Khi Người Tàu Nghiên Cứu Về Việt Nam

01 Tháng Bảy 20212:00 CH(Xem: 3061)

Tạp Chí Hán Nôm do Trung Tâm Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn Quốc Gia Việt Nam xuất bản, số 1 (18), ấn hành năm 1994, có đăng bài “Trung Quốc Nghiên Cứu Lịch Sử Việt Nam” của Nguyễn văn Hồng. Trong bài này tác giả đã tường thuật lại chuyến đi Trung Quốc vào giữa năm 1993 của ông nhằm “tham quan trao đổi và giảng dạy lích sử ở 4 trường: Đại Học Bắc Kinh, Đại Học Nam Khai, Đại Học Sơn Đông và Đại Học Tinh Châu”. Nhưng trọng tâm của bài báo, đúng như nhan đề tác giả đã lựa chọn là công cuộc nghiên cứu lịch sử Việt Nam ở nước Tàu.

bien_dong_map_southchina_sea_0Bình thường việc người Tàu nghiên cứu hay viết về Việt nam là một việc làm bình thường, không có gì đáng chú ý vì nước Tàu và nước ta là hai nước kế cận nhau, Việt Nam bị Tàu đô hộ cả ngàn năm và đã hấp thụ văn hóa Tàu một cách sâu đậm, Việt Nam lại nằm án ngữ ngay trên con đường Nam tiến của người Tàu…, nhưng thời điểm mà người Tàu đẩy mạnh công tác nghiên cứu về Việt Nam nhằm những mục đính riêng của họ là điều chúng ta cần phải suy nghĩ. Thời điểm đó là năm 1978. Tác giả viết như sau:

“Công việc này (tập hợp, biên soạn và chú giải, hiệu đính) mới trở lại từ năm 1978 khi nhu cầu nghiên cứu khu vực và kinh nghiệm phát triển đặt thành vấn đề thời sự quan trọng nhất trong chính sách của Trung Quốc.”

Năm 1978 là năm bang giao giữa hai nước đã vô cùng căng thẳng để đến đầu năm sau chiến tranh đã bùng nổ. Sự đẩy mạnh công tác nghiên cứu như vậy không phải là do nhu cầu phát triển văn hóa thuần túy mà là chánh trị. Đó là một nhu cầu tự nhiên do tình thế đòi hỏi. Nhưng vì nó được thực hiện bởi những người làm công tác văn hóa nên ảnh hưởng về văn hóa nói chung và về sự hiểu biết có tính cách khoa học nói riêng của các nhà nghiên cứu và của quần chúng chắc chắn cũng bị ảnh hưởng. Lý do rất đơn giản: vì nhu cầu chính trị, người ta có thể làm đủ thứ từ ra lệnh bắt các nhà văn hóa phải làm theo ý của nhà cầm quyền đến việc ngụy tạo các chứng từ, tài liệu hay nhẹ nhàng hơn là dùng quyền lợi để mua chuộc. Điều người ta hy vọng là chuyện này đã và sẽ không xảy ra cũng như những gì người Tàu đã làm ở các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa với hàng trăm học giả và những con số về các đồ cổ tìm được.



Trong bản tường trình, Nguyễn Văn Hồng có đề cập tới năm phạm vi hoạt động của các học giả Trung Quốc. Năm phạm vi đó là nghiên cứu, tập hợp, biên soạn và chú giải, hiệu đính tài liệu, phiên dịch các công trình của các học giả Việt Nam sang chữ Hán, nghiên cứu và sưu tập các tài liệu về lịch sử cận đại và hiện đại, và cuối cùng là phát triển đội ngũ nghiên cứu Việt Nam. Trong phạm vi sau này, ông cho biết “đội ngũ nghiên cứu Việt Nam đông đến hàng trăm. Chỉ riêng Hà Nam cũng có khoảng 100. Quảng Tây, Quảng Đông chắc chắn đông hơn” và kết luận rằng “Trung Quốc đang bước vào giai đoạn nghiên cứu Việt nam một cách cơ bản, sâu rộng và tự tin. Họ thường nhắc đến những ưu thế ngôn ngữ, tư liệu nghiên cứu và mượn lời học giả Mỹ và Âu Châu nói: ‘Nếu các học giả Việt Nam không chuẩn bị đầy đủ trình độ chữ Hán để nghiên cứu cổ sử Việt Nam một cách bảo đảm thì vài năm sau chúng tôi sẽ đến Trung Quốc, Nhật Bản nghiên cứu về Việt Nam’. Đó là một lời khuyên, một lời cảnh tỉnh đối với các nhà nghiên cứu lịch sử Việt Nam.”



