Chú giải và suy niệm Tin Mừng Chúa Nhật XXX TN – năm C

24 Tháng Mười 20132:00 CH(Xem: 2835)

Các bài chú giải và suy niệm Tin Mừng Chúa Nhật XXX TN – năm C 
 
Lời Chúa: Hc 35,15b-17.20-22a; 2 Tm 4,6-8.16-18; Lc 18,9-14
*************** 
blank

A. BẢN VĂN:

Bài đọc I (Hc 35, 12-14. 16-18):

Người không vị nể mà làm hại kẻ nghèo hèn, nhưng nghe lời kêu xin của người bị áp bức. Người không coi thường lời khấn nguyện của kẻ mồ côi, Vì Đức Chúa là Đấng xét xử, Người chẳng thiên vị ai hay tiếng than van của người goá bụa Kẻ phục vụ Đức Chúa theo ý Người sẽ được Người chấp nhận, lời họ kêu xin sẽ vọng tới các tầng mây. Lời nguyện của người nghèo vượt ngàn mây thẳm. Lời nguyện chưa tới đích, họ chưa an lòng. Họ sẽ không rời đi bao lâu Đấng Tối Cao chưa đoái nhìn, chưa xét xử cho người chính trực và thi hành công lý.

Bài Đọc II (2 Tm 4, 6-8. 16-18):

Con thân mến, phần cha, cha đã già yếu, giờ ra đi của cha đã gần rồi. Cha đã chiến đấu trong trận chiến chính nghĩa, đã chạy đến cùng đường và đã giữ vững đức tin. Từ đây triều thiên công chính đã dành cho cha. Và trong ngày đó, Chúa là Đấng phán xét chí công sẽ trao lại cho cha mũ triều thiên ấy; nhưng không phải cho cha mà thôi, mà còn cho những kẻ yêu mến trông đợi Người xuất hiện.

Lần đầu tiên cha đứng ra biện hộ cho cha, thì chẳng ai bênh đỡ cha, trái lại mọi người đều bỏ mặc cha: xin chớ chấp tội họ. Nhưng Chúa đã phù hộ cha và ban sức mạnh cho cha, để nhờ cha mà lời rao giảng được hoàn tất, và tất cả các Dân ngoại được nghe: vậy cha đã thoát khỏi miệng sư tử. Chúa đã giải thoát cha khỏi mọi sự dữ và cứu lấy cha để đưa vào nước Người trên trời. Nguyện chúc Người được vinh quang muôn đời! Amen.

Tin Mừng (Lc 18, 9-14):

Khi ấy, Chúa Giêsu nói dụ ngôn sau đây với những ai hay tự hào mình là người công chính và hay khinh bỉ kẻ khác: “Có hai người lên đền thờ cầu nguyện, một người biệt phái, một người thu thuế. Người biệt phái đứng thẳng, cầu nguyện rằng: ‘Lạy Chúa, tôi cảm tạ Chúa vì tôi không như các người khác: tham lam, bất công, ngoại tình, hay là như tên thu thuế kia; tôi ăn chay mỗi tuần hai lần và dâng một phần mười tất cả các hoa lợi của tôi’. Người thu thuế đứng xa xa, không dám ngước mắt lên trời, đấm ngực và nguyện rằng: ‘Lạy Chúa, xin thương xót con là kẻ có tội’. Ta bảo các ngươi: người này ra về được khỏi tội, còn người kia thì không. Vì tất cả những ai tự nâng mình lên, sẽ bị hạ xuống, và ai hạ mình xuống, sẽ được nâng lên”.

 

B. CÁC BÀI CHÚ GIẢI

Bài 1. Chú giải và gợi ý suy niệm của Lm FX Vũ Phan Long, ofm: THỎA MÃN VỀ BẢN THÂN VÀ TIN TƯỞNG VÀO THIÊN CHÚA

Thiên Chúa không những cấm làm những điều tồi tệ như ngoại tình, giết người và trộm cắp, nhưng còn truyền người ta yêu mến Ngài trên hết mọi sự và yêu thương nhau như chính mình.

1- Ngữ cảnh

Tại điểm này của bài tường thuật cuộc hành trình (điểm cuối, theo Luca), tác giả Lc thêm vào một dụ ngôn khác liên hệ đến đề tài cầu nguyện, đó là dụ ngôn Người Pharisêu và người thu thuế (18,9-14). Có lẽ bản văn này được đặt đi theo Dụ ngôn Quan tòa bất chính vì hai bản văn giống nhau về đề tài “cầu nguyện”, chứ không vì được nói ra trong cùng một hoàn cảnh. Đoạn này làm thành một kết luận rất khớp với bài tường thuật cuộc hành trình của riêng Luca (9,51–18,14. Xem “Ngữ cảnh” của Lc 9,51-62), vì kết thúc bằng đề tài quan trọng của Lclà cầu nguyện.

2- Bố cục

Bản văn có thể chia thành ba phần:

1) Mở (18,9);

2) Dụ ngôn (18,10-13);

3) Kết luận khuyến thiện (18,14).

3- Vài điểm chú giải

- một số người tự phụ là công chính mà khinh chê người khác (9): Dịch sát là “những người tin chắc về bản thân họ rằng họ là công chính và cư xử với phần còn lại (của loài người) với sự khinh bỉ”. Mặc dù tác giả không có ý nói đây là những người Pharisêu, những lời của Đức Giêsu ở 16,14-15 vẫn gợi ý như thế. Tuy nhiên, bản văn cũng nhắm đến một nhóm mở rộng hơn, theo như lời Ed 33,13, nghĩa là đúng cho cả các môn đệ của Đức Giêsu.

- lên Đền Thờ (10): Từ ngữ “Đền Thờ” nói đến hai điều. Trước tiên, vì Giêrusalem được xây dựng trên một quả núi với bốn đỉnh, vua Salômôn, nhằm xây dựng một nơi để thờ phượng Đức Chúa, đã san bằng một đỉnh để làm một cái nền làm lễ đài, trên đó, ông quy tụ dân Israel lại để làm công việc thờ phượng. Ta có thể tưởng tượng lễ đài này có hình thang, chung quanh có tường, các bức tường chạy từ bắc xuống nam dài khoảng 450m. Trên cái nền này, có một số công trình xây dưng, để góp phần vào việc thờ phượng Thiên Chúa. Cái nền này được gọi là Đền Thờ. Điều thứ hai, công trình xây dựng ở tại trung tâm trên nền này được làm giống như một cung điện. Cung điện này chạy từ tây sang đông, với một cửa ra vào ở phía trước, cửa này nằm ở cuối phía đông. Phía sau cung điện này tiếp giáp với bức tường phía tây của “Đền Thờ”. Cung điện này gốm có ba phòng hay vùng. Có hai cái sân quây chung quanh (ở về phía đông của tòa nhà), tại đây các phụ nữ và người nam Israel đứng để thờ phượng Thiên Chúa. Rồi có một phòng ở giữa gọi là Gian Thánh, tại đây có bàn dâng hương (x. ông Dacaria gặp thiên thần Gabriel) và một chân nến luôn luôn cháy sáng. Chỉ có các tư tế mới được vào phòng này, còn những người nam Israel thì có thể vào hai hành lang dọc hai bên phòng này. Cuối cùng, có một phòng phía cực tây, Gian Cực Thánh, đã được bao đời coi là Nơi Cư Ngụ của Thiên Chúa, hoặc của Danh Ngài hoặc Vinh Quang Ngài, trên trái đất. Không ai được vào gian phòng này, ngoại trừ thầy thượng tế, mà cũng chỉ mỗi năm một lần. Cung điện này, với ba phòng, cũng được gọi là Đền Thờ. Phía trước Đền Thờ, và trên nền Đền Thờ, có một bàn thờ để dâng những lễ hy sinh và một bể chứa nước, và một hồ nước to.

- cầu nguyện (10): Người ta có thể cầu nguyện tại Đền Thờ vào bất cứ lúc nào trong ngày, nhưng có hai khoảng thời gian được dành cho việc cầu nguyện chung: giờ thứ ba (tức khoảng 9g sáng; x. Cv 2,15) và giờ thứ chín (tức khoảng 3g chiều; x. Cv 3,1).

- Người Pharisêu (10): x. 5,17. Theo sử gia Gioxép (Ant. 18.1,2 § 11), nhóm Pharisêu là một trong ba “triết học” của người Do Thái thời ông; đôi khi ông cũng gọi họ là “phái” (haireseis; x. Ant. 13.5,9 § 171; Cv 15,5). Tên Hy Lạp Pharisaioi rất có thể đã được phiên âm từ tiếng A-ram Perishayê, “những người tách biệt”. Đây hẳn là một tên do những người khác dùng mà gọi nhóm này, có thể bởi vì nhóm này có một sự xa cách và tranh giao thiệp với những người Do Thái giữ Torah không nghiêm túc (x. Cv 26,5). Họ giải thích Luật Môsê rất chặt, nhấn mạnh không những trên việc tuân giữ luật Torah viết, mà cả trên Luật truyền khẩu, tức là truyền thống được gán cho Môsê và các vị tiền nhân (x. Mc 7,3). Họ coi việc hiểu biết Torah và những điều luật truyền và cấm như dấu chỉ và đảm bảo cho lòng đạo đức. Do đó họ tuân giữ chi li ngày sa-bát và các ngày lễ, những quy tắc về thanh tẩy, thuế thập phân, ăn chay. Họ tin vào sự sống lại của thân xác, tin có các thiên thần, có việc Đấng Mêsia đến.

- người thu thuế (10): x. 3,12. Tên gọi này dịch từ tiếng Hy Lạp telônês (do từ telos có nghĩa là “thuế”); La-tinh: publicanus. Nền hành chánh Rôma quy định nhiều loại thuế: thuế thổ trạch, thuế động sản, thuế gián thu, đặc biệt đánh trên việc nhập cảng muối. Những “người thu thuế” thường được giao cho nhiệm vụ thu khoản thuế cuối cùng này. Vì thế họ thường có mặt tại các trạm quan thuế (Caphácnaum: Mc 2,14; Giêrikhô: Lc 19,2). Vì do nghề nghiệp, họ phải tiếp xúc thường xuyên với mọi hạng người, kể cả người ngoại giáo, nên họ bị coi là những người ô uế. Quy định mức thuế là quyền của chính quyền, nhưng thường được áp dụng cách võ đoán, nên người thu thuế bị dân chúng khinh bỉ, và danh từ “người thu thuế” tương đương với “hạng tội lỗi” công khai (x. Mt 9,10-11; Mc 2,16; Lc 5,30; 7,34; 15,1; 19,2-7), hạng ngoại đạo (x. Mt 18,17; 21,31), và hạng trộm cướp (x. Lc 3,2t). Một người Do Thái đạo đức tuân giữ lề luật thì chẳng có gì phải giao dịch với người thu thuế.

- đứng thẳng (11): Chúng ta không biết ông này đứng ở đâu, nhưng dựa vào câu đối lập là c. 13, ta có thể suy ra là ông đứng trước Sân dành cho Israel bên trong khuôn viên Đền Thờ.

- Lạy Thiên Chúa, xin rủ lòng thương con là kẻ tội lỗi (13): Người thu thuế cầu nguyện trong tinh thần của Tv 51; anh nói ra lời xin được thương xót và tha thứ, chứ không phải tạ ơn. Trong tình trạng bế tắc, anh đọc những câu đầu tiên của Tv 51 và chỉ thêm vào “ là kẻ tội lỗi” theo nghĩa đối lập: “Lạy Thiên Chúa, xin lấy lòng nhân hậu xót thương con” (c. 3) “là kẻ tội lỗi”, tức là “dù con là kẻ tội lỗi”. Nhưng cũng trong Tv này, có câu: “Lạy Thiên Chúa, tế phẩm dâng Ngài là tâm thần tan nát, một tấm lòng tan nát giày vò, Ngài sẽ chẳng khinh chê” (c. 19). Đức Giêsu cho thấy Thiên Chúa giống như được Tv mô tả: Ngài chiếu cố đến người tội lỗi đang tuyệt vọng và Ngài không chiếu cố đến kẻ chỉ cậy dựa vào “sự công chính” của riêng mình.

4- Ý nghĩa của bản văn

* Mở (9)

Hoàn cảnh đưa Đức Giêsu đến chỗ kể dụ ngôn này chính là: Người thấy “một số người tự phụ là công chính mà khinh chê người khác”. Như thế, chúng ta đã linh cảm thấy bài này có mục đích giúp người ta hiểu thế nào là cầu nguyện đúng đắn, đâu là sự đạo đức chân thật. Đức Giêsu giúp hiểu nhiều điều liên quan đến cách xử sự sai lạc và cách xử sự đúng đắn đối với Thiên Chúa, đối với người lân cận và đối với chính mình.

* Dụ ngôn (10-14a)

Bài dụ ngôn phác ra một cảnh tưởng tượng, nhưng đối với các thính giả của Đức Giêsu, cảnh này cũng rất thực. Ông Pharisêu, một người sống thánh thiện, hẳn là ở trong vùng đông hoặc vùng tây, nơi mà những người nam Israel có thể đứng cầu nguyện. Rất có thể ông Pharisêu này không ở trong một hành lang nào vây quanh. Lời cầu nguyện của ông quay hướng về Thiên Chúa trên trời, Ngài ngự dưới dạng huyền bí trong Gian Cực Thánh. Rất có thể Đức Giêsu muốn ta hiểu rằng người thu thuế cũng ở tại nơi mà các người nam cầu nguyện với nhau, trong một tư thế mà ông Pharisêu có thể thấy và bình luận về anh ta trong khi cầu nguyện. Không chắc là người thu thuế đứng gần ông Pharisêu. Rất có thể khi cầu nguyện, ông Pharisêu quy chiếu về một dung mạo có lẽ xa nơi ông vẫn cầu nguyện.

Trong lời cám ơn Thiên Chúa, người Pharisêu nêu ra cả một danh mục gồm những nhân đức, như một lý do để tự hào. Phần đầu với những yếu tố tiêu cực: Ông không giống như những người khác (trộm cắp, bất chính, ngoại tình), nhất là “tên thu thuế kia”. Phần hai với những yếu tố tích cực: Ông ăn chay và đóng góp quá mức được yêu cầu. Ông nói sự thật. Nhưng ông không cám ơn Thiên Chúa bởi vì Ngài đã gìn giữ ông khỏi điều dữ và đã làm cho ông có khả năng làm điều thiện. Ông xác tín rằng ông nên công chính do sức lực riêng, nên ông tin là Thiên Chúa ủng hộ ông. Như thế, ông đã diễn tả cho thấy ông hết sức bằng lòng về mình và Thiên Chúa cũng phải bằng lòng về ông.

Khởi điểm của người thu thuế rõ ràng là tiêu cực: anh đứng đàng xa, nhìn xuống, đấm ngực, và xin Thiên Chúa đoái thương anh là kẻ “tội lỗi”; anh không biện minh gì về những gì anh đã làm. Anh không đi vào chi tiết trong những tội lỗi của anh. Chúng ta biết một sự vi phạm thường xảy ra trong nghề thu thuế là lừa đảo người khác (x. 3,12; 19,8). Qua phong thái của anh và nhất là trong lời cầu nguyện, người thu thuế chứng tỏ anh nhận định đúng đắn về hoàn cảnh và tình trạng của mình. Anh là một kẻ tội lỗi, nhưng anh nhìn nhận như thế; anh biết mình không xứng đáng được tha thứ, bởi vì muốn được tha thì phải bỏ đời sống tội lỗi, nghĩa là bỏ nghề, và phải đền bù (số tiền đã lấy cộng thêm một phần năm); mà làm sao có thể biết những ai là nạn nhân của anh để đền bù. Do đó, tình trạng của anh là vô vọng. Tuy nhiên anh biết là Thiên Chúa có thể cứu anh khỏi tình cảnh vô vọng này, Ngài có thể tha thứ cho anh, nên anh cứ kêu cầu. Chính vì thế, anh lại tìm được tình trạng công chính trước mắt Thiên Chúa: anh ta được Thiên Chúa tha thứ. Trong khi đó, người Pharisêu nghĩ rằng tự mình đã đạt được sự công chính, vì ông vẫn tránh trộm cắp, ngoại tình, làm điều gian ác, và lại còn ăn chay và cúng dâng cho nhà Chúa. Nhưng Đức Giêsu cho biết: trước mắt người đương thời, ông này chẳng phải là “người thu thuế” hay kẻ “tội lỗi”, nhưng ông không tìm được tình trạng “công chính trước mắt Thiên Chúa”, vì ông tự mãn.

Bài dụ ngôn nhắc lại phản ứng của Đức Giêsu đối với hai kiểu đạo đức, nhưng cũng cho một ví dụ về cách Người khẳng định thái độ đối với người Pharisêu và người thu thuế trong xã hội Paléttina đương thời (x. 5,20-32; 7,36-50).

* Kết luận khuyến thiện (14b)

Kết luận đã có ở 14,11, cho thấy rõ rằng dụ ngôn không chỉ được ngỏ với những người đương thời Đức Giêsu, nhưng còn cho các môn đệ Đức Giêsu (các Kitô hữu) nói chung.

