Bão miền Trung trong thơ

26 Tháng Mười 20132:00 CH(Xem: 1601)

000_TS-Hkg9048650-305.jpg
Cơn bão số 10 gây thiệt hại nặng các tỉnh miền Trung cuối tháng 9 vừa qua, ảnh chụp tại Hà Tĩnh hôm 30/9/2013.
AFP

 

Việt Nam có thể tự hào là được thiên nhiên ưu đãi trên nhiều phương diện, lúa gạo miền nam cò bay thẳng cánh, tài nguyên mỏ miền Bắc phong phú, dồi dào. Bờ biển chạy dài cả nước, đặc biệt là miền Trung với nguồn lợi thủy sản to lớn đã nuôi sống hằng triệu người. Bên cạnh đó, cảnh quan của Biển đã giúp nhiều địa phương thay mặt đổi tên vươn ra với thế giới du lịch biển một cách tự tin qua nhiều thập kỷ.

Thế nhưng thiên nhiên cũng lấy lại khá nhiều những gì nó đã ban tặng.

Duyên hải miền Trung với bờ biển có thể xem là tuyệt vời ấy mỗi năm vài lần, thần bão từ Biển Đông tràn vào tàn phá hủy hoại khuôn mặt của nhiều thành phố. Con người tan tác chạy trốn. Tài sản trôi theo dòng nước đục ngầu ra biển. Người miền Trung hơn ai hết thấm sâu cái rét của những ngày bão tới. Lũ trên rừng tràn xuống, bão ngoài biển thổi vào… con người nghiêng ngã như cây tre mỏng manh trước bão chỉ có thể giải thích bằng hai từ “kỳ diệu”. Mỗi lần bão lũ là một lần kỳ diệu. Sự kỳ diệu ấy là đặc ân mà thượng đế hào phóng ban cho sau khi cũng hào phóng gửi bão lũ tới nhiều vùng nghèo nàn nhất miền Trung xơ xác.

Những vùng đất còi cọc ấy xơ xác thêm sau những cơn bão đã gượng dậy và tiếp tục sống một cách chai lỳ. Con người gửi thông điệp tới thượng đế rằng họ không đầu hàng, không bỏ chạy trước sức mạnh kinh hoàng của thiên nhiên, mặc dù sự sợ hãi chưa bao giờ biến mất trong từng con người tại những vùng đất đầy tai ương bão tố.

Có lẽ sợ hãi, khổ đau, đói khát và rét mướt được hiểu nhiều hơn qua những bài thơ viết về bão lũ. Những bài thơ nói về nỗi đau mất mát có khả năng chia sẻ phần nào những tan vỡ từ nước, từ lũ mỗi năm vài lần nhấn chìm những đời sống bất hạnh vào sự sợ hãi lâu dần đã trở thành chai sạn.

Những chiếc thuyền nan mỏng manh gắng gượng giữa một màn mưa trắng trời, những căn nhà trôi bất định mang theo trên nóc người mẹ già và con chó nhỏ. Những thùng mì gói hiếm hoi làm cho mắt người nhận sáng lên như được cứu sống và những đôi tay bé tí chòi ra dưới mái lá tơi tả là niềm rung động của những bài thơ viết về lũ, đặc biệt lũ miền Trung nơi không ai còn lạ với nó nhưng không bao giờ có thể sống chung cùng nó mà không chịu đớn đau đôi khi đến tàn khốc.

 

000_Hkg9097232-250.jpg
Nhà sập tại thành phố Đà Nẵng sau cơn bão số 11. Ảnh chụp sáng 15/10/2013. AFP photo

 

Người miền Trung nhận chịu bất hạnh cho cả nước, và cả nước nhìn về miền Trung như khúc ruột của mình đang bị dày vò.