Tất nhiên là về tài liệu và sự hiểu biết về văn tự liên hệ tới cổ sử Việt nam, ở một giới hạn nào đó, người Tàu có thể có nhiều ưu thế hơn người Việt. Họ có nhân sự dồi dào, lại được hưởng thanh bình ít ra là từ năm 1949 và được sự hỗ trợ của một lực lượng người Tàu ở Hải ngoại đã từ lâu bám rễ ở các nước có truyền thống nghiên cứu khoa học, trong đó có Hoa Kỳ. Những thành quả của các công trình nghiên cứu của họ chắc chắn phải được các học giả Việt nam lưu tâm theo dõi. Tuy nhiên, nếu chúng ta thiếu tự tin để đến chỗ bị choáng ngộp vì tư thế một nước lớn là nước Tàu thì đó là một điều cần được xét lại, kể cả những gì liên hệ đến chữ Hán, văn tự của chính người Tàu.



Trong phần nói tới phạm vi tập hợp, biên soạn và chú giải, hiệu đính, tác giả viết: “Về sách chữ Hán của Việt Nam như An Nam Chí Lược, Lĩnh Nam Chích Quái, Gia Định Thông Chí, Mạc Thị Gia Phả, học giả Trung Quốc đã chú giải rất kỹ, in lại rất chuẩn, đính chính các lỗi in và cả kiến thức sai. Họ phát hiện và nói với chúng tôi sách Việt Nam in sai và dịch sai khá nhiều, nhất là sách của Saigon cũ.” Ngưởi đọc hy vọng đây chỉ là một sự tường trình sơ khởi và tác giả chưa đọc kỹ những tài liệu này. Lý do là vì đây là một vấn đề vô cùng phức tạp dẫn xuất từ sự khác biệt trong sinh hoạt văn hoá, từ đó văn tự, của ngưòi Việt và người Tàu, không chỉ riêng từ khi Việt Nam tách rời khỏi Trung Quốc, trở thành một nước độc lập mà có thể ngay từ thời nước ta còn lệ thuộc vào Trung Quốc. Trong thời gian còn lệ thuộc đó, vì núi sông cách trở, đường xá xa xôi, tiếng nói bất đồng, sự tiếp xúc giữa người bản xứ và người Tàu hời hợt, những gì được ghi trong sách của người Việt không thể luôn luôn có cùng nghĩa với những gì được ghi trong sách của người Trung Quốc. Cũng vậy, trong cách sử dụng chữ Hán của người Việt, trong cách ngắt câu chẳng hạn. Điều này rất dễ chứng minh nếu người ta để ý tới sự khác biệt trong cách sử dụng chính tiếng của người Tàu giữa người Tàu ở Đài Loan và người Tàu ở Hoa Lục. Cùng dùng tiếng phổ thổng (phổ thông thoại ở Cộng Hoà Nhân Dân Trung Quốc và quốc ngữ ở Đài Loan) mà từ vựng ở hai nơi đã khác biệt nhiều do những liên hệ xã hội không giống nhau gây ra, đồng thời về văn phạm người ta cũng ghi nhận hàng trăm điểm bất đồng. Tình trạng cũng giống như ở Việt Nam giữa hai miền Bắc và Nam thời trưuớc năm 1975 và giữa người Việt ở Hải Ngoại và người Việt ở trong nước hiện tại. Cũng vậy, với lối văn cổ và bạch thoại, với tiếng Bắc Kinh và tiếng phổ thông dùng bởi người Bắc Kinh và bởi người nói các thổ ngữ khác ỏ Trung Hoa.