Bản văn cung cấp nhiều gợi ý phong phú do sự tương phản giữa hai nhân vật, hai thái độ ở trong Đền Thờ, và do những lời hai người thưa gửi với Thiên Chúa. Chúng ta chẳng bao giờ biết được người Pharisêu đã phạm tội gì hoặc người thu thuế đã đền bù được gì. Đức Giêsu đã để chuyện ấy lại cho phán xét của Thiên Chúa (hoặc cho trí tưởng tượng của độc giả). Người chỉ tuyên bố rằng một người thì được nên công chính dưới mắt Thiên Chúa, còn người kia thì không. Và độc giả hiểu được lý do: người ta không đạt được sự công chính do tự hào hoặc thậm chí do sinh hoạt theo kiểu tự tin vào bản thân hay làm việc thiện khi tuân giữ Luật Môsê và các quy tắc Pharisêu, mà là do biết nhìn nhận bản thân dưới mắt Thiên Chúa.

+ Kết luận

Có những nhà chú giải cho rằng Đức Giêsu muốn ban một giáo huấn về việc cầu nguyện, hoặc về sự khiêm nhường, hay về việc cầu nguyện khiêm tốn. Trong thực tế, ta có thể theo ý kiến của đa số mà cho rằng Đức Giêsu ban một giáo huấn về hai kiểu sống nội tâm.

Cách thức chúng ta hành động và chịu đựng, hoàn cảnh trong đó chúng ta được đặt vào hoặc trong đó chúng ta rơi nào, có một tầm mức đáng kể trước mặt Thiên Chúa. Tuy nhiên, quan trọng hơn, đó là cách thức chúng ta nhìn và sống những điều ấy trước nhan Thiên Chúa. Đức Giêsu diễn tả minh bạch điều này qua lời cầu nguyện của người Pharisêu và người thu tuế. Cả hai trình diện trước nhan Thiên Chúa và đưa đến cho Ngài hoàn cảnh trong đó họ đang sống. Bản thân họ, các cách họ sống và các lời họ cầu nguyện khó mà có thể được giới thiệu trong thế mâu thuẫn sâu sắc hơn được nữa. Đức Giêsu tuyên bố dứt khoát về cách Thiên Chúa theo đó mà đánh giá lối sống của họ, và như thế, Ngài đã cho biết đâu là cách xử sự đúng đắn trước mặt Thiên Chúa.

5- Gợi ý suy niệm

1. Độc giả hiện đại có thể nghĩ rằng ít ra người Pharisêu cũng lương thiện với chính mình, vì tuy ông khoe khoang trước mặt Thiên Chúa, ông cũng đang cố gắng sống công chính, cố gắng giữ các điều răn, và thậm chí còn làm hơn thế nữa, trong khi người thu thuế dường như chẳng hề cố gắng gì hay cố gắng không bao nhiêu. Do đó, độc giả hôm nay khó mà tự đồng hóa với người thu thuế. Tuy nhiên, lý luận như thế là ép bản văn quá ý hướng của nó. Bản văn chỉ muốn nêu ra một khía cạnh là sự khoe khoang và kích thích độc giả suy nghĩ thêm; nhưng phần suy nghĩ thêm không được che mất điểm chính của sứ điệp.

2. Thật đáng khen khi ta biết tránh những điều xấu và làm những điều tốt. Cũng thật đáng khen khi biết cám ơn Thiên Chúa về những ân huệ Ngài ban. Chúng ta sẽ không bao giờ cám ơn Thiên Chúa cho đủ được. Do đó, cần coi chừng khuynh hướng pharisêu: coi những điều mình đã làm được như là những công trạng riêng, chứ không phải là những ơn Chúa; coi những việc đó như một điểm tựa cho phép mình được đánh giá mình cao hơn và từ đó, nhìn xuống kẻ khác với ánh mắt khinh bỉ. Những người Pharisêu hôm nay đang khẳng định: “Tôi không giết ai cả; tôi chẳng ăn cắp của gì của ai; tôi không hề ngoại tình. Tôi có gì phải trách mình đâu? Tôi có cần gì đến bí tích hòa giải? Mọi sự nơi tôi đều phải phép mà! Thiên Chúa cũng như người ta phải bằng lòng về tôi thôi, cũng như tôi vẫn đang bằng lòng về tôi đây này!”. Nhưng khi nói như thế, người này không thấy rằng Thiên Chúa không những cấm làm những điều tồi tệ như ngoại tình, giết người và trộm cắp, nhưng còn truyền người ta yêu mến Thiên Chúa trên hết mọi sự và yêu thương nhau như chính mình. Như thế, ai còn có thể bằng lòng về mình?

3. Đứng trước lệnh truyền yêu thương, chúng ta phải thường xuyên suy nghĩ, nhìn nhận những thiếu sót của mình và bắt đầu lại không ngừng, với lòng tin tưởng vào sự trợ giúp của Thiên Chúa. Điểm khởi hành của người Pharisêu thì tốt. Nhưng chính những điều ông làm là tốt đã đẩy ông đến chỗ chắc chắn về mình khi đứng trước nhan Thiên Chúa, nên ông đã tỏ ra ngạo mạn đối với người thân cận; ông trở nên mù quáng và tự mãn, nên thành thiếu sót đối với những bổn phận lớn hơn.

4. Hôm nay chúng ta cũng có dịp xét lại cách thức chúng ta cầu nguyện. Chúng ta có thể tự hỏi về những thái độ chúng ta thường có khi cầu nguyện. Phải chăng đó là những thái độ hướng chiều về sự tự phụ, tự mãn, hoặc nghi kỵ đối với Thiên Chúa? Chúng ta có thẳng thắn và khiêm nhường trình bày hoàn cảnh của mình trước nhan Thiên Chúa chăng, hay là chúng ta không màng thưa chuyện với Ngài, lấy cớ là không nên quấy rầy Thiên Chúa?

5. Cuối cùng, một hệ luận có thể rút ra là: Ai đã làm được những điều đúng đắn, thì cũng đừng sao nhãng những bổn phận lớn hơn khi tỏ ra tự phụ, ngạo mạn khinh bạc hoặc đi theo sự mù quáng của mình. Còn ai thấy mình còn trĩu nặng tội lỗi, thì đừng coi thường hoặc thất vọng, nhưng cứ tin tưởng quay về với Thiên Chúa, vì Ngài không bao giờ từ chối tha thứ cho ai khiêm tốn xin Ngài ban cho.

6. Qua dụ ngôn trên, chúng ta thấy việc cầu nguyện không phải là một sinh hoạt phụ thuộc, bên lề cuộc sống của một con người, nhưng lời cầu nguyện của một người chịu ảnh hưởng của lối sống tổng quát của người ấy. Như thế, lời giáo huấn về cách cầu nguyện đúng đắn trở thành lời giáo huấn về cách cư xử đúng đắn.

 

Bài 2. Chú giải và gợi ý suy niệm của Lm Inhaxiô Hồ Thông

Các bản văn Chúa Nhật này ca ngợi tấm lòng khiêm hạ trong cầu nguyện.

Một lần nữa, Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật mời gọi chúng ta suy niệm về chủ đề cầu nguyện. Chúa Nhật vừa qua, các bản văn đặt dấu nhấn trên đức tính kiên trì trong cầu nguyện; các bản văn Chúa Nhật này ca ngợi tấm lòng khiêm hạ trong cầu nguyện.

Hc 35: 15b-17, 20-22a

Bài đọc I, trích từ tác phẩm Huấn Ca của hiền nhân Si-rác, ca ngợi lời cầu nguyện của những người khiêm hạ và những kẻ nghèo; lời cầu nguyện của họ được Chúa lắng nghe và đón nhận.

2Tm 4: 6-8, 16-18

Những lời vĩnh biệt của thánh Phao-lô là bài ca khải hoàn và tâm tình cảm tạ tri ân. Lời cầu nguyện sau cùng của thánh nhân là tán dương Thiên Chúa.

Lc 18: 9-14

Tin Mừng Lu-ca thuật lại dụ ngôn nổi tiếng về người Pha-ri-sêu và người thu thuế. Người Pha-ri-sêu cầu nguyện với thái độ tự mãn; còn người thu thuế cầu nguyện với tấm lòng khiêm hạ, ông ta nhận ra mình là tội nhân: lời cầu nguyện này được Chúa đoái thương và ban ơn công chính hóa: “Người này, khi trở xuống mà về nhà, thì đã được nên công chính rồi”.

BÀI ĐỌC I (Hc 35: 15b-17, 20-22a)

Ông Si-rác là một hiền nhân Do thái sống vào khoảng năm 200 trước Công Nguyên. Vào thời kỳ này, kể từ sau cuộc chinh phục của đại đế A-lê-xan-đê, nền văn hóa Hy-lạp đã ảnh hưởng đến tận miền Pa-lét-tin. Giới quý tộc và tư tế Giê-ru-sa-lem đã mở rộng vòng tay đón nhận văn hóa Hy-lạp. Ông Si-rác không ác cảm với nền văn hóa này, nếu như Do thái giáo không đánh mất đi căn tính của mình. Chính vì để bảo vệ những giá trị truyền thống của cha ông mà ông đã soạn thảo tác phẩm của mình. Ông tỏ ra là người bênh vực nhiệt thành Lề Luật, nền tảng cốt yếu của Do thái giáo, nhưng là Lề Luật mà ở đó những đòi hỏi luân lý (công bình, đức hạnh, tình thương, vân vân) phải được xem cũng đòi buộc như những tuân giữ Lề Luật. Tác phẩm của Si-rác bộc lộ tâm tình tôn giáo tinh tế và bày tỏ nỗi bận lòng đến đức hạnh cá nhân với những điểm nhấn mới.

1. Việc phụng tự làm đẹp lòng Thiên Chúa:

Đoạn văn hôm nay được trích từ một trong những chương tiêu biểu nhất của sách Huấn Ca, chương 35, một trong những đỉnh cao của tác phẩm – ở đó tác giả định nghĩa phẩm chất của việc tế tự chân thật được Thiên Chúa đoái thương chấp nhận: “Từ bỏ gian tà thì đẹp lòng Đức Chúa, chấm dứt bất công là dâng lễ đền tội” (35: 3) hay “Đừng hối lộ, Người chẳng nhận đâu. Đừng ỷ vào hy lễ bất chính. Vì Đức Chúa là Đấng xét xử, Người chẳng thiên vị ai. Người không vị nể mà làm hại kẻ nghèo hèn, nhưng nghe lời kêu xin của người bị áp bức” (35: 11-13).

2. Lời cầu nguyện của những người khiêm hạ:

Người nghèo hèn trong xứ, kẻ bị áp bức, cô nhi quả phụ đó là tất cả những người mà Cựu Ước gọi là “những người nghèo của Đức Chúa”, những người không của cải nào khác ngoài một lòng tin tưởng phó thác vào Thiên Chúa và gặp thấy ở nơi Ngài là Đấng bênh vực họ: “Lời cầu nguyện của người nghèo vượt ngàn mây thẳm. Lời nguyện chưa tới đích, họ chưa được an lòng. Họ sẽ không rời đi bao lâu Đấng Tối Cao chưa đoái nhìn, chưa xét xử cho người chính trực và thi hành công lý” (Hc 35: 17-18).

Lòng kính trọng mà ông Si-rác dành cho những người phận nhỏ này xem ra rập khuôn theo truyền thống, như chúng ta đọc thấy trong các thánh vịnh, tại các ngôn sứ. Như chúng ta biết, lời cầu nguyện chiếm lấy một chỗ quan trọng trong tác phẩm của ông; ông ca tụng lời cầu nguyện hết lời; ông dừng lại những luận bàn của mình để sáng tác một lời cầu nguyện của riêng mình. Ông đã thích cầu nguyện từ thời thơ ấu; chính nhờ cầu nguyện mà ông đã gặp thấy sự khôn ngoan.

Ông Si-rác đưa những người nghèo và những kẻ bất hạnh ra làm mẫu gương, không vì cảm thương số phận của họ cho bằng ca ngợi giá trị lời cầu nguyện của họ. Lời cầu nguyện của họ chỉ là lời cầu nguyện đơn thuần, trơ trụi, không có hiến lễ ngoạn mục nào đi kèm theo. Vì thế, lời cầu nguyện của họ chạm đến tấm lòng của Thiên Chúa, động lòng trắc ẩn của Ngài.

BÀI ĐỌC II (2Tm 4: 6-9, 16-18)

Đoạn cuối thư thứ hai gởi cho ông Ti-mô-thê là bản văn cảm động nhất trong số các thư của thánh Phao-lô. Đây là những lời trăn trối sau cùng của người sắp chờ đợi nhận lãnh phúc tử đạo, ấy vậy, những lời vĩnh biệt này lại vang lên khúc ca khải hoàn.

Thánh Phao-lô khảo sát hiện tại một cách nghiêm túc: thánh nhân sắp đổ máu ra làm của lễ. Thánh nhân khảo sát quá khứ với sự sáng suốt: ngài đã kiên vững trong đức tin và đã hoàn thành sứ mạng chịu thương chịu khó của mình cho đến cùng. Thánh nhân khảo sát tương lai với trọn niềm tin tưởng và phó thác vào sự công chính của Thiên Chúa và vào lời hứa vinh quang bất diệt của Nước Trời.

1. Hiến Lễ:

Trong các hy lễ của người Do thái cũng như của dân ngoại, người ta đổ dầu hay rượu trên tế vật trước khi hiến tế, như trong Xh 29: 40 hay trong Ds 28: 7. Thánh Phao-lô dâng hiến đời mình thành hy lễ và máu của ngài sẽ đổ ra làm rượu tế.

Trước đây, khi còn bị giam cầm có thể ở Ê-phê-sô, và không biết số phận dành riêng cho ngài, thánh nhân gợi lên cho các tín hữu Phi-líp-phê, theo cùng những từ ngữ, tình huống là ngài có thể bị án tử: “Nhưng nếu tôi phải đổ máu ra hợp làm một với hy lễ mà anh em lấy đức tin dâng lên Chúa, thì tôi vui mừng và cùng chia sẻ niềm vui với tất cả anh em…” (Pl 2: 17).

Thánh Phao-lô sẽ đổ máu mình, nhưng từ lâu ngài đã dâng hiến đời mình làm hy lễ rồi, như ngài đã khuyên nhũ mọi người Ki-tô hữu: “Thưa anh em, vì Thiên Chúa thương xót chúng ta, tôi khuyên nhũ anh em hãy hiến dâng thân mình làm của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa. Đó là cách thức xứng hợp để anh em thờ phượng Người” (Rm 12: 1).

2. Bài ca khải hoàn:

Phúc tử đạo này thánh nhân chờ đợi một cách nghiêm túc sẽ là giờ ngài phải ra đi. Thánh nhân gợi ra cái chết của ngài với cung điệu khải hoàn, như người lính chiến đã chiến thắng quân thù, như vận động viên đã dành được vòng nguyệt quế, như người Ki-tô hữu vẫn một mực trung tín cho đến hơi thở cuối cùng: “Tôi đã đấu trong cuộc thi đấu cao đẹp, đã chạy hết chặng đường, đã giữ vững niềm tin. Giờ đây tôi chỉ còn đợi vòng hoa dành cho người công chính”.

Thánh Phao-lô nhắm đến việc Thiên Chúa sẽ trao phần thưởng cho ngài, vào Ngày Quanh Lâm, tức là vào ngày phán xét, và cùng với ngài, cho tất cả những ai đã hết lòng mong đợi Triều Đại Thiên Chúa. Ở phần cuối đoạn văn này, thánh nhân suy nghĩ thêm nữa đến số phận của chính ngài: “Chúa sẽ cho tôi thoát khỏi mọi hành vi hiểm độc, sẽ cứu và đưa tôi vào vương quốc của Người ở trên trời”.

3. Tâm tình cảm tạ và tri ân:

Phần thứ hai của đoạn trích hôm nay mang giọng điệu đượm buồn. Thánh Phao-lô chứng thực rằng các bạn đồng hành xưa kia đã bỏ mặc thánh nhân. Không ai trong họ, kể cả các Ki-tô hữu Rô-ma, đến bênh vực thánh nhân, vào lúc thánh nhân bị điệu ra trước tòa lần đầu tiên. Như Chúa Ki-tô trong cuộc khổ nạn của Ngài, thánh nhân bị bỏ mặc; cũng như Chúa Ki-tô, thánh nhân tha thứ: “Xin Chúa đừng chấp họ”. Hành vi cảm tạ tri ân theo liền sau những giọng điệu buồn phiền. Thánh nhân trông cậy mọi sự vào Chúa. Trong suốt sứ vụ tông đồ của ngài, thánh nhân đã nương tựa vào Chúa. Thánh nhân đã thoát khỏi mọi nanh vuốt sư tử nhờ Chúa bảo vệ che chở; ngài đặt trọn niềm tin tưởng vào ơn phù trợ của Chúa trong những giờ phút sắp đến. Và rồi thánh nhân xướng lên bài thánh thi của những người được tuyển chọn: “Chúc tụng Người vinh hiển đến muôn thuở muôn đời”.

TIN MỪNG (Lc 18: 9-14)

Đây là dụ ngôn riêng của thánh Lu-ca, một hạt ngọc được đẻo gọt rất tinh xảo. Thánh Lu-ca họa nên chân dung người Pha-ri-sêu vênh vang tự đắc; còn thánh Mát-thêu thì đã kích kịch liệt hạng người này.