Những bài thơ thay cho tiếng khóc được gửi về đồng bào đói lạnh có thể không hay khi soi rọi dưới lăng kính văn chương nhưng khó thề nói rằng cung bậc rung động của nó không làm cho người đọc chấm dứt sự dửng dưng với những gì chất chứa trong ấy.

Bài thơ “Miền Trung” dưới cách viết của Đuyên Hồng có lẽ gần như trọn vẹn qua cái nhìn xuyên bão. Bài thơ như lời kinh vang vang những điệp khúc tan nát mà người miền Trung phải nhận:

 

Miền Trung

Miền Trung
Oằn lưng mình gánh bao trận bão. 

Miền Trung 
Đau thắt lưng một dải đất chập chùng lũ lụt 
Nắng mùa hè cháy bỏng triền gió cát 
Nơi mùa mưa nát đất sầy đường 
Nơi hạt cơm cũng đượm cả gió sương 
Những cô bé tóc vàng hoe sạm nắng 
Những cậu con trai gẫy nhẵng nước da nâu 

Khổ đau thấm sâu vào đất ấy từ lâu 
Miền Trung gánh hai đầu châu thổ 
Bắc Nam đôi vựa thóc quê nhà 
Miền Trung uốn mình nên dáng Đất Mẹ thướt tha 
Miền Trung 
Mịt mù gió lào 
Bập bùng nắng lửa 

Miền Trung 
Lũ trôi sông lở 
Vàng võ da người 
Trắng hạt muối biển khơi 
Miền Trung 
Sướng ít khổ nhiều 
Miền Trung 
Tan hoang trong mưa bão 

Nước mắt người miền Trung 
Cay như quả ớt chỉ thiên 
Dành dụm từng đồng tiền 
Mẹ hiền 
Lưng còng vai sả 
Quanh năm ra vào gốc rạ vườn cau 
Những người cha 
Tuổi tứ tuần bạc tóc từ lâu 
Hằn trên khuôn mặt nhàu 
Những nếp nhăn nhiều hơn sóng biển 

Miền Trung 
Cơn lụt vừa qua 
Bão xa lại đến 
Làng chài trắng khăn 
Những người vợ ngày đêm mong thuyền chồng cập bến 
Biển dịu êm như nồi cơm 
Bỗng nổi cơn cuồng nộ 
Xác người xấu số 
Không mồ chôn thân… 

Hình ảnh lũ lụt gây ám ảnh mạnh đến nỗi ngồi tại Sài Gòn hay một thành phố nào khác chứng kiến những ăn chơi phù phiếm, những phung phí gần như tội ác, nhà thơ Nguyên Thạch cảm nhận gần như trọn vẹn khung cảnh trái ngược nhau đến não lòng ấy và viết lên bài Tôi đã thấy, một chứng nhân, một tấm kính chiếu yêu soi rọi sự vô cảm của một hạng người:

Tôi Đã Thấy

Tôi đã thấy những bàn tay gầy yếu 
của em thơ và của những cụ già 
ngón run run vạch mái lá thò ra 
xin trợ giúp những phần quà mì gói.

Tôi chứng kiến... những bà mẹ mang bầu, bụng đói 
lặp cặp lạnh run trong tiếng nói vô thần 
Tôi đã làm những gì có thể làm để chia sẻ với người dân 
tình hải ngoại... mối ân cần, xa vạn dặm. 

Lũ tràn về miền Trung
gây tang thương lắm 
lũ hoành hành 
lũ ngập cả trời quê. 
Lũ chặn tương lai
lũ chắn cả lối về...
Lũ vô cảm mãi mê trong tham vọng. 

Tôi đã thấy cũng như tôi đã sống 
kiếp nhọc nhằn vô vọng của dân đen
lối tương lai như ngõ tối không đèn 
đường nô bộc, dần quen đời trâu ngựa!.

Tôi cũng thấy, nơi thị thành, quán bar, nhà chứa 
những thằng tham quan 
những đứa lộng hành 
bày vẽ cuộc chơi... gái trẻ lầu xanh 
còn trẻ lắm, học hành chưa hết lớp.