Một vấn đề khác cũng cần phải được đặt ra là ai là những người chuyên môn về tiếng Việt trong đội ngũ nghiên cứu về Việt Nam của người Tàu? Họ đã được đào tạo ở đâu và đào tạo như thế nào? Đây cũng là vấn đề then chốt vì ở một đoạn trên đó tác giả bài tường trình có viết về lợi thế của Trung Quốc là “cũng biết sử dụng nguồn trí thức Hoa Kiều ở các quốc gia, trong đó có Việt Nam.” Điều này chúng ta cũng cần phải xét lại. Có hai lý do: thứ nhất là người Tàu ở Việt Nam ít chú trọng tới văn hóa, giáo dục của người bản xứ. Họ lưu tâm tới kinh tế, thương mại nhiều hơn. Những người Tàu được sử dụng vào việc nghiên cứu, dịch thuật, chú giải kể trên thuộc thành phần nào? Họ có được huấn luyện kỹ càng về ngôn ngữ, văn hoá và lịch sử Việt Nam hay không? ở cấp bậc nào? và ở đâu? Chưa hết. Ngay trong phạm vi chữ Hán, chữ của chính người Tàu, người Tàu cũng khó có thể nói là thông thạo. Họ có thể hiểu được, đọc được nhưng đó là thứ bạch thoại được dạy ở các trường ngày nay, dùng trong đời sống hàng ngày, trong hành chánh nhát là trong thương mại…Đối với các sách cổ trong đó cách hành văn, cách sử dụng ngôn từ hoàn toàn khác. Những người Tàu trước kia ở Việt Nam nói được tiếng Việt, nói được tiếng Trung Hoa phổ thông có chắc hiểu thấu đáo, từ đó ngắt câu chính xác và hiệu đính được các bản văn cổ hay không? Đó lại là một chuyện khác. Trong các tác phẩm dịch từ chữ Hán của người Việt “ở Saigon cũ”, tác giả có nói tới An Nam Chí Lược. Bản dịch của bộ sử này là do Ủy Ban Phiên Dịch Sử Liệu Việt Nam của Viện Đại Học Huế thực hiện với sự góp phần của Giáo Sư Trần Kinh Hòa của Đại Học Hồng Kông. Hy vọng “những lỗi in và cả kiến thức sai và dịch sai” không được thấy trong tài liệu này. Cũng vậy với các bản dịch các sách cổ khác của người Việt mà dịch giả là các cử nhân, tiến sĩ Hán học thời xưa như Cụ Nghè Nguyễn Sĩ Giác, các Cụ Cử Thẩm Quỳnh, Bùi Tấn Niên, Ngô Mạnh Nghinh, Nguyễn Văn Bình hay những chuyên viên có uy tín như Bửu Cầm, Tạ Quang Phát… Điều nên biết là các “sách của Saigon cũ”, người viết muốn nói tới các bản dịch, đều được thực hiện và ấn hành một cách nghiêm túc và với tinh thần trách nhiệm của người dịch. Người ta đã không chỉ in phần dịch nghĩa không thôi mà luôn cả nguyên bản chữ Hán và phiên âm tiếng Việt để độc giả có thể đối chiếu mỗi khi có điều nghi ngờ hay góp phần điều chỉnh.



Bài tường trình của Nguyễn Văn Hồng trên Tạp Chí Hán Nôm dù muốn hay không mới chỉ là một bài tường trình, tác giả viết để trình bày lại với độc giả những gì ông được nhìn thấy và nghe thấy những chưa được phối kiểm. Nhưng dù muốn, dù không nó vẫn có thể làm thay đổi cái nhìn của mọi người, trong đó có chính người Việt vế quá khứ của Việt Nam và của dân tộc Việt Nam. Từ sau khi bị mất nước về tay người Pháp, chúng ta đã hoảng hốt bỏ rơi cái học đã tồn tại từ cả ngàn năm của dân tộc và Hán tự, từ đó đã đã tự cắt đứt chúng ta với quá khứ của chính chúng ta và với các dân tộc láng giềng cùng chịu ảnh hưởng của Trung Quốc và cùng dùng Hán tự là chữ viết trong quá khứ như chúng ta. Trong những chục năm trước đây, ở miền Bắc cũng như ở miền Nam, những gì liên hệ tới văn hóa cổ, tới văn tự cổ là do một số người thuộc thế hệ trước còn sót lại bảo tồn, diễn dịch và truyền lại. Trong hoàn cảnh mới, với những thế hệ mới, công việc này ai sẽ làm? Và ai làm nổi? là những câu hỏi cần được đặt ra và đặt ra cho cả người Việt ở Hải Ngoại lẫn ngưòi Việt ỏ trong nước./.