Người Pha-ri-sêu, theo nguyên ngữ Do thái có nghĩa “Biệt Phái”, là một bè phái của những người Do thái giáo trí thức và chính thống. Họ tự tách biệt mình khỏi đám đông bởi kiến thức Kinh Thánh và việc tuân giữ Lề Luật nghiêm nhặt của họ. Tuy nhiên, họ biết kết hợp duy luật với tinh thần rộng mở đối với đạo lý, chấp nhận những sự phong phú của truyền khẩu (trái với nhóm Xa-đốc). Theo thánh Lu-ca, vài người Pha-ri-sêu, thậm chí những bậc vị vọng, đã mời Chúa Giê-su dùng bữa tại nhà họ. Sự kiện này phù hợp với thực tại lịch sử, được sách Công Vụ củng cố, khi tường thuật việc một người Pha-ri-sêu tên là Ga-ma-li-ên, lên tiếng can thiệp cho các tông đồ trong phiên xử của Thượng Hội Đồng (Cv 5: 34-39).

1. Lời cầu nguyện của người Pha-ri-sêu:

“Lạy Thiên Chúa, xin tạ ơn Chúa, vì con không như bao kẻ khác…Con ăn chay mỗi tuần hai lần, con dâng cho Chúa một phần mười thu nhập của con”. Người Pha-ri-sêu này tiêu biểu những người Pha-ri-sêu, những người tự cho mình là đạo đức bằng việc tuân giữ nghiêm nhặt chẳng những những đòi buộc của Lề Luật, thậm chí còn hơn thế nữa. Ví dụ như Lề Luật chỉ buộc mỗi năm ăn chay chỉ một ngày, vào ngày lễ Xá Tội, họ còn sốt sáng ăn chay một tuần hai ngày vào ngày thứ ba và thứ năm. Vì thế, họ tự xem mình là người công chính và được người khác xem là những người đạo đức.

Người Pha-ri-sêu mà dụ ngôn miêu tả chân dung của ông ở nơi lời cầu nguyện này rất tương xứng với những gì mà thánh Phao-lô nói về con người Pha-ri-sêu xưa kia của ngài và con người Ki-tô hữu ngày nay của ngài: “Nhiệt thành đến mức ngược đãi Hội Thánh; còn sống công chính theo Lề Luật, thì chẳng ai trách được tôi. Nhưng những gì xưa kia tôi cho là có lợi, thì nay, vì Đức Ki-tô, tôi cho là thiệt thòi. Hơn nữa, tôi coi tất cả mọi sự là thiệt thòi, so với mối lợi tuyệt vời, là được biết Đức Giê-su Ki-tô, Chúa của tôi. Vì Người mà tôi đành mất hết, và tôi coi tất cả như rác, để được Đức Ki-tô và kết hợp với Người. Được như vậy, không phải nhờ sự công chính của tôi, sự công chính do luật Mô-sê đem lại, nhưng nhờ sự công chính do lòng tin vào Đức Ki-tô, tức là sự công chính do Thiên Chúa ban, dựa trên lòng tin” (Pl 3: 6-8).

2. Lời cầu nguyện của người thu thuế:

Những người thu thuế là những viên chức nhà nước được chính quyền Rô-ma ủy nhiệm thu thuế dân Do thái ở miền Pa-lét-tin. Họ bị thù ghét vì họ cộng tác với chính quyền chiếm đóng và bị cư xử như kẻ trộm cướp vì người ta nghi ngờ rằng họ làm giàu nhờ lạm dụng chức vụ của mình.

Dụ ngôn đưa ra sân khấu một người trong bọn họ. Lời cầu nguyện của người thu thuế này thì trái ngược với lời cầu nguyện của người Pha-ri-sêu về dáng điệu bên ngoài lẫn tâm tình bên trong. Anh ta không dám tiến lại gần, thậm chí chẳng dám ngước mắt lên trời. Và lời cầu nguyện của anh chỉ võn vẹn một câu, nhưng đầy lòng khiêm hạ: “Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi”. Người thu thuế này, chắc hẳn là một người giàu có như bao người thu thuế khác, lại là một người có tâm hồn khó nghèo, những người mà Chúa lắng nghe những lời cầu nguyện của họ.

3. Lời kết:

Lời kết đặt câu chuyện vào bối cảnh thuần túy của sách Tin Mừng, tức tôn vinh đức khiêm hạ, như Đức Ma-ri-a đã cất tiếng ca trong Bài Ca “Ngợi Khen” (Mangificat): “Chúa hạ bệ những ai quyền thế, Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường” (Lc 1: 52).

Lời kết này cũng theo chiều hướng chủ đề của thánh Phao-lô về ơn công chính hóa nhờ Đức Tin chứ không nhờ Lề Luật. Tuy nhiên, ở đây, Chúa Giê-su không đối lập Lề Luật với Đức Tin (người Pha-ri-sêu là một người tin); nhưng Ngài đối lập tính tự mãn của kẻ lấy mình làm chuẫn mực đạo đức với đức khiêm hạ của người biết nhận ra những bất toàn của mình và cầu xin lòng xót thương của Chúa: “Người này, khi trở xuống mà về nhà, thì đã được nên công chính rồi”.

Lời cầu nguyện đích thật là một hành vi đầy khiêm hạ. Cầu nguyện, chính là nhận ra thân phận yếu đuối của con người và đức hạnh mõng dòn của con người để mà đặt trọn niềm tin, cậy và mến vào Chúa.

 

C. CÁC BÀI SUY NIỆM

Bài 1. THIÊN CHÚA LẮNG NGHE TIẾNG NÓI CỦA NGƯỜI NGHÈO
Giêrônimô Nguyễn Văn Nội

I. DẪN VÀO PHỤNG VỤ

Trong xã hội loài người thì tiếng nói của người nghèo chẳng mấy khi đuợc lắng nghe. Vì thế mà người nghèo được xem là những người “không có tiếng nói”. Nhưng trước mặt Thiên Chúa thì hoàn toàn khác: tiếng nói của người nghèo lại luôn được Thiên Chúa lắng nghe và đáp ứng. Đó là kinh nghiệm của người xưa đuợc chép lại trong sách Huấn Ca. Đó cũng là quan điểm của Chúa Giê-su trong câu truyện dụ ngôn hai người Pha-ri-sêu và thu thuế lên Đền Thờ cầu nguyện: một người được lắng nghe, một người không.

II. LẮNG NGHE LỜI CHÚA TRONG BA BÀI THÁNH KINH

2.1 Lắng nghe Lời Chúa trong bài đọc 1 (Hc 35,15b-17.20-22a): Lời nguyện của người nghèo vượt ngàn mây thẳm.

2.2 Lắng nghe Lời Chúa trong bài đọc 2 (2 Tm 4,6-8.16-8): Tôi chỉ còn đợi vòng hoa dành cho người công chính.

2.3 Lắng nghe Lời Chúa trong bài Tin Mừng (Lc 18,9-14): Người thu thuế khi trở xuống mà về nhà, thì đã được nên công chính; còn người Pha-ri-sêu thì không.

III. KHÁM PHÁ CHÂN DUNG VÀ SỨ ĐIỆP LỜI CHÚA TRONG BA BÀI THÁNH KINH

3.1 Chân dung Thiên Chúa trong 3 bài Thánh Kinh

3.1.1 Bài đọc 1 (Hc 35,15b-17.20-22a) là đúc kết một kinh nghiệm tôn giáo và tâm linh của dân riêng của Thiên Chúa đã được ông Giê-su, con ông Xi-ra (Hc 50,7), một người giầu có, học thức và từng trải ghi chép lại. Nếu trong xã hội các dân tộc khác, người nghèo bị thua thiệt trăm bề, thì trong dân riêng của Chúa, người nghèo được Thiên Chúa đối xử một cách ưu ái, yêu thương, vì nỗi khổ của họ được Thiên Chúa cảm thông và chia sớt. Lời cầu của họ được Thiên Chúa lắng nghe và nhận lời.

Qua đoạn của Sách Huấn Ca trên, một lần nữa chúng ta thấy Thiên Chúa luôn ở bên và như đứng về phía người nghèo, người bị áp bức, mồ côi, góa bụa. Tất cả những hạng ngườì này đểu bị thua thiệt về mặt kinh tế, xã hội, văn hóa và chính trị. Phẩm giá của họ thường bị tổn thương, tiếng nói của họ chẳng được mấy ai quan tâm, cứu xét, bênh vực. Họ chỉ biết dựa vào một mình Thiên Chúa mà thôi.

3.1.2 Bài đọc 2 (2 Tm 4,6-8.16-8) là những lời chia sẻ rất riêng tư, thầm kín của Thánh Phao-lô với ông Ti-mô-thê là người con thiêng liêng, là môn đệ tín trung và cộng sự viên đắc lực của ngài. Thánh Phao-lô cho biết ngài đã kiên cường chiến đấu cho đức tin, cho đời sống tâm linh và ngài vững lòng trông cậy vào Chúa Giê-su, vào Thiên Chúa, là Đấng thấu suốt mọi sự, an tâm chờ đợi ngày gặp gỡ vào cuối đời.

Trong đoạn thư thứ 2 của Thánh Phao-lô gửi ông Ti-mô-thê (4,6-8.16-8), chúng ta được thánh nhân cho biết: Thiên Chúa là vị Thẩm Phán Chí Công, là Đấng sẽ tưởng thưởng cho những hy sinh, cố gắng của tất cả những ai đã tin tưởng và nỗ lực sống theo giáo huấn của Người.

3.1.3 Bài Tin Mừng (Lc 18,9-14) là dụ ngôn Chúa Giê-su kể với một số người tự hào cho mình là công chính mà khinh chê người khác: hai người, một Pha-ri-sêu, một thu thuế, lên Đền Thờ cầu nguyện, nhưng khi ra về thì người thu thuế (bị coi là người tội lội) trở nên công chính còn người Pha-ri-sêu (được xem và tự coi mình là người đạo đức) thì không. Lý do là người thu thuế khiêm nhường tự hạ, nhìn nhận mình tội lỗi mà cầu xin Thiên Chúa thứ tha; còn người Pha-ri-sêu thì tự kiêu về những việc đạo đức của mình mà khinh chê người khác, cụ thể là người thu thuế cũng lên Đền Thờ cầu nguyện vào lúc ấy.

Qua đoạn Phúc âm Lc 18,9-14 này chúng ta khám ra Thiên Chúa là Đấng có những phẩm chất tuyệt vời như (a) thấu suốt mọi tâm hồn, (b) phán xử công minh (c) yêu chuộng sự thật (d) quý trọng người khiêm nhu, tự hạ và tha thứ cho những tội lỗi thiếu sót của những người ấy.

3.2 Sứ điệp của Lời Chúa

Sứ điệp của Lời Chúa hôm nay chính là lời công bố của Chúa Giê-su cũng là câu kết của dụ ngôn:

“Ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống;

còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên.”

IV. SỐNG VỚI CHÚA VÀ THỰC THI SỨ ĐIỆP CỦA NGƯỜI

4.1 Sống với Thiên Chúa là Đấng thấu suốt mọi tâm hồn, phán xử công minh, yêu chuộng sự thật, quý trọng người khiêm nhu, tự hạ và tha thứ cho những tội lỗi thiếu sót của những người ấy.

4.2 Thực thi sứ điệp Lời Chúa

Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta sống khiêm nhường, tự hạ chẳng những trước mặt Thiên Chúa mà còn trước mặt người đời nữa. Không phải là sống khiêm nhường, tự hạ một cách giả hình, bề ngoài mà là sống khiêm nhường, tự hạ một cách chân thật, tự đáy lòng.

Muốn sống đuợc như thế, chúng ta cần được Thiên Chúa mở mắt, mở lòng để chúng ta nhận ra rằng: tất cả những gì chúng ta hiện có – sức khoẻ, thời gian, tài năng, của cải, hoàn cảnh và địa vị xã hội, chức vụ và trách nhiệm trong Giáo hội, đời sống tâm linh và các nhân đức – đều là ân huệ mà Thiên Chúa ‘cho không’ chúng ta, để chúng ta lo cho phần rỗi của mình và giúp đỡ những người chung quanh.

V. CẦU NGUYỆN CHO THẾ GIỚI VÀ HỘI THÁNH

5.1 «Phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên.» Cùng với Đức Mẹ và các Thánh, chúng ta hãy dâng lời cầu xin Chúa cho các dân tộc trên thế giới, nhất là các dân tộc giầu mạnh về kinh tế và quân sự để họ đối xử cách bác ái và khiêm nhường với các dân tộc khác.

 

Xướng: Chúng con cầu xin Chúa!
Đáp: Xin Chúa nhận lời chúng con!

 

5.2 «Tôi đã đấu trong cuộc thi đấu cao đẹp, đã chạy hết chặng đường, đã giữ vững niềm tin.» Cùng với Đức Mẹ và các Thánh chúng ta hãy dâng lời cầu xin Chúa cho Đức Giáo Hoàng Phan-xi-cô, cho các Hồng Y, Giám Mục, Linh Mục, Phó Tế và cho hết mọi Ki-tô hữu biết cố gắng hết sức mình trên con đường đi theo Chúa Ki-tô.

5.3 «Kẻ phục vụ Đức Chúa theo ý Người sẽ được Người chấp nhận.» Cùng với Đức Mẹ và các Thánh, chúng ta hãy dâng lời cầu xin Chúa cho các Ki-tô hữu trong cộng đoàn giáo xứ chúng ta được ơn kiên trì phục vụ Chúa và anh chị em trong cộng đoàn và xã hội, nhất là những người kém may mắn và bị thiệt thòi.

5.4 «Lời nguyện của người nghèo vượt ngàn mây thẳm.» Cùng với Đức Mẹ và các Thánh, chúng ta hãy dâng lời cầu xin Chúa cho những người nghèo trong thế giới và nhất là trong xã hội Việt Nam hôm nay, để những người ấy được toại nguyện trong các ước vọng chính đáng và được chính Thiên Chúa lắng nghe và đón nhận lời cầu xin của họ.

 

 

Bài 2. Nâng mình lên sẽ bị hạ xuống
Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

 

“Ai nâng mình lên sẽ bị hạ xuống” là một giáo huấn rất quan trọng nên thường được Chúa Giê-su đề cập nhiều lần trong Tin Mừng bằng nhiều hình thức (Lc 18,14. Lc 14, 7-11. Mt 23,12)

Lần nầy, để minh hoạ cho bài học của mình, Chúa Giê-su nêu lên hai nhân vật.

Người biệt phái rất tự phụ, vênh vang phô trương công đức của mình. Ông tự cho mình thánh thiện, đạo đức và tự đặt mình lên trên những người khác: “Xin tạ ơn Chúa vì con không như bao kẻ khác, không tham lam, không bất chính, không ngoại tình, không như tên thu thuế kia!”

Rồi ông phô trương thành tích đạo đức của mình: “Con ăn chay mỗi tuần hai lần, con dâng cho Chúa một phần mười thu nhập của con.”

Quả là ông nầy có nhiều thành tích tốt lành ít ai bì kịp. Thế nhưng ông không nhận được ơn lành của Thiên Chúa vì ông ta như chiếc bình đầy tràn, đầy kiêu căng tự phụ, nên chẳng còn chỗ cho Chúa rót ân sủng vào.

Trong khi đó, người thu thuế vốn biết thân biết phận tội lỗi của mình nên chỉ đứng ở đằng xa, thậm chí không dám ngước mặt lên, chỉ biết đấm ngực mà nguyện rằng: “Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi.”

Anh nầy đến với Chúa như một chiếc bình trống rỗng, nghĩa là với lòng thống hối khiêm cung và khao khát được Chúa tuôn đổ ơn tha thứ… nên anh đã được Thiên Chúa rót đầy tình yêu thương và sự thứ tha.

Với dụ ngôn nầy, Chúa Giê-su ghi sâu bài học đáng nhớ nầy vào tâm khảm chúng ta: “Phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên.” (Lc 18,14)

Mẹ Maria cũng đã cảm nghiệm được bài học quý báu nầy và nhắc nhở chúng ta: “Chúa giơ tay biểu dương sức mạnh, dẹp tan phường lòng trí kiêu căng. Chúa hạ bệ những ai quyền thế. Ngài nâng cao những kẻ khiêm nhường.” Chúa làm như thế không phải vì Chúa thiên vị người nầy chê bỏ kẻ kia, nhưng vì, cũng như người ta không thể rót thêm nước vào một ly đã đầy tràn, thì Thiên Chúa cũng không thể rót thêm ân sủng cho những tâm hồn kiêu căng tự mãn.

Đầy thì đổ

Một hôm khi cùng với học trò vào thăm miếu của vua Hoàn Công, nước Lỗ, Đức Khổng Tử thấy có cái lọ đứng nghiêng. Ngài nói với môn sinh: Ta nghe nói vua Hoàn Công có một vật quý để răn dạy người đời. Đó là một chiếc lọ đặc biệt, khi để trống không thì nghiêng, khi đổ nước vào vừa phải thì đứng; nếu đổ đầy nước vào thì lọ đổ nhào. Không rõ vật ấy có phải là cái lọ nầy không?

Rồi ngài sai học trò đổ nước vào thử xem. Quả thật, mới đầu lọ đứng nghiêng, khi nước được rót vào được một nửa, thì chiếc lọ chuyển sang vị thế đứng thẳng; rồi cứ đổ tiếp cho đầy tới miệng thì lọ đổ nhào.

Người đông phương ngày xưa khôn khéo tạo nên chiếc lọ đặc biệt như thế để ghi khắc vào tâm khảm người đời bài học khiêm tốn, bài học trung dung, một cách ấn tượng.

Còn người phương tây cũng diễn tả nội dung đó qua một ngạn ngữ khá phổ thông: “virtus in medio – nhân đức nằm ở mực trung.” Người nhân đức là người biết sống trung dung, không bất cập mà cũng không thái quá.

Bởi vì bất cứ điều gì quá dư đầy phải sụp đổ.