Khách sạn bốn năm sao, rượu bia choáng ngợp 
chúng thi nhau vung vãi đổ trên đầu 
đèn phố rực chưng 
mờ dấu những vùng sâu
miền Trung đó đục ngầu con nước cuộn. 

Biến cố tai ương chỉ dân nghèo đùm bọc 
chắt chiu san sẻ từng nắm thóc cọng rau 
trong khi những thằng quan thì xe xanh, xe đỏ, gái đẹp... kín rào 
lộng lẫy biệt thư 
mặc niềm đau đồng loại. 

Tôi đã thấy cùng muôn ngàn điều muốn nói 
đời lang thang, dân đói cả ba miền
uống máu của dân, quan các cấp sống như tiên
vàng thành khối gởi tiền ra ngoại quốc. 

Dòng đời trôi, dân nghèo lê chân đất 
bọn nhà quan thì no giấc chăn lành 
lũ tràn về cuốn thóc lúa lẫn chòi tranh 
Việt Nam hỡi
Trời hành thêm oan nghiệt. 

Cũng trong cái thấy những gì đang xảy ra gữa trùng trùng sóng nước ấy, Mặc Giang đưa ra những hình ảnh gần gũi hơn với sự lạnh lẽo, co ro, đói thảm thê của nạn nhân bão lũ:

Miền Trung, tôi thấy rồi em!

mot-cay-go-sua-do-nhao-250.jpg
Một cây Sưa bị đổ do bão tại Đà Nẵng, ảnh chụp tháng 10 năm 2013. RFA PHOTO.

 

Tôi thấy rồi em
Nước tràn bờ lênh láng
Tôi nghe rồi em
Cả biển nước mênh mông
Nước nuốt mất ruộng đồng
Nước cuốn trôi phố thị
Kia, người mẹ, tay bồng tay bế
Nọ, cụ già, túi rách đeo vai
Đó, con thơ, nước mắt lăn dài
Đây, vợ hiền, khóc chồng tang trắng
Đeo một mớ bùi nhùi, di tản lên nơi cao, ngậm đắng nuốt cay
Mang một mớ tạp nham, bỏ của cải thoát thân, 
Khốn cùng, đã trắng hai tay
Lại càng tay trắng, đọa đày trầm kha
Vách phên, tạm gọi là nhà
Cuốn trôi sạch bách, cửa nhà còn chi
Gia tài, cơm gạo hẩm thiu
Quăng vào biển nước, tiêu điều xác xơ
Chút cứu trợ, dăm ba gói mì, với vài “lon”, húp cháo
Chút lòng vàng, tiếng an tiếng ủi, riêng thân phận đói nghèo
Từ nay, mang cả mốc meo
Tay gồng tay gánh leo trèo sơn khê

Là dân đất Quảng, Nguyên Thạch thấm nỗi nhớ miền Trung hơn ai hết vì nơi ấy có mẹ, có em, và nhất là có cha làm nghề ra biển. Bài thơ Mùa Bão biển của anh cảm động như một bản nhạc buồn, đầy tiếng thở dài cùng nước mắt. Sóng vỗ tới đâu nước mắt rơi tới đó.

Mùa Bão Biển

Con không về thăm quê mẹ chiều nay
Mùa bão nổi thuyền xa chưa cập bến
Đất Quảng đầy trời giông tố nổi lên
Cơn sóng dữ nghiền nát bờ cát mẹ

Con lo quá hàng phi lao chắn cát
Có còn không khi con lại trở về
Xin bão tố đừng giẫm dày xé nát
Chút bình yên lẩn khuất giữa hồn quê