Tập san Định Hướng. Bản của tác giả

Phạm Cao Dương
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Ngay từ đầu thế kỷ hai mươi, người Pháp đã nỗ lực để tìm biết nguồn gốc của địa danh Sài Gòn, tên của một thành phố mà qua phong cách lãng mạn tây phương họ biến nó thành “Hòn Ngọc Viễn Đông” (La perle de l’Extrêm Orient).../08 Tháng Sáu 2012(Xem: 4337) Bình Nguyên Lộc - Vantuyen/
Trong cuốn văn phạm của mình, Arte da lingoa de Iapam (Ngữ pháp tiếng Nhật), ấn hành tại Trường Kỳ (Nagasaki) năm 1604, linh mục Bồ Đào Nha dòng Tên João Rodrigues khẳng định: “Muốn viết ngôn ngữ này bằng mẫu tự của chúng ta, chúng ta chủ yếu phải sử dụng cách viết La Tinh và Bồ Đào Nha,/ 28 Tháng Năm 2012 (Xem: 2556) Roland Jacques, Canada - GS Đoàn Xuân Kiên chuyển ngữ
Ngoài tên họ, tên đệm, tên riêng, người Công Giáo Việt Nam còn có thêm một tên thánh được đặt khi chịu phép rửa tội. Trong khi đó, người Công Giáo Âu Mỹ không có hẳn một tên thánh. Bài viết này nhằm mục đích tìm hiểu sự khác biệt giữa tên thánh của người Công Giáo Tây Phương và Đông Phương ?/07 Tháng Sáu 2012(Xem: 4032)/
Câu nói của đại văn hào Thánh Augustinô là âm vang phổ quát nhất đi lọt vào tất cả các nền văn hóa cổ kim, đông cũng như tây, trong tất cả các chiều kích của cuộc sống con người. Thật thế tôn giáo là gì nếu không phải vì yêu thương mà con người được tạo dựng.../07 Tháng Sáu 2012(Xem: 4093) Nguyễn Đăng Trúc - VanchuongViet/
Bảo Nghĩa Vương Trần Bình Trọng sinh năm 1259. Năm 1285 khi quân Nguyên Mông sang xâm lược nước ta, mới 26 tuổi, “Trần Bình Trọng được Hưng Đạo Vương và Lưỡng cung giao cho một nhiệm vụ nặng nề: giữ vùng Đà Mạc – Thiên Mạc, ngăn chặn và cầm chân quân Nguyên, đảm bảo cho bộ chỉ huy quân kháng chiến rút lui an toàn và bí mật, không để lại dấu vết” (Wikipedia). Đại Việt Sử Kí Toàn Thư (ĐVSKTT [1]) chép rằng, “Khi bị bắt, Vương không chịu ăn, giặc hỏi việc nước, Vương không trả lời, giặc hỏi Vương: “Có muốn làm vương đất bắc không?”. Vương thét to: “Ta thà làm ma nước Nam chứ không thèm làm vương đất bắc”, rồi bị giết”. Sự kiện bi hùng này người Việt có lẽ ai ai cũng biết. Nhưng ít ai nhấn mạnh rằng, ông thực hiện công trạng vĩ đại đời đời lưu truyền này khi ông mới 26 tuổi! Quả thực, ngày nay, cứ thử gõ Trần Bình Trọng vào Google mà xem, sẽ hiện ra hình một ông lão tầm 50 tuổi gầy gò hom hem.