“Mặt trời đứng bóng rồi phải xế,

Mặt trăng tròn đầy rồi sẽ khuyết,

Vật gì thịnh lắm rồi cũng phải suy.” (Thái Trạch)

Thế nên, Lão tử khuyên chúng ta:

“Thông minh duệ trí, thủ chi dĩ ngu,

Dũng lực chấn thế, thủ chi dĩ khiếp.”

Bậc thông minh uyên bác thì nên giữ mình bằng khiêm nhường, nhận rằng mình còn nhiều điều chưa biết; bậc anh hào có sức mạnh chấn động thế giới hãy biết bảo trọng bằng cách sống như người nhát sợ…

Lạy Chúa Giê-su,

Chúa dạy chúng con chớ dại dột nâng mình lên vì “hễ ai nâng mình lên sẽ phải bị hạ xuống” như trường hợp người biệt phái trong câu chuyện trên đây, cũng đừng tranh dành chỗ quan trọng ( như trong dụ ngôn bữa tiệc) kẻo có ngày chủ nhà sẽ mời xuống chỗ cuối. (Luca 14, 7-11.)

Xin cho chúng con biết khiêm nhường như Chúa để được rót đầy ân sủng và yêu thương.

 

 

Bài 3. Cầu nguyện với thái độ nào để đẹp lòng Chúa
PT Phêrô Đặng Phi Hùng

 

Bài ĐọcI & Bài Tin Mừng của Chúa nhật tuần nầy nói đến thái độ cần có của người tín hữu khi cầu nguyện và hậu quả của thái độ đó. Người Pharisiêu trong Tin Mừng thựcra không phải là mộ tngười xấu: ông đã nói thật khi nói rằng ông ăn chay, làm phúc bố thí, giữ các điều răn…và ông còn cảm tạ Chúa, nhưng liền ngay sau đó ông lại so sánh cá nhân ông với người khác với thái độ rất chủ quan. Đây là một lỗi lầm rất thông thường của rất nhiều người trong chúng ta. Tôn giáo có mục đích liên kết mọi người lại với nhau chứ không chia rẽ con người ra xa. Nhưng người Việt nam ta thườngnói: “Con gà tức nhau tiếng gáy.” Hội đoàn nầy so sánh với hội đoàn kia. Giáo khu lớn nầy so sánh với Giáo khu nhỏ kia, dần dần việc hy sinh phục vụ ban đầu tốt, sau biến thành một động lực để ganh đua, tranh giành ảnh hưởng, để khoe khoang… Cái sai trái ở chỗ là làm mọi điều tốt như trong sách luật dạy với một thái độ xấu,sẽ đem đến hậu quả xấu. Thái độ tự phụ như người Pharisiêu làm người khác lánh xa.

Tổng thống Mỹ Franklin có nói: “Khiêm nhường với người trên là bổn phận; khiêm nhường với người ngang hàng là lịch sự; khiêm nhường với người dưới là một điều cao trọng.”

Ngược lại với người Pharisiêu, người thu thuế trong dụ ngôn Chúa đưa ra,có một thái độ hết sức khiêm nhường khi cầu nguyện nên đã liên kết được với Chúa. Khi cầu nguyện anh ta đàm thoại với Chúa với một tấm lòng khao khát ân sủng thiêng liêng. Anh cũng đã nói thật là anh có tội. Cho dù những người chung quanh có định kiến cho anh là một người xấu, một người tội lỗi, nhưng điều đó không quan hệ cho lắm, vì anh biết anh có tội, cần được Chúa cứu vớt.Thời Do Thái bị đế quốc Roma cai trị, những người thu thuế được coi là những người phản bội dân tộcvà tội lỗi vì họ dựa vào chính quyền Roma để bắt đồng hương của mình nộp thuế nhiều hơn số chính quyền ấn định.

Phần sai biệt những người thu thuế dùng làm của riêng.Tuy bị liệt vào hạng người xấu và tội lỗi nhưng anh thu thuế nầy lại có một thái độ đáng để cho hậu thế chúng ta noi theo.Anh không khoe khoang cũng không cầu cho cá nhân anh.

Vì thế anh đã nắm vữngđượccáicốt lõi của việc cầu nguyện: kết hiệp với Chúa! Và Chúa Giêsu kếtluận: “Người thu thuế về nhà được sạch tội, còn người Pharisiêu thì không.”

Cầu nguyện là kết hợp với Chúa và tìm kiếm ân sủng để làm động lực thúc đẩy(motivation) trong đời sống khi còn ở nơi dương gian.“Ai tìm đến để nương tựa Chúa thì được Ngài tha thứ mọi tội lỗi.” (Đápca)

Trong Bài ĐọcII, thư gửi môn đệ Timôthê, Thánh Phaolô nói rất nhiều về cá nhân của chính ông trong cuộc đời làm môn đệ Chúa.

Tôi coi đây là một sự cầu nguyện với một thái độ nói lên sự thật với tấm lòng khiêm nhu và biết ơn Chúa.Thánh nhân đã nói rất thật vớiTimôthê, với một thái độ thân thương tình thầy trò, trước khi giã từcõi trần để về với Thiên Chúa, Đấng mà ông đã tin theo và phục vụ. Thánh Phaolô cho biết ông đã sẵn sàng hành lý cho cuộc sống mới ở bên kia thế giới, sau khi đã “đã chiến đấu trong trận chiến chính nghĩa.” Chung cuộc,thánh nhân đểl ại gì trướckhi qua đời?

Không phải một đời thu lượm hay tích lũy của cải, màl à một đời cho đi để giữ vững gia sản là đức tin, và “mũ triều thiên” trênThiên đàng. Thánh nhân cũng cảm tạ Chúa đã phù hộ và ban sứcmạnh để ông có thể thoát khỏi “nanh vuốt của sư tử.” Chúa cũng là Đấng đã cứu vớt ông khỏi mọi sự dữ, để đưa ông vào nướcTrời.

Như vậy, điều quan trọng khiến cho người tín hữu được sạch tội và trở nên công chính là thái độ khiêm nhường thật sự. Khiêm nhường là động lực thúc đẩy cá nhân đương sự làm những việc tốt chỉ vì mến Chúa và yêu người, chứ không vì để được khen thưởng hay khâm phục.

Đức Giáo Hoàng GioanPhaolo I (1912-1978) đã nói:

“Trên Thiên đàng không thiếu người thu thuế và đĩ điếm nhưng không có kẻ kiêu ngạo. Dưới Hỏa ngục có cả hồng y, giám mục nhưng không có người khiêm nhường.”Nếu quả đúng như vậy thì bí quyết để đạt được hạnh phúc vĩnh cửu là khiêm nhường. Chúa Giêsu cũng phán trong Phúc âm của Ngài: “Hãy học cùng Ta vì Ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng.”

Lạy Chúa Giêsu Kitô, xin ban cho con ân sủng khiêm nhường của Chúa để con biết sống cho Chúa và phục vụ tha nhân. Amen.

 

 

Bài 4. Đối nghịch
Trầm Thiên Thu

 

Trong cuộc sống (cả đời và đạo), có nhiều cái đối nghịch hoặc đối lập nhau, từ dạng đơn giản tới dạng phức tạp, từ điều vô hại tới điều nguy hiểm: Đen – trắng, giàu – nghèo, cao – thấp, hiền – dữ, khiêm nhường – kiêu ngạo (nổ, chảnh), thiện – ác,… Tâm tính trái ngược nhau dẫn tới “nghi kỵ” nhau, đối kháng hoặc chống đối nhau, và gièm pha nhau. Sự tuyên truyền là một dạng đối nghịch – vì phe này nói xấu phe kia, đảng này chê bôi đảng nọ, nhóm này đàn áp nhóm kia,… Chống đối là do những lối suy nghĩ không giống nhau, vì cách lựa chọn của người này khác với người kia. Thế là xảy ra xung khắc, đôi khi có thể ẩu đả hoặc án mạng.

Liên quan vấn đề “trái ngược”, có lần người ta bảo Chúa Giêsu cậy quyền lực của quỷ Bê-en-dê-bun, Ngài nói: “Ai không đi với tôi, là chống lại tôi; và ai không cùng tôi thu góp, là phân tán” (Mt 12:30; Lc 11:23). Khi thấy có người nhân danh Chúa Giêsu mà trừ quỷ, các tông đồ thấy “ngứa mắt” nên đã tìm cách ngăn cấm họ, nhưng Chúa Giêsu bảo: “Ai không chống lại chúng ta là ủng hộ chúng ta” (Mc 9:1; Lc 9:50).

Đôi khi sự đối nghịch vẫn khả dĩ hữu ích: Nam châm cùng dấu thì đẩy nhau, trái dấu thì hút nhau. Tình yêu đôi lứa cũng vậy, thế mới là “bình thường”, mới tạo nên hôn nhân hạnh phúc, nếu hôn nhân đồng giới thì… “lạy Chúa tôi!”, vì như vậy lại hóa “bất thường”. Cái NGHỊCH lại là cái THUẬN, và ngược lại. Thế mới lạ!

Trang tin UCAN cho biết: Một giám mục Công giáo người Đức bị chỉ trích chi tiêu xa hoaở biệt thự sang trọng, bị cáo buộc là nói dối trước tòa và phải sang Rôma để gặp các viên chức Tòa Thánh, cũng có thể gặp cả ĐGH Phanxicô để nhận quyết định xem có nên tại vị nữa không. Hôm Chúa nhật (13-10-2013), một phát ngôn viên xác nhận đó là giám mục Franz-Peter Tebartz-van Elst, giáo phận Limburg. Giám mục “xa hoa” này đã dùng 31 triệu euro (gần 40 triệu USD, gấp 6 lần so với kế hoạch ban đầu) để nâng cấp và xây dựng mới dinh thự của mình và văn phòng giáo phận.

Còn ở Việt Nam thì sao? Liệu có cần nghiêm túc mà “xét lại” chăng? Thiết nghĩ NÊN lắm đấy, dù ít hay nhiều!

Sống “thoải mái” là lối sống ĐỐI NGHỊCH với Thiên Chúa. Chúa Giêsu là dân nghèo “thứ thiệt”, nghèo “hàng hiệu”, nghèo từ Belem tới Can-vê. Đúng là Vua Nghèo. Thế mà các môn đệ lại “đi ngược đường” với Ngài, ung dung sống vinh thân phì da, mặc đám dân nghèo khốn khổ sống lay lắt. Càng nguy hiểm hơn vì người sống ngang nhiên đó lại là một giám mục, thật bất xứng và xấu hổ thay! Vậy thì đừng chỉ trích và lên án các quan quyền thế tục hối lộ và tham nhũng. Loài đỉa nào cũng nguy hiểm, vì nó hút máu của người khác để sống.

Vô hình chung, loại “người đỉa” này đã chất thêm gánh nặng cho người nghèo, cách “bòn rút” của họ rất tinh vi, tự “ra giá” cho những công việc mà đáng lẽ là bổn phận và trách nhiệm của họ. Chính họ được học hành đàng hoàng, học đến nơi đến chốn, biết nhiều hơn người, y như giới thông luật xưa. Nhưng Chúa Giêsu “chỉ tận tay, day tận trán” thế này: “Khốn cho cả các người nữa, hỡi các nhà thông luật! Các người chất trên vai kẻ khác những gánh nặng không thể gánh nổi, còn chính các người, thì dù một ngón tay cũng không động vào” (Lc 11:46). Chúa nói thế mà với họ cũng chỉ là “nước đổ lá môn” mà thôi!

Đừng ảo tưởng với “nếp nghĩ phàm tục” mà cho rằng Thiên Chúa vị nể những người có chức có quyền, “chuyên gia” ăn trên ngồi trước, được tiền hô hậu ủng. Không hề, Thiên Chúa hoàn toàn khác: “Thiên Chúa cứ theo sự thật mà xét xử” (Rm 1:2) vì “Thiên Chúa không thiên vị ai” (Rm 1:11). Vâng, Thiên Chúa rất công minh và chính trực, nói theo giới bình dân, có lẽ Chúa sẽ nói: “Tôi thật thà thẳng thắn trừng trị” (7 chữ T).

Thật vậy, tác giả sách Huấn Ca cũng xác định: “Đức Chúa là Đấng xét xử, Người chẳng thiên vị ai. Người không vị nể mà làm hại kẻ nghèo hèn, nhưng nghe lời kêu xin của người bị áp bức. Người không coi thường lời khấn nguyện của kẻ mồ côi, hay tiếng than van của người goá bụa” (Hc 35:12-14). Thiên Chúa hoàn toàn TRÁI NGƯỢC với quan niệm hoặc cách xử sự của loài người, phàm phu tục tử, đầu vừa nhỏ bé vừa như “bã đậu” vậy.

Thiên Chúa rất nhân từ, luôn xót thương những kẻ khốn cùng, không “kỵ” người nghèo mà lại rất “hợp” người nghèo, thế mới lạ, họ xin gì Ngài cũng thương ban: “Kẻ phục vụ Đức Chúa theo ý Người sẽ được Người chấp nhận, lời họ kêu xin sẽ vọng tới các tầng mây. Lời nguyện của người nghèo vượt ngàn mây thẳm” (Hc 35:16-17a). Họ liên lỉ cầu nguyện, vì họ coi Ngài là cứu cánh: “Lời nguyện chưa tới đích, họ chưa an lòng. Họ sẽ không rời đi bao lâu Đấng Tối Cao chưa đoái nhìn, chưa xét xử cho người chính trực và thi hành công lý” (Hc 35:17b-18).

Tác giả Thánh Vịnh vừa bộc bạch vừa kêu gọi mọi người phải biết ca tụng Chúa, nhất là những người nghèo: “Tôi sẽ không ngừng chúc tụng Chúa, câu hát mừng Người chẳng ngớt trên môi. Linh hồn tôi hãnh diện vì Chúa, xin các bạn nghèo nghe tôi nói mà vui lên” (Tv 34:2-3). Người nghèo thiếu thốn mọi thứ, có khi thiếu cả những thứ cơ bản nhất, họ cần Chúa hơn và được Chúa ban nhiều thứ, thế nên họ phải biết ơn Chúa. Người giàu đầy đủ vật chất, không cần Chúa ban thêm, và họ cũng dễ lãng quên Ngài – cũng là lẽ tất nhiên vậy!

Sự đối nghịch rõ ràng nhất là giữa cái thiện và cái ác: “Chúa đối đầu với quân gian ác, xoá nhoà tên tuổi chúng trên đời, nhưng để mắt nhìn người chính trực và lắng tai nghe tiếng họ kêu” (Tv 34:16-17). Chúa thẳng tay với ác nhân, lũ “đỉa người” nham hiểm, nhưng Ngài xót thương hiền nhân, đám dân đen thấp cổ bé miệng: “Ai thành tâm kêu xin đều được Chúa đã nhận lời và giải thoát khỏi mọi cơn nguy khốn, nhất là những người hèn mọn, đau khổ, thấp cổ bé miệng” (Tv 34:18). Tác giả Thánh Vịnh xác định: “Chúa gần gũi những tấm lòng tan vỡ, cứu những tâm thần thất vọng ê chề” (Tv 34:19). Quả thật, Chúa Giêsu sẵn sàng bỏ 99 con chiên lành lặn, béo tốt, để rồi nhọc công tìm kiếm con chiên gầy gò, ốm yếu, ghẻ lở, hôi hám (x. Mt 18:12-14; Lc 15:4-7).

Tác giả Thánh Vịnh kết luận: “Chúa cứu mạng các người tôi tớ, ai ẩn thân bên Chúa không bị phạt bao giờ” (Tv 34:23). Thiên Chúa trên cả tuyệt vời!

Quá khứ của Thánh Phaolô đối nghịch với Chúa, nhưng sau cú ngã ngựa chí mạng đã khiến ông thuận với Chúa. Cuối đời, Thánh Phaolô nói lời trăn trối đầy niềm tin tưởng: “Tôi sắp phải đổ máu ra làm lễ tế, đã đến giờ tôi phải ra đi. Tôi đã đấu trong cuộc thi đấu cao đẹp, đã chạy hết chặng đường, đã giữ vững niềm tin. Giờ đây tôi chỉ còn đợi vòng hoa dành cho người công chính; Chúa là vị Thẩm Phán chí công sẽ trao phần thưởng đó cho tôi trong Ngày ấy, và không phải chỉ cho tôi, nhưng còn cho tất cả những ai hết tình mong đợi Người xuất hiện” (2 Tm 4:6-8).

Thánh Phaolô nói thêm: “Khi tôi đứng ra tự biện hộ lần thứ nhất, thì chẳng có ai bênh vực tôi. Mọi người đã bỏ mặc tôi. Xin Chúa đừng chấp họ. Nhưng có Chúa đứng bên cạnh, Người đã ban sức mạnh cho tôi, để nhờ tôi mà việc rao giảng được hoàn thành, và tất cả các dân ngoại được nghe biết Tin Mừng. Và tôi đã thoát khỏi nanh vuốt sư tử” (2 Tm 4:16-18a). Niềm hy vọng dâng cao, Thánh Phaolô chắc chắn: “Chúa sẽ còn cho tôi thoát khỏi mọi hành vi hiểm độc, sẽ cứu và đưa tôi vào vương quốc của Người ở trên trời. Chúc tụng Người vinh hiển đến muôn thuở muôn đời. Amen” (2 Tm 4:18b). Ước gì mỗi chúng ta cũng có thể nói chắc như vậy!