Con không về thăm quê mẹ chiều nay
Mùa bão nổi cha chưa về hả mẹ
Đi biển bao ngày cha ơi đừng đi mãi
Để mồ côi cả nỗi nhớ trong con
Con thương quá thuyền cha mong manh lắm
Làm sao qua cơn bão cấp mười hai
Nghe đài báo miền trung cơn bão biển
Nghe tim mình như rụng xót triền miên
Con không về thăm quê mẹ chiều nay
Xin thức trắng nguyện cầu trong đêm bão

Nguyễn Đặng Mừng sâu hơn, thấm nỗi đau lịch sử với công nương Ngọc Vạn, bỏ một thời xuân sắc vì tương lai, hưng thịnh của nước nhà. Trong bài thơ Mắt Huyền Trân Nguyễn Đặng Mừng đã dẫn người đọc về một không gian xa xưa để thấy rằng dù có đau, có sợ bão lũ trăm bề thì người xứ Quảng cũng không thể bỏ quê vì những tự tình ngàn năm còn đó qua lăng tẩm, mả mồ.

Mắt Huyền Trân

Ra quê gặp lúc trời mưa bão
Cụng trán người xưa tiếng sấm rền
Nửa đêm giật mình tưởng bom nổ
Quê hiền ếch nhái kêu buồn tênh

Xưa bom đạn xé chừ giông bão
Ngập ngụa đời nhau lổ mội tràn
Mạ kêu trời ơi cơn mưa át
Cha ngâm mình níu một tàn nhang

Gân guốc mặt cha dây thừng cột
Nước mắt mạ khô chỗ em nằm
Dùng dằng ở đi mần răng được
Lăng mộ cha ông từ trăm năm

Chỗ eo ai cột quê mình lại
Ngọc Vạn – Phương Nam – bão xứ Tần
Đất bạc sự đời trôi ra biển
Hoàng Sa gió tạt mắt Huyền Trân.

Nhà thơ Nguyễn Phan Quế Mai tuy xa quê từ lâu nhưng nỗi nhớ thương đối với miền Trung trong mùa bão lũ hình như không lúc nào phai nhạt. Bài thơ như một khúc phim chiếu trước từng mắt nhìn những chi tiết mà một vụ lũ lụt vẫn thường xảy ra trong tâm trí nhà thơ từ khi thơ dại. Không phải là những đêm xum họp gia đình, những buổi sáng thức dậy thấy bình minh ruộm nắng. Khung cảnh thanh bình yên ả ấy đang bị cuộc chiến chống bão lũ cướp đi. Quế Mai nhẹ nhàng viết nhưng phía sau những hình ảnh chuẩn bị nao lòng ấy là đen tối căm căm của thời khắc tàn phá sắp tới.

Mùa Bão lũ

Mùa bão lũ
Cha chống lại căn nhà
gió tốc liêu xiêu
Mẹ xốc lại đôi quang gánh
quằn nặng nỗi lo
Con thu mình co ro
giấc mơ sũng ướt

Mùa bão lũ
Nhòa ranh giới giữa trời và nước
Bà run run ôm kỷ vật
nước chạy theo chân
Ông đau đáu đăm đăm
con trai mình vẫn ở trên tàu đánh cá

Mùa bão lũ
Em đi học đôi chân trượt ngã
sách vở nhòe nước mắt nước mưa
Cô gầy hơn trong tiếng giảng bài trưa

Mùa bão lũ
Thuyền xoay như lá
Mạng người là cỏ
Nhà cửa là rơm
Miếng cơm
trộn với bùn và nước

