìm lại cội nguồn, để được tận mắt ngắm nhìn “Sông Lam Núi Lĩnh”, để được nghe những “tự tình dân tộc” tổ tiên tôi đã truyền lại qua nhiều thế hệ trong văn chương truyền khẩu “Ca Dao Tục Ngữ”:

Ai đi vô nơi đây xin dừng chân xứ Nghệ,
Nghe câu hò ví dặm càng lắng lại càng sâu,
Như sông Lam chảy chậm đặm bao thủa vùi sâu.
Ai ơi cà xứ Nghệ càng mặn lại càng giòn
Nước chè xanh xứ Nghệ càng chát lại càng ngon.
Tình xứ Nghệ không mau nhưng bén rồi mà sâu lắng,
Quen xứ Nghệ quen lâu càng tình sâu nghĩa nặng.
Khoai lang vàng xứ Nghệ càng nhai kỹ càng bùi,
Cam Xã Đoài xứ Nghệ càng chín lại càng thơm.


Lời kết: Sau khi gởi bài này cho Ban Biên Tập hiệu đính, một người đàn anh gởi tặng tôi hai câu “thơ” dưới đây, “muốn bỏ vô chộ mô cụng được”, và đố tôi đoán xem tác giả đang “ngắm cảnh hay ngắm người?” Thú thật với các bạn, trong 14 chữ, tôi hiểu nghĩa chữ “biển”, ngoài ra chỉ đoán mò! Thôi thì tôi dùng 2 câu thơ ni để kết, và hy vọng các bạn đọc người Bình Giã sẽ hiểu rõ hơn:

Mô rú, mô ri, mô nỏ chộ,
Mô rào, mô biển chộ mô mồ?