Một “phong cách” đối nghịch khá phổ biến là khiêm nhường và kiêu ngạo. Kiêu ngạo hoặc cao ngạo là dạng “tin tưởng hão huyền”, là tự hào “chảnh”, là hội chứng ảo tưởng quá nặng, là tự đánh lừa mình.

Một hôm, Đức Giêsu kể dụ ngôn về một số người tự hào cho mình là công chính mà khinh chê người khác: Có hai người lên đền thờ cầu nguyện. Một người thuộc nhóm Pharisêu, còn người kia làm nghề thu thuế. Người Pharisêu đứng thẳng, nguyện thầm rằng: “Lạy Thiên Chúa, xin tạ ơn Chúa, vì con không như bao kẻ khác: tham lam, bất chính, ngoại tình, hoặc như tên thu thuế kia. Con ăn chay mỗi tuần hai lần, con dâng cho Chúa một phần mười thu nhập của con” (Lc 18:11-12). Quá “ngon lành”, thật là “đạo đức”, thật là “tốt lành”, thật là “thánh thiện” biết bao! Nhưng sự thật đâu phải thế, nói vậy mà không phải vậy. Họ vốn dĩ quen khoe khoang và ỷ quyền cậy thế, ra vẻ “ta đây”, hống hách với người đời, thế nên họ cũng dám “nổ” mà “khoe mẽ” với Chúa luôn. Gan cóc tía!

Còn người thu thuế biết thân biết phận, chỉ dám đứng đằng xa, thậm chí chẳng dám ngước mắt lên nhìn ai, nhưng vừa đấm ngực vừa thưa: “Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi” (Lc 18:13). Dễ thương hết sức! Chúa Giêsu khoái con-người-tội-nghiệp này lắm. Ngài nói rõ: “Tôi nói cho các ông biết: người này, khi trở xuống mà về nhà, thì đã được nên công chính rồi; còn người kia thì không. Vì phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên” (Lc 18:14).

Cầu nguyện là khoảng thời gian kết hiệp với Chúa, tâm sự với Chúa, cần phải có sự thánh thiện, thế mà người ta lại cả gan phạm tội ngay trong lúc cầu nguyện, vậy mà vẫn nhận mình là tốt lành. Thật là nguy hiểm!

Lạy Thiên Chúa, xin tạo cho chúng con một trái tim trong sạch để biết chắt lọc mà sống yêu thương và khiêm nhường. Xin cho chúng con biết Chúa và biết mình để không dám kiêu ngạo chút nào. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng cứu độ chúng con. Amen.

 

 

Bài 5. Cầu nguyện để được nên công chính
Lm. Đa-minh Trần Đình Nhi

 

Cầu nguyện là cách chúng ta biểu lộ đức tin vào Chúa. Cầu nguyện bằng đức tin kiên trì như trong dụ ngôn bà góa xin ông quan tòa bất chính minh xét cho mình. Hôm nay, Chúa Giê-su kể một dụ ngôn nữa để khai triển thêm đề tài cầu nguyện: mục đích khi chúng ta cầu nguyện là để được nên công chính. Dụ ngôn hai người lên đền thờ cầu nguyện cho thấy mục đích hoặc kết quả của việc cầu nguyện, qua lời khẳng định của Chúa Giê-su: “Tôi nói cho các ông biết: người này [người thu thuế] khi trở xuống mà về nhà, thì đã được nên công chính; còn người kia [ông Pha-ri-sêu] thì không”.

Sách Giáo lý dạy chúng ta về những mục đích của cầu nguyện là để ngợi khen Chúa, cảm tạ Người, xin ơn tha thứ tội lỗi và cầu xin Chúa ban ơn. Nhưng câu chuyện dụ ngôn hôm nay còn đặc biệt nhấn mạnh đến một khía cạnh khác của cầu nguyện, là giúp chúng ta được nên công chính. Hai cách cầu nguyện để được ơn nên công chính của ông Pha-ri-sêu và người thu thuế trái ngược nhau chắc chắn cho chúng ta dịp xét lại cách cầu nguyện của mình.

Trước hết nói về tư thế thể xác khi cầu nguyện. Ông Pha-ri-sêu đứng thẳng. Đứng thẳng quả thực là định nghĩa của sự công chính. Từ “công chính” trong tiếng La-tinh có nghĩa là quyền đứng thẳng (jus+stare; justificatio). Nếu vậy ông Pha-ri-sêu khi cầu nguyện với tư thế đứng thẳng thì ông đã tự cho mình là người công chính rồi! Vì cho mình là công chính, nên ông mới tự hào kể lể với Chúa về sự công chính của mình: nào tạ ơn Chúa vì mình không tội lỗi như những người khác, cụ thể “như tên thu thuế kia” đang đứng ở cuối đền thờ, nào mình ăn chay tuần hai lần và rộng rãi dâng tiền cho Chúa. Kể lể như thế, hoặc là ông muốn chứng minh sự công chính của mình, hoặc là “đòi” Chúa phải công nhận ông là công chính. Trái với cách kiêu căng đòi sự công chính như đòi quyền lợi, cách cầu nguyện “xin” ơn công chính của người thu thuế thật là khiêm tốn. Khiêm tốn trong cử chỉ khi cầu nguyện, là đứng đằng xa, cúi gằm mặt không dám nhìn lên trời, đấm ngực, và ông ta chỉ có thể nói với Chúa một điều duy nhất: “Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi”. Đúng vậy, tội lỗi đã làm cho con người còng xuống, đã cướp đi khỏi con người cái quyền đứng thẳng trước mặt Chúa. Người thu thuế đã cầu nguyện với con người đích thực của mình, cầu nguyện như một kẻ tội lỗi và với lòng sám hối đấm ngực ăn năn. Ông ta không biết cầu xin điều gì khác hơn là xin Chúa thương xót mình. Ông đến cầu nguyện để biểu lộ lòng tin vào lượng từ bi của Chúa. Nói tóm lại, ông đã nắm chắc được mục đích của việc cầu nguyện, là xin Chúa thương xót nhìn đến thân phận tội lỗi của ông.

Rõ ràng có sự đối nghịch giữa cách cầu nguyện của ông Pha-ri-sêu và của người thu thuế. Cách cầu nguyện tôn mình lên đã hạ ông Pha-ri-sêu xuống, ngược lại, cách cầu nguyện hạ mình xuống đã tôn người thu thuế lên. Một người đòi cho mình quyền đứng thẳng thì phải khom xuống, còn người cúi xuống không dám ngửa mặt lên nhìn Chúa thì được Người cho đứng thẳng lên. Đó chính là ý nghĩa của mục đích việc cầu nguyện vậy!

Sống sứ điệp Tin Mừng

Cầu nguyện với tư cách là kẻ tội lỗi có thể là điều ít khi nào chúng ta nghĩ tới. Ý thức mình là kẻ tội lỗi không làm cho chúng ta thất vọng chán nản mà không cầu nguyện nữa, trái lại càng là động lực thúc đẩy chúng ta tin tưởng vào lòng thương xót của Chúa. Thiên Chúa là người cha nhân hậu chờ đón chúng ta trở về và đến với Người. Cánh tay Người luôn rộng mở. Như người cha phục hồi cho đứa con hoang đàng mọi sự nó đã đánh mất do tội lỗi, Chúa cũng phục hồi tư cách con cái Chúa nơi chúng ta và ban cho chúng ta cơ hội mới để phát huy sự thân mật khắng khít với Người. Đức công chính là quyền được làm con cái Chúa, quyền Chúa Ki-tô đã chuộc lại cho chúng ta bằng cái chết của Người trên thập giá. Do đó khi cầu nguyện, chúng ta không quên tạ ơn Chúa đã cho chúng ta được gọi Người là Cha, nhất là Người đã ban Thánh Thần để giúp chúng ta thưa rằng: “Thưa cha, con thật đắc tội với Trời và với cha…” (Lu-ca 15:21). Rồi chúng ta sẽ được Người đỡ dậy!

 

 

Bài 6. CẦU NGUYỆN VÀ KHIÊM NHƯỜNG
Jos. Vinc. Ngọc Biển

 

Trong thư thứ nhất của thánh Phêrô, ngài đã khẳng định thật mạnh mẽ khi nói: “Thiên Chúa chống lại kẻ kiêu ngạo, nhưng ban ơn cho kẻ khiêm nhường” (1 Pr 5, 5). Thật vậy, kiêu ngạo là kẻ thù số một của Thiên Chúa, bởi vì nó là con đẻ của Ma Quỷ. Ngược lại, khiêm nhường là trở nên giống Con Thiên Chúa làm người.

Hôm nay khi nói về đức khiêm nhường, Đức Giêsu đã kể cho dân chúng và các Tông đồ nghe dụ ngôn người Biệt Phái và người Thu Thuế lên đền thờ cầu nguyện.

1. Hai hình ảnh và hai thái độ đối lập nhau khi cầu nguyện

Dụ ngôn được khởi đi từ việc Đức Giêsu nhận định về một tầng lớp trí thức trong dân tự hào cho mình là công chính mà khinh chê người khác (x. Lc 18, 9). Họ là những người Biệt Phái, luôn miệng khoe khoang mình là người người đạo đức, chuyên cần suy gẫm Lời Chúa, tuân giữ cách tỉ mỉ từng dấu chấm, dấu phết, rồi thông luật, nắm bắt được mọi vấn đề và, có lòng quảng đại vượt trội. Điều này được thể hiện rất rõ qua hình ảnh của người Biệt Phái hôm nay. Ông ta cùng lên cầu nguyện một trật với người Thu Thuế. Khi ông ta cầu nguyện, thay vì tạ ơn Thiên Chúa vì những ân huệ mà họ đã nhận được, thì họ lại kể lể, liệt kê thành tích của mình; đồng thời tố cáo anh em đồng loại. Nào là: “Lạy Thiên Chúa, xin tạ ơn Chúa, vì con không như bao kẻ khác: tham lam, bất chính, ngoại tình, hoặc như tên thu thuế kia. Con ăn chay mỗi tuần hai lần, con dâng cho Chúa một phần mười thu nhập của con” (Lc 18, 12). Quả thật, những thành tích đó, đã gắn liền với cái tôi ích kỷ của ông, nên cũng từ cái tôi đó mà ông trở nên rỗng tuếch. Đúng là: “cái thùng kêu to là cái thùng rỗng”. Ông đâu biết rằng mọi sự là của Chúa, nếu Chúa không ban cho ông thì ông đâu có của cải để mà làm như vậy… Sự khoe khoang của nhà Biệt Phái đã làm cho ông ta mất phần phúc Nước Trời. Trong Tin Mừng, Đức Giêsu cũng đã dạy: “Khi làm việc lành phúc đức, anh em phải coi chừng, chớ có phô trương cho thiên hạ thấy. Bằng không, anh em sẽ chẳng được Cha của anh em, Đấng ngự trên trời, ban thưởng” (Mt 6, 1). Sự khiên nhường của ông chính là một sự khiêm nhường giả tạo. “Khiêm nhường như vậy thì bằng bốn lần kiêu ngạo”.

Hình ảnh người Thu Thuế thì trái ngược hẳn. Ông ý thức mình là người tội lỗi trước mặt Chúa, nên ông chẳng có gì để khoe cả, ông chỉ có con người tội lỗi , tấm lòng thành và tâm tình sám hối của mình mà thôi. Vì vậy, ông Thu Thuế này đã hết lòng tin tưởng và cậy trông vào sự nhân từ của Thiên Chúa. Ông khiêm tốn không dám ngẩng đầu lên vì coi mình không xứng đáng tiến đến gần Chúa. Vì vậy, từ đàng xa, ông này đã thốt lên: Lạy Chúa, xin thương xót con là kẻ có tội”. Tấm chân thành của ông đã đụng tới trái tim, lòng trắc ẩn của Thiên Chúa, nên ông đã được Chúa thương nhận lời. Nói về sự khiêm nhường, Gióp đã phải thốt lên: “Chúa triệt hạ kẻ ăn nói kiêu căng và cứu vớt ai khiêm nhường cúi mặt” (G 22, 29). Người Thu Thuế hôm nay quả là một người khôn ngoan trước mặt Thiên Chúa. Ông đã nhận ra con người thật của mình để tự hào một cách khiêm tốn, và tự trọng đúng với giá trị của mình (x. Hc 10, 28).

Kết thúc dụ ngôn, Đức Giêsu đã kết luận bằng lời xá tội và tuyên án “Tôi nói cho các ông biết: người này, khi trở xuống mà về nhà, thì đã được nên công chính rồi; còn người kia thì không. Vì phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên” bởi vì “Chúa hạ bệ những ai quyền thế, Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường” (Lc 1, 52).

Hình ảnh và thái độ của người Thu Thuế hôm nay đáng để cho mỗi người chúng ta noi theo.

2. Sống Sứ Điệp Lời Chúa hôm nay

Muốn khiêm nhường thực sự, chúng ta phải sám hối thật lòng, phải nhìn lại quá khứ lịch sử cuộc đời chúng ta để thấy được Thiên Chúa là Đấng yêu thương, tha thứ, trung thành; còn chúng ta thì vô ơn, bội bạc, bất trung… Khi nhìn lại quá khứ của chúng ta như thế, và chúng ta đặt mình trước mặt Chúa để thấy Chúa lớn lao, thấy Chúa là Chúa Tể, ta chẳng có gì, mà nếu có thì cũng là do ơn Chúa. Vì thế, tâm tình sám hối và tạ ơn là dấu chỉ của kẻ khôn ngoan. Thậy vậy, muốn đón nhận được ơn Chúa, ta phải trở nên người bé nhỏ, đơn sơ và khiêm tốn.

Nói về đức khiêm nhường, hẳn chúng ta vẫn còn nhớ Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII. Khi ngài còn là Khâm sứ Toà Thánh kiêm Đại diện Tông Toà quản trị các giáo phận ở Bungari và Thổ. Lúc đó có một linh mục bất mãn với ngài, nên viết thư tố cáo ngài nhiều chuyện. Tuy nhiên, thay vì giận dữ, Đức Giáo Hoàng đã trân trọng kẹp thư đó vào trong cuốn Kinh Thánh, để hằng ngày suy gẫm, để sửa sai và để nhớ đến vị linh mục đó và cầu nguyện cho vị linh mục đã tố cáo và ngài coi là đại ân nhân của mình. Khi gặp lại vị linh mục đó ở Vaticăng, trong một buổi triều yết riêng, vị linh mục này rất sợ, vì biết những việc sai lỗi của mình, nhưng khi gặp, Đức Giáo Hoàng đã chủ động tiến lại, ôm trầm lấy vị linh mục đó và ôn tồn trong khiêm tốn, ngài nói: “Con đừng hoảng sợ, cha không bao giờ giận con đâu. Cha cám ơn con. Cha cũng là người, cũng yếu đuối, cha ngăn bức thơ con viết vào Kinh Thánh để hằng ngày đọc vào đó mà xét mình, hầu có thể dứt khoát với những khuyết điểm còn tồn tại hoặc xa tránh những lầm lỡ có thể xảy đến trong tương lai. Mỗi lần như thế cha lại nhớ đến con và cầu nguyện cho con” (x. Đường Hy Vọng).

Mong thay, mỗi chúng ta hãy có được tâm tình sám hối như người Thu Thuế và thái độ khiêm nhường như Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII. Được như thế, chúng ta sẽ gặp được bình an, hạnh phúc, và được trở nên giống Thiên Chúa. Thật vậy: Tất cả những ai đang vất vả và mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học cùng tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. Vì ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng” (Mt 11,29-30).

“Lạy Chúa, xin thương xót con là kẻ có tội” phải là lời cầu nguyện của chúng ta hằng ngày, mọi nơi, mọi lúc. Khi lời cầu nguyện đó được thốt lên thì cũng là lúc ta nhìn lại chính mình, để cần đến ơn tha thứ của Thiên Chúa nhiều hơn; yêu thương anh chị em và không bao giờ dám tố cáo lỗi lầm của người khác như người Biệt Phái khi xưa. Có lẽ nhiều lúc trong mắt chúng ta vẫn có cái xà thì làm sao trông rõ để lấy cái rác trong mắt anh chị em mình. Ý thức được điều đó, ta phải đấm ngực ăn năm vì đó là lỗi của ta chứ không đấm ngực người khác và bảo lỗi tại ông, tại bà, tại anh, tại chị chứ không phải tại tôi.

Lạy Chúa, xin cho con biết phó thác, tin tưởng vào tình thương của Thiên Chúa. Biết sám hối để nhận ra lỗi lầm của mình và khiêm nhường xin ơn tha thứ của Thiên Chúa; đồng thời biết yêu thương anh chị em mình thực lòng chứ không nhân danh đạo đức để tố cáo anh chị em chúng ta như người Biệt Phái khi xưa. Amen.

 

Bài 7. Chúa đón nhận lời cầu nguyện khiêm nhường của người nghèo khổ
Lm. Carôlô Hồ Bặc Xái

I. Dẫn vào Thánh lễ

Anh chị em thân mến,

Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu kể có hai người lên đền thờ cầu nguyện: Chúa không nhậm lời cầu nguyện của người biệt phái nhưng nhậm lời cầu nguyện của người thu thuế.

Hôm nay chúng ta cũng lên đền thờ cầu nguyện. Chúng ta đừng đến với Chúa với lòng tự phụ như người biệt phái, nhưng hãy đến với Ngài với tâm tình khiêm nhường thống hối như người thu thuế.

Trước hết, chúng ta hãy nhìn nhận tội lỗi mình và xin Chúa thứ tha.