Bài thơ buồn và sũng nước của Nguyễn Phan Quế Mai được nhạc sĩ Quỳnh Hợp nhanh chóng phổ thơ với cung bậc và tiết tấu của bão bùng, lặng ngắt. Bài hát dù vang lên trong căn phòng ấm áp của người thành phố vẫn có khả năng dẫn suy tư của người nghe về một nơi chốn khác. Nơi mà con người miền Trung đang lặn hụp giữa nỗi đau tang chế cứ lập đi lập lại hàng năm như một bản án truyền kiếp không bao giờ trả hết.
 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Nhà Trắng là nơi làm việc chính thức của của Tổng thống – người quyền lực nhất nước Mỹ, đồng thời đây cũng là nơi ở của ông và gia đình. Tòa nhà này đã có lịch hàng thế kỷ và trở thành biểu tượng quyền lực của người đứng đầu nước Mỹ. Và tất nhiên bản thân nó cũng ẩn chứa rất nhiều bí mật thú vị mà không phải ai cũng biết. Top 14 điều không phải ai cũng biết về Nhà Trắng
bài hát “ĐỪNG EM” Link Video: https://www.youtube.com/watch?v=55glr5LDysA Ca sĩ: Đoàn Sơn Thơ: Nguyên Khang Nhạc: Mai Phạm Keyboard: Duy Tiến Video: APHUONGFILM – Melbourne, AUSTRALIA Link Youtube : https://youtu.be/55glr5LDysA Link lời bài hát file PDF: https://drive.google.com/file/d/1eb2g_SGvLK3pOXtcYdsge-MfShAd6EGU/view Trân trọng và cám ơn, Mai Pham
Âm nhạc chữa bệnh “Hãy tập trung vào âm thanh của nhạc cụ,” Andrew Rossetti, một nhà nghiên cứu và trị liệu âm nhạc được cấp phép cho biết khi anh gảy các hợp âm trên một cây đàn guitar Tây Ban Nha cổ điển . “Nhắm mắt lại. Hãy nghĩ về một nơi mà bạn cảm thấy an toàn và thoải mái,” Rossetti nó
Trận Xương Giang là trận chiến cuối cùng đặt dấu chấm hết cho toàn bộ cánh quân của Liễu Thăng. Đây là một trong những trận chiến thảm khốc nhưng oanh liệt nhất của toàn bộ cuộc chiến. Chỉ trong vòng 27 ngày đêm (từ ngày 8/10/1427 đến ngày 3/11/1427) mà có sự tham chiến của gần 20 vạn quân từ đôi bên trên một chiến tuyến khoảng 100 km. Trong trận chiến này, chủ lực của quân Minh sang tiếp viện bị thiệt hại gần như toàn bộ và không thể tham chiến nữa.
Khoa học tồn tại vốn là để giúp con người ngày càng tiến bộ hơn, và cũng là để giải đáp những bí ẩn tồn tại trong cuộc sống. Tuy nhiên, đã có rất nhiều lần các chuyên gia bị lạc lối vì chính những thứ họ tìm ra. Những bí ẩn của thế giới đến nay vẫn chưa có lời giải
Các đường phố ở London ngày đêm đốt lửa lớn, đốt trầm hương và ớt với nỗ lực làm sạch không khí. Một số người đem xác người chết bỏ vào hố lửa rồi đốt, khói dày đặc và mùi chết chóc bao trùm khắp thành phố.