Bai nay suu tam duoc, co cat mot so cho cho hop voi so dong. xin loi tac gia 
Ý kiến bạn đọc
08 Tháng Năm 20152:04 CH
Khách
lam bai dia phuong copi met that
25 Tháng Ba 20152:25 CH
Khách
binh thuong
11 Tháng Hai 201512:36 CH
Khách
ns về nghệ an quả không sai
27 Tháng Giêng 20152:40 CH
Khách
wow! hay quá! đọc xong tôi càng thấy yêu quê hương
22 Tháng Giêng 20151:23 CH
Khách
tai sao chi toan hat vi dam vay
20 Tháng Giêng 20151:16 CH
Khách
nói về hà tĩnh rất hay
14 Tháng Giêng 20151:15 CH
Khách
Hay wa troi luon
14 Tháng Giêng 201512:25 CH
Khách
hay quá...cảm on bạn !!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!hay tuyet uk uk uk uk uk ... !!! ~_~
09 Tháng Giêng 201512:27 CH
Khách
May bai cua dan ha tinh nghe no hay chj ca
29 Tháng Mười Hai 201412:42 CH
Khách
hí, hay quá
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Bối cảnh lịch sử thời cấm đạo - Nước ta lúc ấy, thế kỷ 16, thời Nam Bắc phân tranh, các vua chúa Lê, Mạc rồi Trịnh, Nguyễn đều cho phép mở cửa biển đón các tàu buôn ngoại quốc vào giao thương. Bởi thế, mới có người Âu Châu sang Việt Nam để buôn bán và truyền đạo.
Tìm hiểu quan niệm của giáo dân xã Bình Trung về vấn đề thất bại và thành công trong cuộc sống, kết quả khảo sát cho thấy 36.7% nhận định thành công hay thất bại trong cuộc sống là “do bản thân”, bản thân họ tự tạo ra thành công hoặc tự gây ra thất bại chứ vấn đề này không có sự can thiệp, tác động nào từ Chúa, suy nghĩ họ mang lý tính nhiều hơn
Giáo xứ Vinh Trung được thành lập ngày 28/10/1955 và hiện nay thuộc địa bàn xã Bình Trung. Sau hơn 40 năm thành lập, giáo xứ Vinh Trung được nhận định là một trong những giáo xứ "có nề nếp sống đạo chuẩn mực, trưởng thành.
Nhiều nhà nghiên cứu âm nhạc đã nhất trí đánh giá Bến Tre là một trong những cái nôi dân ca Nam Bộ mang đậm dấu ấn vùng sông nước và đồng bằng sông Cửu Long. Ở Bến Tre có nhiều làn điệu dân ca như: hát ru, hò, lý, nói thơ..Khuyết danh - Vanchuongviet.org
Âm nhạc Việt Nam có hai truyền thống, truyền thống dân gian và truyền thống bác học. Truyền thống dân gian dính liền với đời sống trong xã hội và đi dài theo suốt cuộc đời của người Việt Nam từ lúc sơ sanh cho đến khi trở về với cát bụi. Bắt đầu là tiếng hát ru khi còn nằm nôi, vừa lớn lên có đồng dao...
Câu nói của đại văn hào Thánh Augustinô là âm vang phổ quát nhất đi lọt vào tất cả các nền văn hóa cổ kim, đông cũng như tây, trong tất cả các chiều kích của cuộc sống con người. Thật thế tôn giáo là gì nếu không phải vì yêu thương mà con người được tạo dựng.../07 Tháng Sáu 2012(Xem: 4093) Nguyễn Đăng Trúc - VanchuongViet/
Theo các công trình nghiên cứu thì cư dân Hòa Bình đã định cư thành từng xóm làng, trồng rau, củ như khoai mỡ ở thung lũng đồi và chế tạo đồ gốm. Đó là thời kỳ văn hóa nương rẫy của cư dân Hòa Bình. Di tích hang Tham Fi là hang ma (spirit cave) tại Đông Bắc Thái Lan có niên đại khoảng từ 8 đến 10 ngàn năm. Tại đây, nhà khảo cổ Mỹ Chester Gorman đã tìm thấy nhiều hóa thạch lớn của các loại cây trồng như trám, cau, bàng và một số loại rau như rau sắng chùa Hương nửa hoang dại nửa trồng trọt. Thời kỳ này, cư dân đã chuyển hẳn sang chăn nuôi trồng trọt nhỏ tuy vẫn còn hái lượm và săn bắt cá và nghề trồng lúa nước đã bắt đầu từ vùng thung lũng rồi phát triển lên vùng cao.
Ngay từ đầu thế kỷ hai mươi, người Pháp đã nỗ lực để tìm biết nguồn gốc của địa danh Sài Gòn, tên của một thành phố mà qua phong cách lãng mạn tây phương họ biến nó thành “Hòn Ngọc Viễn Đông” (La perle de l’Extrêm Orient).../08 Tháng Sáu 2012(Xem: 4337) Bình Nguyên Lộc - Vantuyen/
Bình thường việc người Tàu nghiên cứu hay viết về Việt nam là một việc làm bình thường, không có gì đáng chú ý vì nước Tàu và nước ta là hai nước kế cận nhau...nhưng thời điểm mà người Tàu đẩy mạnh công tác nghiên cứu về Việt Nam nhằm những mục đính riêng của họ là điều chúng ta cần phải suy nghĩ. Thời điểm đó là năm 1978. /1 Tháng Bảy 2012 (Xem: 2909) Phạm Cao Dương - vanchuongviet.org
Trong cuốn văn phạm của mình, Arte da lingoa de Iapam (Ngữ pháp tiếng Nhật), ấn hành tại Trường Kỳ (Nagasaki) năm 1604, linh mục Bồ Đào Nha dòng Tên João Rodrigues khẳng định: “Muốn viết ngôn ngữ này bằng mẫu tự của chúng ta, chúng ta chủ yếu phải sử dụng cách viết La Tinh và Bồ Đào Nha,/ 28 Tháng Năm 2012 (Xem: 2556) Roland Jacques, Canada - GS Đoàn Xuân Kiên chuyển ngữ
Bảo Trợ