II. Gợi ý sám hối

- Như người biệt phái, nhiều khi chúng ta tự hào về những việc lành mình làm được.

- Như người biệt phái, nhiều khi chúng ta tỏ ra khinh miệt những người yếu đuối lỡ sa phạm tội.

- Như người thu thuế, chúng ta hãy khiêm tốn nhìn nhận thân phận tội lỗi mình và xin Chúa thương xót.

III. Lời Chúa

1. Bài đọc I (Hc 35, 12-14. 16-18)

“Chúa nhậm lời kêu xin của kẻ nghèo hèn”. Đây là chủ đề chính của đoạn sách Huấn ca này và cũng là của toàn bộ Thánh Kinh: Trong Cựu Ước, Thiên Chúa luôn bênh vực những người nghèo hèn yếu đuối; trong Tân Ước, Chúa Giêsu tỏ ra yêu thương đặc biệt những người bị xã hội coi khinh.

2. Đáp ca (Tv 33)

Kêu gọi những người nghèo khổ hãy cậy trông vào Chúa vì Ngài sẽ nhậm lời họ cầu xin.

3. Tin Mừng (Lc 18, 9-14)

Hai người lên đền thờ cầu nguyện là hai hình ảnh minh họa cho hai thái độ sống:

- Người biệt phái: anh có rất nhiều lễ vật dâng lên Chúa nhưng thiếu tình yêu. Thứ nhất là anh không yêu người khác (“tôi không như các người khác, hay là như tên thu thuế kia”); thứ hai là anh cũng không yêu Chúa: anh giữ luật và làm nhiều việc lành chỉ để chứng tỏ cho Chúa biết anh là người đàng hoàng và do đó Chúa phải yêu thương anh, ban thưởng anh.

- Người thu thuế: anh chẳng có lễ vật gì dâng lên Chúa mà chỉ có tình yêu. Tình yêu của anh không nồng nàn thắm thiết mà chỉ là một tình yêu muộn màn của đứa con tội lỗi quay về với một tấm lòng tan nát, một trái tim đang kêu gọi tình thương xót của Chúa (“Lạy Chúa xin thương xót con là kẻ có tội”)

4. Bài đọc II (2 Tm 4, 6-8. 16-18) (Chủ đề phụ)

Những suy nghĩ và tâm tình của Phaolô khi đang ngồi tù và biết mình sắp chết:

- Nhìn lại cuộc sống đã qua, Phaolô an tâm vì thấy mình giống như một vận động viên đã kiên trì chạy hết đường đua và sắp về tới đích.

- Nghĩ tới những người đã làm khổ mình, Phaolô xin Chúa đừng chấp tội họ. Ông cũng cảm tạ Chúa đã ban sức mạnh cho ông vượt qua mọi gian khổ ấy.

- Nghĩ tới cái chết, Phaolô coi đó là một lễ tế dâng lên cho Chúa.

IV. Gợi ý giảng

* 1. Tội và thân phận tội lỗi

Công bình mà xét thì người biệt phái ít tội hơn người thu thuế.

Nhưng điểm đáng chú ý là người biệt phái lại nói về tội lỗi nhiều hơn người thu thuế: hắn đã kể ra những tội tham lam, bất chính, ngoại tình v. v. Tuy nhiên tất cả đều là… tội của người khác! Còn người thu thuế thì trái lại, tuy anh rất nhiều tội, nhưng anh lại không kể các tội đó ra. Điều duy nhất anh kể ra là “Con là kẻ tội lỗi. Lạy Chúa xin thương xót con”

Thực ra người biệt phái cũng có tội: tội tự mãn, tội kiêu căng, tội khinh miệt người khác… Nhưng hắn không ý thức các tội đó. Hắn không nhìn nhận mình là người tội lỗi. Hắn không biết thân phận tội lỗi của mình.

Chúa Giêsu phê phán người biệt phái vì: a/ Hắn chỉ nhìn thấy tội; b/ chỉ nhìn thấy tội của người khác; c/ hoàn toàn không thấy thân phận tội lỗi của mình; d/ hoàn toàn không thấy lòng thương xót của Chúa.

Chúa Giêsu đề cao người thu thuế vì: a/ Anh không những thấy tội mà còn thấy thân phận tội lỗi của mình; b/ Anh còn thấy được lòng thương xót của Chúa nữa.

Cả hai người trên đều có thể thành bài học cho chúng ta.

Trước hết, chúng ta cũng giống người biệt phái. Chúng ta rất ý thức về tội lỗi của người khác nhưng lại không ý thức về tội lỗi của chính mình. Chúng ta nói về tội của người khác nhiều hơn về tội của mình. Điều này thật nguy hiểm, vì nó ngăn cản không cho chúng ta nhìn thấy tội lỗi của mình.

Chúng ta cũng có thể học nơi người thu thuế. Anh dạy chúng ta can đảm xưng thú những tội lỗi của mình. Anh chỉ cho chúng ta thấy chúng ta là kẻ tội lỗi, kẻ mang thân phận tội lỗi.

Nhiều người đến tòa cáo giải với một bảng liệt kê các tội đã phạm. Hầu hết các tội trong bảng liệt kê ấy đều không khác nhau mấy từ lần xưng tội này đến lần xưng tội khác. Xưng xong rồi ra về và mọi sự đều trở lại y như cũ. Việc xưng tội không giúp chúng ta cải thiện con người bao nhiêu. Tại sao? Vì chúng ta quá chú ý đến các thứ tội mà không chú ý bao nhiêu đến thân phận tội lỗi của mình.

Tội không chỉ là những việc làm xấu, mà chủ yếu là tình trạng xấu ta đang sống. Vì thế điều cần thiết hơn không phải chỉ là xin Chúa tha tội cho mình, mà là xin Chúa thương xót cứu vớt mình khỏi tình trạng xấu ấy.

“Một người tội lỗi ý thức thân phận tội lỗi của mình còn tốt hơn một vị thánh ý thức mình là thánh” (Yiddish).

* 2. Một tấm lòng tan nát khiêm cung

Trong xã hội Do Thái, ai cũng coi những người thu thuế là những kẻ tội lỗi. Trong dụ ngôn này chính Chúa Giêsu cũng coi như thế, và chính người thu thuế cũng tự coi như thế.

Nhưng người thu thuế này đã lên đền thờ cầu nguyện, nghĩa là anh có thiện chí, anh muốn từ bỏ tội lỗi, anh muốn được tha.

Tuy nhiên khi xét lại quãng đời tội lỗi đã qua, anh biết rằng anh không thể nào được tha: theo luật, một người lỗi đức công bình nếu muốn được tha thì phải trả hết tiền, còn bồi thường thêm 1/5 nữa. Anh làm sao nhớ hết những kẻ mà anh làm hại, có nhớ cũng không có tiền để trả, huống chi lại thường thêm 1/5. . .

Lòng anh tan nát. Nhưng anh không tuyệt vọng: nếu theo luật, anh không thể được tha thì anh sẽ kêu xin đến lòng thương xót của Chúa. Thế là anh thốt lên: “Lạy Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi”.

Điểm đáng ta chú ý là anh thu thuế này đã trích những tiếng đầu của Thánh vịnh 50 (“Lạy Chúa xin xót thương con theo lòng nhân hậu Chúa”). Mà trong Thánh vịnh này cũng có câu “Chúa gần gũi những tấm lòng tan nát khiêm cung”. Thiên Chúa đúng là như thế. Người thu thuế đã kêu đến chính nơi phải kêu, chạm tới chính chỗ phải chạm. Vì vậy Chúa đã thương xót anh, tha thứ tất cả cho anh, như lời Chúa Giêsu nói: “Ta nói cho các ông biết: người này khi trở về thì đã nên công chính rồi”.

* 3. Lòng trí hướng về ai?

Người biệt phái và người thu thuế đều lên đền thờ và đều cầu nguyện. Nhưng lòng trí của mỗi người hướng đến những hướng khác nhau.

Lòng trí của người biệt phái hướng về ai?

- Trước hết là hướng về người khác: “Lạy Chúa, con không như bao kẻ khác, tham lam, bất chính, ngoại tình, hoặc như tên thu thuế kia”

- Đồng thời lúc đó cũng hướng về bản thân mình: “Con ăn chay mỗi tuần hai lần, con dâng cho Chúa một phần mười thu nhập của con”

- Nơi quan trọng nhất phải hướng về là Thiên Chúa thì hắn lại bỏ qua!

Còn lòng trí người thu thuế thì hướng thẳng về Thiên Chúa: “Lạy Thiên Chúa xin thương xót con là kẻ tội lỗi”.

Chúng ta dễ phạm lại sai lầm của người biệt phái: khi cầu nguyện, lòng trí chúng ta hướng về những nhu cầu ích kỷ của bản thân và than phiền về những điều khó chịu người khác gây cho mình.

Hãy học cầu nguyện như người thu thuế là hướng về Chúa. Có nghĩ về mình là để ý thức thân phận tội lỗi của mình để rồi càng hướng về Chúa nhiều hơn.

* 4. Ai là người công chính?

Ngày kia, Khổng tử dẫn học trò từ nước Lỗ sang nước Tề. Trong đám học trò có Nhan Hồi và Tử Lộ là hai môn sinh được Khổng Tử sủng ái nhất. Thời Đông Chu, loạn lạc khắp nơi khiến dân chúng lâm cảnh lầm than đói khổ. Thầy trò Khổng Tử cũng có nhiều ngày nhịn đói cầm hơi.

Ngày đầu tiên khi đến đất Tề, Khổng Tử và các môn sinh được một người giàu có biếu cho một ít gạo. Khổng Tử liền phân công: Tử Lộ và một số môn sinh khác vào rừng kiếm rau, còn Nhan Hồi đảm nhận việc nấu cơm.

Đang khi nằm đọc sách ở nhà trên, Khổng Tử bỗng nghe tiếng động ở nhà bếp, nhìn xuống, người bắt gặp Nhan hồi đang mở vung xới cơm cho vào tay nắm lại từng nắm nhỏ rồi từ từ đưa vào miệng. Thấy cảnh học trò đang ăn vụng, Khổng Tử nhìn lên trời than thở: “Người học trò tín cẩn nhất của ta lại là kẻ ăn vụng?” Khi Tử Lộ và các môn sinh khác trở về thì nồi cơm cũng vừa chín. Khổng Tử cho tập họp tất cả lại và nói:

- Bữa cơm đầu tiên này trên đất Tề làm cho thầy chạnh lòng nhớ đến quê hương. Thầy nhớ đến cha mẹ, cho nên muốn xới một bát cơm để cúng cha mẹ, các con nghĩ có nên không? Nhưng liệu nồi cơm này có sạch chăng?

Nhan Hồi liền chắp tay thưa:

- Dạ thưa Thầy, nồi cơm này không được sạch. Khi cơm vừa chín, con mở vung ra xem thử, chẳng may một cơn gió tràn vào, bồ hóng bụi trần rơi xuống làm bẩn cả nồi cơm, con đã nhanh tay đậy nồi cơm lại nhưng không kịp. Sau đó, con định xới lớp cơm bẩn vất di, nhưng nghĩ rằng cơm ít mà anh em lại đông, nên con đã ăn phần cơm ấy. Thưa Thầy, như vậy là hôm nay con đã ăn cơm rồi.

 

Nghe Nhan Hồi nói xong, Khổng Tử lại ngẩng mặt lên trời mà than rằng:
– Chao ôi! Thế ra trên đời này có những việc chính mắt mình trông thấy rành rành mà vẫn không hiểu được đúng sự thật. Suýt nữa Khổng Tử này đã trở thành kẻ hồ đồ!

 

*

Cho dù là bậc hiền triết như đức Khổng Tử thế mà suýt nữa đã trở thành kẻ hồ đồ, suýt nữa đã phê phán người học trò rất mực chân thật và khiêm tốn, sẵn sàng chịu thiệt về phần mình để được lợi cho anh em. Đó cũng là cám dỗ rất thường gặp nơi những người được xem là đạo đức thánh thiện, những người đã đắc thủ được một số nhân đức nào đó, đã làm được nhiều việc lớn lao, đã leo lên được chức vụ cao trong xã hội, đã đạt được một số thành tích trong đạo ngoài đời. Họ dễ tự mãn và khinh rẻ người khác lắm, nếu chẳng công khai thì cũng ngấm ngầm, lúc thì giấu được khi thì lộ ra. Chuyện ấy thường tình lắm nên Chúa Giêsu mới nhắc nhở chúng ta qua dụ ngôn: “Người Pharisêu công chính và người thu thuế tội lỗi”.

Người Pharisêu lên đền thờ cầu nguyện nhưng thực ra là để khoe khoang thành tích. Ông thưa chuyện với Chúa nhưng thực ra là ông đang độc thoại một mình. Ông “tạ ơn Chúa” nhưng thực ra là ông muốn Chúa hãy biết ơn ông.

Quả thật, bảng liệt kê công trạng của ông không có gì sai. Những điều luật cấm ông không dám làm, những điều luật buộc thì ông còn làm hơn mức qui định. Ông thật là con người đúng mực, một con người hoàn hảo, không có gì để chê trách, một tín đồ trung thành với lề luật, một mẫu gương tuyệt vời. Chỉ tiếc có một điều là ông quá tự mãn tự kiêu nên bao việc lành phúc đức của ông theo “cái tôi” bọt bèo của mình mà trôi ra sông ra biển hết. Cái tôi của ông quá to, đến nỗi ông chỉ nhìn thấy mình mà không thấy Chúa; công trạng của ông quá nhiều đến nỗi ông chỉ nhìn thấy nó là đức độ của ông chứ không phải là do ơn Chúa; cái tự mãn của ông quá lớn, cho nên ông thẳng thừng khinh miệt anh em.

Sai lầm trầm trọng của ông Pharisêu bắt đầu từ câu này: “Vì con không như bao kẻ khác: tham lam, bất chính, ngoại tình hoặc, như tên thu thuế kia” (Lc, 8, 11). Giá như ông đừng so sánh cuộc sống của ông với người khác, mà biết đem cuộc sống của mình đối chiếu với cuộc sống thánh thiện của Đức Kitô, thì ông sẽ nhận ra mình còn thiếu sót biết là bao nhiêu, mình còn bất toàn biết là dường nào. Chính khi đó, ông mới cần đến lòng nhân từ xót thương của Chúa, cần đến sự tha thứ và khoan dung của Người. Chính lúc đó, ông mới biết cầu nguyện bằng những lời lẽ chân thành và khiêm tốn của người thu thuế: “Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi” (Lc 18, 13).

Sai lầm căn bản của người Pharisêu còn ở chỗ ông đã không nhận ra sự công chính là một ân huệ Chúa ban (Pl 3, 9) chứ không phải tự ông mà có, tự ông tuân giữ hoàn hảo các lề luật được. Chính khi tự mãn thiếu khiêm tốn, và nhận sự công chính ấy là của riêng mình thì ngay lúc đó ông đã mất ơn nghĩa với Chúa và không còn công chính nữa.

Người thu thuế nhận mình lầm rỗi, ông biết rõ tội mình vô phương cứu chữa, chẳng dám ngước mắt nhìn lên, chỉ biết đấm ngực ăn năn và kêu xin lòng thương xót Chúa. Ông bất lực hoàn toàn, chỉ phó thác cho lòng Chúa khoan dung. Ngay lúc đó, ông đã trở nên công chính bên trong. Chính tâm tình ấy mà Chúa đã nhìn xuống và làm cho ông nên công chính.

Như thế, những kẻ cho mình là thánh thiện, là đầy đủ, thì sẽ trở về con số không; còn những kẻ nhận mình là không thì sẽ đủ chỗ cho Đấng Vô Cùng. Vì phàm “Ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống, còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên” (Lc 18, 14).

*

Lạy Chúa, chúng con có là gì mà chẳng do lòng Chúa thương ban. Xin cho chúng con biết khiêm tốn nhận mình thiếu sót lỗi lầm, để được Chúa xót thương tha thứ.

Xin cho cuộc sống chúng con luôn biết rập theo khuôn mẫu thánh thiện của Đức Ki tô là Đấng Công Chính tuyệt đối. Amen. (TP)

5. Mảnh suy tư

Nếu người biệt phái có quyền thì chắc hẳn hắn đã không cho người thu thuế vào đền thờ.

Nhiều người trong chúng ta cũng nghĩ rằng những kẻ tội lỗi không được đến nhà thờ: tội lỗi mà đến nhà thờ làm chi? Chỉ là giả hình! Nhà thờ là nơi dành cho những người đạo đức thánh thiện.

Nếu như thế thì nhà thờ sẽ rất nhỏ hẹp.

Tưởng tượng xem một tiệm sửa giày mà chỉ nhận những đôi giày còn tốt thì có còn là tiệm sửa giày không! Một bệnh viện mà chỉ nhận những người khoẻ mạnh thì có còn là bệnh viện không!

Chúng ta đến nhà thờ không phải vì chúng ta xứng đáng mà vì chúng ta cần. Chúng ta cần được lòng thương xót Chúa chữa trị, và chúng ta cũng cần sự nâng đỡ của anh chị em trong cộng đoàn. (FM)

V. Lời nguyện cho mọi người

Chủ tế: Anh chị em thân mến, trước mặt Thiên Chúa là Đấng vô cùng thánh thiện, tất cả chúng ta đều là kẻ có tội, cần đến lòng thương xót và sự tha thứ của Chúa. Tin tưởng vào lòng từ bi của Chúa, chúng ta cùng dâng lời cầu xin:

1. Hội thánh luôn mời gọi con cái mình tin tưởng vào tình thương tha thứ của Chúa / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho mọi thành viên trong đại gia đình Hội thánh / biết đặt trọn niềm tin tưởng vào Chúa là Đấng hay thương xót và thứ tha.