1. Trận Gettysburg, Nội chiến Mỹ (năm 1863) 5 trận chiến đơn lẻ đẫm máu nhất lịch sử nhân loại: Xác người chất đống - Ảnh 1. Tham chiến: Liên bang miền Bắc - Liên minh miền Nam Tổn thất: Liên bang miền Bắc: 23.000 - Liên minh miền Nam: 23.000 Kết quả: Liên bang miền Bắc thắng. Theo Military History, đây là trận chiến đánh dấu bước ngoặt của Liên bang miền Bắc, đồng thời cũng ghi nhận số lượng tổn thất lớn nhất trong cuộc Nội chiến Mỹ. Sau hàng loạt lợi thế ban đầu, đại tướng Lee dẫn quân miền Nam tiến đánh vùng kiểm soát của Liên bang miền Bắc. Giao tranh diễn ra kịch liệt trong suốt ba ngày trước khi quân đội miền Bắc giành được thắng lợi, đẩy lùi đối phương. Trận đánh được ghi nhận là trận chiến quan trọng nhất của cuộc Nội chiến Mỹ, ghi dấu địa danh Gettysburg và trở thành biểu tượng cho nghị lực và chiến thắng của Liên bang miền Bắc.
1- Tên quốc gia bắt đầu bằng chữ A chấm dứt bằng chữ A. Một quốc gia độc nhất vô nhị của hành tinh này từ ngày sinh ra đã ĐỨNG ĐẦU, hiện ĐỨNG ĐẦU và có thể sẽ mãi ĐỨNG ĐẦU trong danh sách tên các nước trên thế giới. 2- Một quốc gia có số điện thoại bắt đầu bằng SỐ MỘT. 3- Một quốc gia chưa bao giờ bị XÂM LĂNG 4- Một quốc gia tốn tiền nhiều nhất để BẢO VỆ các quốc gia khác. 5- Một quốc gia mà người cùng đường có thể TÁ TÚC và cư trú dù BẠN hay THÙ. 6- Một quốc gia khi lâm nạn không ai cứu trợ vì nó GIÀU NHẤT và là kẻ trước nhất cứu trợ khi các quốc gia khác lâm nạn. 7- Một quốc gia không ai nói CẢM ƠN dù bao giờ cũng nhận ơn từ nó. 8- Một quốc gia luôn bị miệt thị là ĐẾ QUỐC, nhưng chính nó là quốc gia thúc đẩy XÓA BỎ THUỘC ĐỊA sau Thế Chiến Thứ 2.
“Karaoke” là tiếng Việt, có nghĩa là cứ “ca ra là OK”. Vậy là dân ta thoải mái ca ra, dù nhiều khi chẳng OK chút nào. Trong mùa dịch cô Vi này, người người ở nhà, thiếu thú vui giải trí, người ta đâm ra thích “ca ra OK”. Tại Việt Nam, karaoke đã trở thành đại nạn, không biết có trầm trọng hơn dịch bệnh không, nhưng đủ để dân chúng la làng. Người ta hát thoải mái bất kể giờ giấc, nửa đêm vẫn cứ đua nhau gào làm náo động khu phố. Tôi đọc được trên Facebook lời than của một bạn ở Sài Gòn: “Nó hát ngày, hát đêm, hát thêm Chủ Nhật, hát tràn cung mây, hát không cho ai ngủ. Nó chuyển sang “Vùng Lá Me Bay” mà giọng lúc thì ồm ồm, lúc thì rít sần sật lên như thế thì lá bay sao được, bay kiểu gì mà từ trưa tới tối vẫn chẳng hết lá!”.
Ngày nay dầu khuynh diệp bác sĩ Tín không còn nữa nhưng người dân miền Nam tuổi trung niên trở lên ai cũng nhớ đến cái mùi đặc trưng của loại dầu gió thông dụng này. Dầu trị nhiều chứng bệnh, cảm mạo, sổ mũi, đau nhức cơ bắp, ho, đau bụng, đau răng, trầy chảy máu, ngừa gió, ngừa ban cho trẻ em… Người thường dùng nhất là các bà già, phụ nữ sinh đẻ nên dầu khuynh diệp còn được gọi là “dầu bà đẻ”. Bác sĩ Tín người đã tạo ra dầu khuynh diệp Tôi chỉ mới biết “dầu bà đẻ” khi đem chuyện dầu gió ngày xưa ra trò chuyện với mấy ông bạn già. Những câu chuyện góp nhặt đây đó đánh thức ký ức của tôi thời còn bé. Nhớ lại, có lần ba tôi dẫn tôi đến Nhà bảo sanh Hoà Hưng thăm má tôi sanh thằng em út. Vừa bước vào cửa chính đã ngửi thấy nồng nực mùi dầu. Mùi khuynh diệp càng lúc càng nồng khi đi ngang qua các buồng sản phụ dọc theo hai bên.
Bảo Trợ