Thoạt đầu, việc ký âm tiếng Việt của mấy nhà truyền giáo Dòng Tên là để cho chính các ngài học tiếng Việt, và cũng giúp những thừa sai đến sau dễ dàng hơn trong việc học tiếng ấy, một thứ tiếng chẳng có chút dây mơ rễ má gì với tiếng Hy Lạp, Latinh, Ý, Bồ Đào Nha, Pháp, Đức… Thực ra đây là một cách bắt chước các nhà truyền giáo Dòng Tên Tây phương ở Nhật Bản. Vì đầu thế kỷ 17, họ cũng đã đưa ra một lối chữ viết mới với mẫu tự abc qua hai cuốn ngữ vựng và ngữ pháp Nhật. Tiếp đến, các ngài muốn sáng tạo một thứ chữ mới, có lẽ lúc đầu chỉ coi nó là phương tiện trong cuộc giới thiệu Tin Mừng với con người Việt, mà chính cha Đắc Lộ đã nhắc tới trong phần đầu cuốn từ điển của cha: “giúp các nhà truyền giáo học tiếng Việt” và “làm theo ý muốn của một số vị Hồng y ở La Mã là thêm chữ Latinh vào để người Việt có thể học thêm La ngữ.”
Người viết báo phải quan niệm mình làm nghề không phải là để chơi hay để kiếm tiền, nhưng phải quan niệm mình là những người thừa kế của cách mạng tư sản, mở đầu là cách mạng tư sản Pháp, say sưa với tự do, trung thành với lý tưởng, chống áp bức, chuộng tiến bộ mà quyền lợi tinh thần của con người đã ủy thác nơi báo chí.. (Lời Nguyễn Văn Vĩnh, theo Vũ Bằng kể lại trong hồi ký “40 năm nói láo.”) /post 31 Tháng Năm 2012(Xem: 2776)/
Sau khi tranh luận lâu như vậy, văn kiện được chép lại và đặt lên bàn của Chủ tịch, mỗi đại biểu Quốc hội bước lên phía trước ký tên, không khí nặng nề đến nghẹt thở. Vào thời điểm đó, những chữ ký này có nghĩa là - tất cả mọi người trong danh sách đều có chung nguy cơ bị Vua nước Anh treo cổ. Bản Tuyên ngôn Độc lập, là một văn kiện lập quốc quan trọng nhất của Hoa Kỳ, được trình bày trước Quốc hội Lục địa Hoa kỳ bởi Ủy ban Năm Nghị sĩ. Khi ấy, Quốc hội Lục địa đã chỉ định một ủy ban để soạn thảo ra Bản Tuyên ngôn Độc Lập, sử gọi là Ủy ban Năm Nghị sĩ. Ủy ban này gồm: Thomas Jefferson, John Adams, Benjamin Franklin, Roger Sherman và Robert Livingston, hoạt động từ ngày 11 tháng 6 năm 1776 cho đến ngày 5 Tháng 7 năm 1776, ngày mà Tuyên ngôn Độc lập được xuất bản.
Ngọc Mai | DKN....Lương Thế Vinh sinh ngày 1 tháng 8 năm Tân Dậu (tức ngày 17/8/1441) tại làng Cao Hương, huyện Thiên Bản, Trấn Sơn Nam (nay thuộc Vụ Bản, Nam Định). Ông vẫn được người đời gọi là “Trạng Lường”, lý do là vì từ nhỏ ông đã rất giỏi đo lường, tính toán. Chưa đầy 20 tuổi, tài học của ông đã nổi tiếng khắp vùng Sơn Nam. Năm 1463, Lương Thế Vinh đỗ trạng nguyên khoa Quý Mùi niên hiệu Quang Thuận thứ 4, đời Lê Thánh Tông.
Hoàn toàn vô ích khi hy vọng rằng cách mạng có thể cải tạo bản chất con người, tuy nhiên đó là điều mà cuộc cách mạng của quý vị, và đặc biệt cuộc cách mạng Nga của chúng tôi đã hy vọng rất nhiều. Cách mạng Pháp khai màn dưới lá cờ của khẩu hiệu mà tự mâu thuẫn và bất khả thi, “tự do, bình đẳng, bác ái”. Nhưng trong cuộc sống xã hội, tự do và bình đẳng là những khái niệm không dung hòa nhau, thậm chí còn chống đối nhau. Tự do tiêu diệt bình đẳng xã hội vì đó là bản chất của tự do. Còn bình đẳng cản trở tự do-vì nếu không như thế không thể nào có bình đẳng
Bảo Trợ