2. Hiện nay / nạn kỳ thị chủng tộc / khinh dể những sắc tộc yếu kém hơn mình / thanh lọc sắc tộc bằng các cuộc chiến tranh diệt chủng / vẫn còn diễn ra ở nhiều nơi trên thế giới / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho đức bác ái của Chúa Kitô / thấm nhập và tác động đến mọi sinh hoạt trần thế / để mọi người biết yêu thương và tôn trọng nhau hơn.

3. Tự cho mình là thánh thiện và coi thường người khác / là thái độ kiêu căng đáng ghét / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho các tín hữu / biết ý thức thân phận tội lỗi của mình / để đừng bao giờ kết án hay khinh khi anh chị em của mình.

4. Cầu nguyện trong khiêm tốn là điều mà mỗi Kitô hữu cần ghi lòng tạc dạ / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho cộng đoàn giáo xứ chúng ta / biết thân thưa cùng Chúa / Lạy Chúa, xin thương xót chúng con là kẻ tội lỗi.

Chủ tế: Lạy Chúa, Chúa thương người khiêm tốn và ghét kẻ kiêu căng. Xin Chúa cho tất cả chúng con biết noi gương Chúa Giêsu, Con Chúa là Đấng có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Người hằng sống và hiển trị muôn đời.

VI. Trong Thánh Lễ

- Trước kinh Lạy Cha: Tất cả chúng ta đều có tội. Hơn nữa tất cả chúng ta đều mang thân phận yếu đuối tội lỗi. Chúng ta hãy xin Chúa là Cha tha tội cho chúng ta và hãy hứa với Ngài là chúng ta cũng tha thứ cho anh em chúng ta.

VII. Giải tán

Là những kẻ tội lỗi đã được Chúa thương xót thứ tha, anh chị em hãy ra về và làm chứng cho mọi người biết lòng thương xót Chúa.

 

Bài 8. HẠ MÌNH
Lm. Giuse Trần Việt Hùng

Ông Kitagaki, thống đốc bang Kyoto, đến viếng đền Tofuku để thăm Keichu, vị sư trưởng của đền này. Đệ tử Keichi vào báo: Kitagaki, thống đốc muốn diện kiến thầy. Sư trưởng trả lời: Ta không biết thống đốc nào cả. Đệ tử chạy ra nói với Kitagaki: Thầy tôi yêu cầu ngài lui gót, vì không quen biết thống đốc nào cả. Kitagaki hiểu ra: Nếu vậy, hãy báo với thầy của anh là có Kitagaka muốn diện kiến. Đệ tử nói: Để tôi báo lại với thầy lần nữa. Lần này sư trưởng ra đón tận nơi. Ồ, Kitagaki đấy à. Xin mời vào trong nhà.

Thiên Chúa đứng về phía những kẻ có lòng khiêm nhu, người cùng khổ và kẻ thấp cổ bé miệng. Chúa hạ bệ những kẻ kiêu căng và nâng dậy những ai khiêm hạ. Chúa lắng nghe lời cầu của những kẻ có tâm hồn khiêm cung và chân thành. Sách Huấn Ca đã khuyên dạy: Chúa không vì nể kẻ nghịch với người nghèo khó và Người nhậm lời kẻ bị áp bức kêu cầu (Hc 35, 13). Trước mặt Thiên Chúa, con người mang thân phận mọn hèn, yếu đuối và bất toàn. Tất cả những gì tốt lành của con người sở hữu được đều do Thiên Chúa thương ban. Thiên Chúa trao cho con người có quyền làm chủ muôn loài và muôn vật trên mặt đất. Nhưng con người vẫn mang thân phận bọt bèo và bàn chân luôn bám chặt xuống mặt đất. Giờ đây, chúng ta dùng đôi phút để suy cho sâu, nghĩ cho kỹ và học hỏi cho thấu đáo về sứ mệnh của con người.

Chúng ta phải chấp nhận rằng sự hiểu biết của chúng ta về thế giới chung quanh còn quá thiển cận, hời hợt và nông cạn. Tâm trí và sự học biết của chúng ta bị giới hạn trong tất cả mọi lãnh vực cuộc sống. Chúng ta chỉ thông giỏi quanh quẩn trong vấn đề công ăn việc làm hằng ngày. Chúng ta dễ bị cám dỗ nhảy qua các lãnh vực chuyên môn khác để chỉ trích phê bình và kết án. Chúa Giêsu kể câu truyện của hai người lên đền thờ cầu nguyện, người biệt phái và người thu thuế. Nghe kìa người biệt phái vỗ ngực: Người biệt phái đứng thẳng, cầu nguyện rằng: ‘Lạy Chúa, tôi cảm tạ Chúa vì tôi không như các người khác: tham lam, bất công, ngoại tình, hay là như tên thu thuế kia (Lc 18, 11). Thái độ của ông biệt phái là tự khoe và tự kiêu. Ông chưa nhận biết sự yếu đuối lỗi lầm của mình, mà đã đi xét đoán người khác. Chúng ta thường hay rơi vào thái độ giống như thế khi chê bai, xét đoán hay suy bụng ta ra bụng người.

Trong cuộc sống, nhiều khi chúng ta đánh giá người khác theo sự xuất hiện bên ngoài qua chức tước, danh tánh, địa vị, bằng cấp, học vị hoặc qua cách ăn mặc, dáng vẻ… tất cả mọi chức vị chỉ là cái danh tạm của đời này. Chức vụ và địa vị có khuynh hướng làm gia tăng cái tôi của người ta. Cái diện mạo hào nhoáng bên ngoài không phải là cái nhân tâm thật trong hồn. Thiên Chúa nhìn thấu tỏ tâm can từng người. Hiện diện trước mặt Thiên Chúa, chúng ta chỉ là con người trần trụi. Chúa chẳng xét đoán chúng ta qua chức vụ nhưng qua việc phục vụ. Chúng ta cần nhận diện rõ con người tội lỗi, thiếu xót và yếu đuối của mình. Người thu thuế đấm ngực cầu xin: Người thu thuế đứng xa xa, không dám ngước mắt lên trời, đấm ngực và nguyện rằng: ‘Lạy Chúa, xin thương xót con là kẻ có tội’ (Lc 18, 13). Đôi khi chúng ta cũng giống như người thu thuế tội lỗi có đầy khiếm khuyết nhưng lại hay đi bới móc, bắt bẻ và xét đoán người khác.

Chúng ta cần có tâm hồn khiêm tốn và phó thác. Thiên Chúa thấu tỏ tâm hồn mỗi người. Cầu nguyện không phải là khoe khoang kể lể truyện người, mà là dâng Chúa tâm tình ngợi khen, tạ ơn, đền ơn và xin ơn tha thứ lỗi lầm. Chúa tha thứ cho những tâm hồn biết khiêm nhượng sám hối ăn năn. Ta bảo các ngươi: người này ra về được khỏi tội, còn người kia thì không. Vì tất cả những ai tự nâng mình lên, sẽ bị hạ xuống, và ai hạ mình xuống, sẽ được nâng lên” (Lc 18, 14). Trong bất cứ hoàn cảnh nào, thái độ khiêm hạ sẽ thắng vượt tất cả mọi khó khăn trên đường. Người vỗ ngực xưng mình sẽ bị hạ xuống. Người biết đấm ngực ăn năn sẽ được ơn tha thứ. Người biết hạ mình là người cao trọng và đáng kính nể. Chúa thương yêu những tâm hồn đơn sơ, bé nhỏ và khiêm nhường.

Mỗi con người được vào đời với một số vố liếng riêng về khả năng, thời gian và của cải. Mỗi cá nhân góp một phần rất nhỏ trong việc tìm tòi và khám phá ra những kho tàng đã được ẩn dấu trong vũ trụ và đời sống con người. Không có ai sở hữu sự khôn ngoan hiểu biết toàn diện. Mỗi người được học hỏi nghiên cứu một phần rất nhỏ trong tất cả kho tàng hiểu biết của nhân loại. Trải qua bao đời, nhân loại kết thành một đại gia đình chung sống và truyền đạt khả năng nối tiếp. Xã hội con người đã thu góp được một gia tài tri thức vĩ đại về mọi môn ngành và lưu truyền sự hiểu biết cho các thế hệ. Đây là một gia tài chung cho cả nhân loại mọi nơi và mọi thời.

Suy tư để chúng ta khiêm nhường nhận diện ra sự hiểu biết nhỏ nhoi của chính mình. Hiện nay trên thế giới có trên 7 tỷ người. Mỗi người là một thế giới riêng tư được phú bẩm nhiều khả năng. Trong khi mỗi người chúng ta chỉ học biết được một chút xíu trong muôn sự ở đời. Khả năng của mỗi chúng ta chỉ giới hạn trong một vài vấn đề chuyên môn. Chúng ta phải chấp nhận rằng tất cả đều có giới hạn: Về khả năng, ngôn ngữ và sự hiểu biết. Thí dụ: Trong các thư viện có cả triệu triệu cuốn sách nghiên cứu, hỏi rằng chúng ta đã đọc được mấy cuốn? Có cả ngàn môn học chuyên môn, chúng ta học biết được mấy môn? Có hàng ngàn các ngành nghề, ta biết được mấy nghề? Chúng ta cần học hỏi mỗi ngày vì kho tàng sự hiểu biết thì vô tận. Tốt nhất mỗi người hãy chu toàn sứ vụ riêng của mình. Không nên dây dưa xét đoán và kết án những truyện mà chúng ta chưa biết hoặc chẳng biết đầu đuôi.

Mở mắt thức dậy, một ngày mới có cả triệu tờ báo phát hành, ngàn đài truyền hình, phát thanh và có muôn vàn tin tức trên mạng khắp trên thế giới. Chúng ta đọc, nghe, xem và hiểu được bao nhiêu thông tin? Thật là qúa ít ỏi! Khi chúng ta đọc, nghe một bài báo hay một bài bình luận, chúng ta chẳng quen biết tác giả là ai hay họ thuộc phe phái nào và có định hướng gì. Tác giả viết bài báo đó đã biết được bao nhiêu phần trăm sự thật. Biết rằng mỗi nhà báo cũng chỉ nhìn được một vài khía cạnh khác nhau của vấn đề. Khi đọc báo, chúng ta cũng cần phải cẩn thận chọn lựa, suy xét và nhận định cho rõ, kẻo lại bị dẫn vào sự sai lạc. Vì tác giả nào cũng muốn đánh bóng bài viết của mình theo chủ trương của chủ tòa soạn. Nếu may mắn, chúng ta có thể lướt mạng hay đọc qua một hai tờ báo và biết vài thông tin, như thế tưởng rằng mình đã biết đủ những gì xảy ra trên thế giới. Thật ra sự hiểu biết của chúng ta là chỉ như một hạt cát trong sa mạc. Vậy mà đôi khi chúng ta huênh hoang tự kiêu, tự đắc và khoe khoang hiểu biết rộng rãi hơn người.

Thánh Phaolô bỏ lại sau lưng tất cả những danh dự hào nhoáng của kẻ có quyền nạt nộ và bách hại các Kitô hữu. Khi được ơn đổi đời, Ngài đã khôn ngoan chọn một con đường, con đường chính thật làm chứng nhân cho Chúa Kitô phục sinh. Ngài đã phấn đấu không ngừng cho đến giây phút cuối của cuộc đời: Cha đã chiến đấu trong trận chiến chính nghĩa, đã chạy đến cùng đường và đã giữ vững đức tin (2Tm 4, 7). Phaolô chờ đón một phần thưởng đời đời là triều thiên không hề hư nát, một đia vị không thay đổi và sự sống mãi muôn đời bên Đấng ban sự sống: Từ đây triều thiên công chính đã dành cho cha: Và trong ngày đó, Chúa là Đấng phán xét chí công sẽ trao lại cho cha mũ triều thiên ấy; nhưng không phải cho cha mà thôi, mà còn cho những kẻ yêu mến trông đợi Người xuất hiện (2Tm 4, 8).

Lạy Chúa, chúng con yếu đuối, đầy tính hư, tật xấu và tội lỗi. Chúng con chỉ biết đấm ngực ăn năn, xin Chúa thương tha thứ. Lạy Chúa, xin thương xót chúng con.

 

Bài 9. MÓN QUÀ THIÊN CHÚA QUÝ NHẤT
Cha Mark Link, S.J.

Chủ đề: “Sự ăn năn hối lỗi không chỉ đau buồn muốn chừa bỏ hành động xấu xa, nhưng còn ao ước thay đổi được những sai trái đã phạm.”

Có một câu chuyện cổ được phổ biến trong dân gian từ thời trung cổ. Câu chuyện về một phụ nữ từ trần khi còn trẻ và ra trước tòa phán xét. Cuộc đời bà khi ở trần thế thật bê bối.

Khi đến cổng thiên đường, bà được bảo là chỉ được vào thiên đường với một điều kiện. Đó là bà phải trở lại trần thế và đem về một món quà mà Thiên Chúa coi là giá trị nhất.

Người phụ nữ trẻ trở về trần thế và suy nghĩ về món quà mà Thiên Chúa quý giá nhất.

Ngày kia bà thấy một thanh niên vừa chết vì đức tin. Bà nghĩ, “A phải rồi, chắc đây là món quà Thiên Chúa quý nhất: đó là máu của một người chết vì đức tin.”

Bởi thế bà hứng lấy một giọt máu của người thanh niên và đem về thiên đường. Nhưng khi trình diện máu ấy, bà được bảo là còn có món quà mà Thiên Chúa quý hơn máu người tử đạo.

Do đó bà trở về trần thế và suy nghĩ về món quà mà Thiên Chúa còn quý hơn máu của người chết vì đức tin.

Sau đó bà gặp một nhà truyền giáo già nua rao giảng lời Chúa cho người nghèo. “A, đúng rồi!” bà nghĩ “đây là món quà Thiên Chúa quý nhất: đó là mồ hôi từ trán của người dành trọn cuộc đời để rao giảng tin mừng cho người nghèo.”

Nhưng khi bà trình diện món quà ấy, bà lại được bảo là còn có món quà mà Thiên Chúa quý hơn giọt mồ hôi của nhà truyền giáo.

Do đó bà lại trở về trần gian và suy nghĩ về món quà mà Thiên Chúa quý hơn giọt mồ hôi của người dành trọn cuộc đời để dạy bảo dân chúng về Chúa Giêsu.

Và cứ như thế bà trở lại thiên đường với các món quà quý giá. Nhưng lần nào bà cũng được bảo là còn có món quà mà Thiên Chúa quý nhất.

Sau cùng, một ngày kia, khi sắp sửa bỏ cuộc vì chán nản thì bà gặp một đứa trẻ đang nô đùa gần bồn phun nước. Khuôn mặt của nó thật xinh xắn và ngây thơ.

Ngay lúc đó, một người cưỡi ngựa đi đến. Ông ta xuống ngựa để đến uống nước ở bồn. Khi nhìn thấy đứa trẻ, ông nhớ lại thời thơ ấu thật hồn nhiên ngây thơ của ông.

Sau đó ông nhìn vào hồ nước và thấy khuôn mặt của ông được phản chiếu trong đó. Nó thật xấu xa và cằn cỗi. Khi ông sững sờ nhìn vào khuôn mặt mình trong nước, bỗng dưng ông nhận thấy ông đã sai lầm phí phạm một cuộc đời mà Chúa đã ban cho ông.

Lúc đó giọt nước mắt thống hối dâng trào trên mắt và lăn dài trên gò má nhăn nheo rồi rơi xuống hồ nước.

Người phụ nữ vội hứng lấy giọt nước mắt ấy và đưa về thiên đường. Khi bà trình diện món qùa ấy, các thiên thần và các thánh đều vui mừng. Thật vậy, đây là món quà mà Thiên Chúa quý hơn tất cả món quà khác: đó là giọt nước mắt của người tội lỗi thống hối.

Câu chuyện này thật thích hợp với bài Phúc Âm hôm nay. Vì lời cầu nguyện mà Thiên Chúa coi có giá trị nhất là lời cầu nguyện của người tội lỗi thống hối.

Trong Phúc Âm, Chúa Giêsu còn nói:

thiên đường sẽ vui hơn khi một người tội lỗi ăn năn sám hối hơn là chín mươi chín người công chính không cần sám hối ăn năn.” (Luca 15:7)

Hối lối được định nghĩa là đau buồn đến độ chấm dứt những hành động sái quấy.

Nhưng hối lối còn hơn thế nữa. Nó không chỉ đau buồn đủ để chấm dứt những hành động sái quấy nhưng còn đau buồn đến độ ước muốn sửa sai những lầm lỗi mà chúng ta đã phạm trong quá khứ.

Một câu chuyện sau của ông James Colaianni giúp chúng ta thấy rõ điều này.

Một đứa bé đến thăm bà nội. Bà hỏi nó thích ăn gì nhất. Nó trả lời, “bánh bột chiên.” Sau đó nó cho biết thêm là khi ở nhà nó chỉ được ăn có ba cái mà thôi. Rồi nó hỏi, “Vậy con ăn thiệt nhiều được không nội?”

Bà nội gật đầu, “được.”

Sau khi đứa bé ăn gần mười cái bánh bột chiên, bà nhận ra sự khó chịu trên khuôn mặt của nó. Bà hỏi, “Sao vậy? Con không muốn ăn thêm nữa sao!”

“Không,” đứa bé trả lời, “Con không muốn ăn nữa. Cả mấy cái ăn rồi con cũng muốn ói ra!”

Đó là một tâm trạng tốt–khó chịu nhưng tốt. Lý do nó tốt là vì đó là tâm trạng hối lỗi.

Hối lỗi không chỉ đau buồn đến độ muốn từ bỏ, nhưng còn là đau buồn đến độ ước muốn đừng thi hành những gì mà chúng ta đã làm.

Đây là loại thống hối mà câu chuyện cổ muốn đề cập đến. Đây là loại thống hối mà Chúa Giêsu đề cập đến trong Phúc Âm hôm nay.

Nhiều năm trước đây, có một vở kịch trình diễn ở Broadway về một thanh niên bỏ học, đi bụi đời và rơi vào đường cần sa ma tuý.

Trong một cảnh không thể quên được của vở kịch, người thanh niên này nhìn lên trời và đau đớn vì tuyệt vọng, anh thốt lên:

“Tôi ao ước chừng nào, phải chi cuộc đời tôi là một cuốn sách để tôi có thể xé bỏ những trang giấy đầy những sai lầm vấp phạm.”

Cám ơn Chúa Giêsu, cuộc đời thì giống như một cuốn sách. Và cám ơn Chúa Giêsu, chúng ta có thể xé bỏ những trang giấy mà chúng ta đã sai lầm.

Trong tình yêu của Người, Chúa Giêsu đã ban cho chúng ta bí tích Hòa Giải. Qua bí tích này, chúng ta có thể xé bỏ những phần của cuộc đời mà chúng ta đã sai lầm lỗi phạm.

Đây là ý nghĩa của bài Phúc Âm hôm nay. Đây là tin mừng mà chúng ta cử hành trong Thánh Lễ hôm nay.

Đó là tin mừng vì món quà mà Thiên Chúa quý giá nhất là giọt nước mắt của người tội lỗi thống hối.

 

Bài 10. Suy niệm của Lm Phao lô Nguyễn Văn Đông

Sau khi đã nói về bổn phận tạ ơn và trung thành, tin mừng dạy chúng ta biết đâu là tư thế của tâm hồn cầu nguyện thực sự. Đề cầu nguyện, chúng ta phải có một tâm hồn nghèo khó, ý thức sự yếu hèn của mình và chờ đợi mọi sự từ ân sủng của Thiên Chúa.

Si 35,12-14.16-18

Theo truyền thống rao giảng của các tiên tri, một nhà Khôn ngoan thế kỉ thứ hai trước Công Nguyên cảnh giác chống lại ảo tưởng của người tưởng rằng mình đạo đức vì đã dâng các hi tế. Hi lễ đích thực chính là sự trở về của tâm hồn. Nó đòi phải mở rộng tiếp nhận người khác và khiêm tốn chờ đợi ơn ban của Thiên Chúa.

Thánh vịnh 33

Thiên Chúa gần gũi những tâm hồn tan nát. Người giải thoát người công chính bị thử thách nhưng đặt trọn niềm trông cậy vào Người. Bằng mọi cách, Kinh Thánh không ngừng xác quyết rằng Thiên Chúa chấp nhận lời cầu nguyện của những ai trong cơn khốn khó.

Thư 2 Tm 4,6-8.16-18

Vào cuối đời, thánh Phao lô làm một tổng kết. Nhớ đến những khó khăn đã qua, ngài chúc vinh Chúa và khẳng định rằng tất cả là ÂN SỦNG. Giờ đây, điều ngài trông chờ là chính phần thưởng, quà tặng của Thiên Chúa Tối cao, với xác tín rằng cuối cùng ngài sẽ được thương xót và cứu độ.

Tin mừng Lc 18,9-14

NGỮ CẢNH

Phân đọan mới liên kết một dụ ngôn dành cho những người tưởng rằng mình là người công chính (18,9-14; của riêng của Lc) và một giáo huấn dành cho các môn đệ (18,15-17). Cả hai được nối kết bằng một chủ đề giống nhau: khiêm nhu trong tương quan với Thiên Chúa và tha nhân.

Bản văn gắn liền với phần đi trước (18,1-8) bằng chủ đề cầu nguyện (18,1.10), và cùng với đức tin làm nền tảng như là điều kiện để được Thiên Chúa công chính hóa (18, 8.14: “Ta bảo các ngươi”)

TÌM HIỂU

Dụ ngôn: giống kiểu nhập đề ở câu 18,1. Như các dụ ngôn khác (12,16-21;16,1-8), dụ ngôn nầy đề ra một thí dụ nói đến những thái độ phải bắt chước hay phải tránh.

Một số người: Ai đây? Lu ca không nói rõ, nhưng những người nầy giống với những người Pha ri sêu đã gặp ở đoạn 7,36-50; 15,2;16,15.

Công chính: x. 16,15. Chủ đề về sự tự cho mình là công chính của con người đối lập với sự công chính đích thực phát xuất từ Thiên Chúa đã xuất hiện trong các thư Phao lô (Rm 10,3; Gl 2,16). Hai khía cạnh: tự cho mình đầy đủ trước mặt Thiên Chúa và khinh dể kẻ khác không tách rời nhau và phát sinh từ một trạng thái nội tâm.

Pha ri sêu – thu thuế: hai hạng người nầy không khác biệt xét theo giai cấp xã hội hoặc tài sản. Lu ca đã nói rằng người Pha ri sêu thích tiền bạc (16,14) và chúng ta biết rằng người thu thuế thường làm giàu bằng nghề của mình (x. Lê vi 5,39; và ông Gia kêu: 19,2). Tự thân, người Pha ri sêu gần với Thiên Chúa hơn vì tuân giữ lề luật, còn người thu thuế làm việc dưới sự chỉ huy của giới cai trị; đó là tội theo lề luật. Trong thực tế, theo ý kiến chung, thì người Pha ri sêu được xếp vào lọai công chính và thu thuế vào lọai tội nhân.

Người Pha ri sêu: lời cầu nguyện của người Pha ri sêu dưới dạng tạ ơn, không khác gì một lời nói tự cao tự đắc về chính mình. Ông ta hài lòng về chính mình và kể ra những công nghiệp mình đã đạt được. Ông đứng riêng ra để cầu nguyện; đó là điều phù hợp với lí tưởng của ông ta (pha ri sêu có nghĩa là tách biệt ra). Lời cầu nguyện của ông ta phân cách, tách biệt khỏi cộng đòan; trái lại lời cầu nguyện mà Chúa Giê su dạy tìm cách hòa giải, liên kết (11,2-4).

Người thu thuế: ông ta đến đền thờ không mang theo công nghiệp nào cả ngòai tội lỗi của mình. Ông đặt mình trước mặt Thiên Chúa với tâm hồn sám hối (x.5,8;7,36-38; 15,19; 19,8; 23,41-42). Ông khẩn cầu ơn tha thứ, tin vào một Thiên Chúa cứu độ, sẽ đổ tràn ơn phúc của Người xuống nơi có nhiều tội lỗi (Rm 5,20).

Được nên công chính: động từ nầy ở thể bị động và ở quá khứ có nghĩa là Thiên Chúa đã công chính hóa người thu thuế và đã cho thầy lòng thương xót của Người. Đó là chìa khóa của dụ ngôn.

Ai tôn mình lên: x. 14,11 (Êd 21,31). Sự đảo ngược tình thế nầy không phải là một sự thay đổi thất thường, hay là một cách trả thù của Thiên Chúa. Nhưng nó vạch rõ chân lí: người tự tôn thì luôn ảo tưởng về chính mình; trái lại, ai hạ mình xuống thì cảm nhận được sự nghèo hèn của mình và dám tin rằng Thiên Chúa có thể và muốn nâng mình lên (x. thánh ca của Đức Maria: 1,36-38.51-53).

SỨ ĐIỆP

Các bài đọc chủ nhật hôm nay muốn gửi đến chúng ta một sứ điệp về lời cầu nguyện. Và để hiểu rõ hơn, cần phải nối kết từ “cầu nguyện” với từ “bất an”. Người ta chỉ thực sự cầu nguyện khi ý thức được sự bất an và yếu đuối của mình.

Tòan bộ Kinh Thánh làm chứng điều đó: chính khi ở giữa những thử thách và yếu đuối mà dân Israel đã khám phá ra tình yêu say mê mà Thiên Chúa dành cho họ. Việc Thiên Chúa gần gũi những người đau khổ là một trong khám phá quan trọng của Cựu Ước. Đó là tin mừng mà chúng ta được mời gọi tiếp nhận mỗi ngày.

Có nhiều lọai bất an trong các bài đọc hôm nay. Chúng ta thấy có sự bất an của bà góa và đứa trẻ mồ côi, cả hai hoàn toàn không có sự trợ giúp nào. Tin mừng nói với chúng ta về sự bất an trong tâm hồn của người thu thuế. Thánh Phao lô cũng cho chúng ta thấy sự bất an của vị tông đồ phải thường xuyên đối đầu với bách hại hoặc ít nhất cũng là sự không hiểu biết của người khác. Tất cả những người đó mang tâm hồn nặng trĩu. Bấy giờ họ mới thực sự mở rộng tâm hồn mình với Thiên Chúa. Đó chính là bước đầu dẫn đến lời cầu nguyện đích thực.

Trong bài Tin mừng, chúng ta nghe lời cầu nguyện của người thu thuế. Đó là một người thuộc tầng lớp bị người đời căm ghét. Họ là “bọn người tiếp tay cho đế quốc La mã”. Họ phục vụ cho đế quốc thống trị trong một môi trường rất nhạy cảm là thu thuế. Những người lãnh đạo ấn định số tiền mà họ phải nộp. Họ phải ứng trước cho cấp trên rồi sau đó bóc lột của dân nghèo. Vì thế khi anh chàng thu thuế cầu nguyện: “Lạy Chúa, xin thương xót con là người tội lỗi”, ông bộc lộ đúng sự thật của đời mình. Và chính vì cái sự thật đó mà Thiên Chúa đã nâng ông lên. “Khi trở về nhà, ông là người được công chính hóa”. Đó chính là điều mà Tin Mừng mời gọi chúng ta hôm nay. Thành tâm nhận ra sự yếu kém của mình trước mặt Chúa đó là lời cầu nguyện đích thực được Thiên Chúa yêu thích.

Ở phía bên kia, Chúa Giê su cho chúng ta thấy chân dung của người Pha ri sêu. Đó là một người có một lối sống hoàn toàn đúng với những gì người ta đồn thổi về họ. Ông trung thành với lề luật; ông ăn chay mỗi tuần hai lần. Ông làm việc bố thí. Tất cả những gì ông ta nói trong lời cầu nguyện, ông đã thực sự thi hành và ông hãnh diện về điều đó. Nhưng có một vấn đề nơi ông, đó là lời ông nói không thực sự là một lời cầu nguyện vì chứa đầy sự kiêu căng. Ông chỉ nhìn ngắm chính bản thân thay vì nhìn ngắm Thiên Chúa. Ông không cần gì cả, vì điều duy nhất mà ông quan tâm ấy là kể lể các công nghiệp của mình.

Còn chúng ta thì sao? Chúng ta đứng về phía nào? Có lúc chúng ta là người Pha ri sêu mỗi khi chúng ta làm điều mà chúng ta thường chê trách người khác. Chỉ trích mà không bao giờ đề ra những giải quyết xây dựng thực tiễn thì luôn dễ. Người Pha ri sêu là người cho rằng mình được Thánh Thần soi sáng hơn người khác, nhưng điều trầm trọng hơn là sử dụng các câu Kinh thánh để tố cáo sự giả hình của kẻ khác. Thái độ ấy là một sỉ nhục Thiên Chúa và tình yêu của Người. Tất cả chúng ta đều phải cầu xin Ngài tha thứ sự kiêu căng cũng như thái độ tự phụ của chúng ta, cách chúng ta muốn dạy người khác bằng cách làm nhục họ.

Lời kinh của người thu thuế là lời kinh của người tự nhận mình là người tội lỗi. Anh ta ý thức mình không yêu thương đủ hoặc yêu thương không đúng. Anh ta nhớ một vài trang sách cuộc đời mình không được sáng sủa.

Anh ta nhìn thấy cái đà trong mắt mình lớn đến nỗi không thể thấy cái rác nhỏ xíu trong mắt anh em, vì anh biết rằng sự tha thứ chỉ đến từ Thiên Chúa mà thôi. Lời kinh ấy cho phép người tội lỗi tiếp nhận tình yêu Thiên Chúa. Bài Tin mừng nói với chúng ta rằng người thu thuế đã trở nên công chính. Trong Kinh Thánh, từ ấy không có nghĩa là “hoàn hảo”. Người công chính là người có thể khép mình theo Thiên Chúa trong một tương quan tin tưởng tuyệt đối, tiếp nhận thánh ý Chúa và dùng mọi phương tiện để sống thánh ý đó. Người công chính còn là người để cho Thiên Chúa công chính hóa thay vì tự công chính hóa bản thân mình.

Lý tưởng là hai người đối lập nhau ấy cùng hòa hợp với nhau để dâng lời kinh chung của họ lên Thiên Chúa: “Xin thương xót chúng con là những người tội lỗi. Xin thương xót chúng con vì chúng con đã làm điều sai trái cho người khác. Xin thương xót chúng con vì tưởng rằng mình hơn người khác. Xin thương xót chúng con khi chúng con giận nhau..”. Và Chúa sẽ trả lời: “Khi hai hay ba người hợp nhau vì danh Ta, có Ta ở giữa họ”. Chính lời kinh chung đó cho phép chúng ta thực sự đến gần Thiên Chúa và cũng đến gần người khác. Vì Chúa hiện diện để nói với chúng ta rằng Người được nhận diện nơi từng người trong họ. Và Người muốn dạy chúng ta nhìn họ và yêu mến họ như anh chị em chúng ta.

Hằng tuần đến ngày chủ nhật, chúng ta họp nhau trong nhà thờ để cầu nguyện. Chúng ta được mời gọi kết hợp lời cầu nguyện của chúng ta với lời cầu nguyện của tất cả những người khác và của tất cả mọi người ki tô hữu trên thế giới cử hành ngày của Chúa. Ước mong sao chúng ta trở về nhà được công chính hóa.

 

 

Bài 11. Mũi nhọn xung kích
ĐGM. Giuse Vũ Duy Thống

 

Phúc Âm hôm nay là một dụ ngôn sống động và mang tính khái quát. Rất gọn về số câu, số chữ nhưng lại rất rộng về hàm ý nội dung. Chỉ có hai nhân vật với vài nét chấp phá sơ sài nhưng cũng đủ khái quát cho mọi tầng lớp dân chúng. Chỉ là một thoáng lên Đền cầu nguyện nhưng lại biểu trưng cho mọi sinh hoạt tôn giáo. Chỉ quanh quẩn trong chu vi Đền Thánh nhưng lại điển hình đến nỗi có thể nới rộng ra cả cuộc đời.

Nhưng điều làm cho dụ ngôn sống động đến hôm nay thiết tưởng không những vì tính khái quát ấy mà đáng lưu ý hơn, theo ngôn từ báo chí, còn vì “tính xung kích” với những mũi nhọn không thể tránh né của nó.

Đẹp lắm nhưng cũng đau lắm. Khéo léo lắm nhưng cũng nhức nhối không kém. Xin chia sẻ về tính xung kích ấy.

1. Mũi nhọn thứ nhất: tố giác một não trạng tôn giáo đầy ảo tưởng

Đối với người Do Thái, luật Thiên Chúa là trên hết, đời sống của họ được khuôn đúc theo lề luật, xã hội của họ gắn liền với tôn giáo nên cũng được tổ chức theo lề luật. Đã có những thành phần ưu tuyển chuyên viên về lề luật được gọi là Luật sĩ và cũng có những thành phần khác chú tâm đến việc thi hành luật đến độ tỉ mỉ, đó là mấy ông biệt phái. Luật lệ là khuôn vàng thước ngọc cho đời sống. Quan điểm ấy không có gì đáng phàn nàn nếu qua lề luật người ta nhận ra bàn tay và tấm lòng của Thiên Chúa luôn dẫn đưa và giáo hóa con người. Nhưng quan điểm ấy trong thực tế đã không giữ được vẻ tinh ròng của nó mà đã bị biến chất dần dà theo năm tháng để trở thành một thái độ tôn giáo kệch cỡm, di căn trong nếp nghĩ và đồng thời méo mó trong thực hành. Và đây là một thực trạng nguy hiểm mà Chúa Giêsu gọi là “men Biệt phái” cũng là điều dụ ngôn hôm nay tố giác.

Nguy hiểm nhất là tất cả đã bị đảo lộn: luật lệ thay vì là phương tiện đã được nâng lên hàng mục đích và Thiên Chúa thay vì là cùng đích lại bị xếp xuống hàng phương tiện.

Nguy hiểm thứ hai là tất cả đã trở thành máy móc: làm như cứ chu toàn một số khoản luật là tức khắc người ta trở thành công chính và có quyền đòi hỏi Thiên Chúa phải ký tên đóng dấu chứng thực cho sự công chính này, giống như kiểu chấm công và báo công trong các xí nghiệp trước đây đã bị báo chí phê bình gay gắt, chấm công thì rất nhiều nhưng việc chẳng chạy bao nhiêu, ấy là chưa nói tới việc công, việc tư, lẫn lộn và thế là vỡ nợ thất bại.

Và nguy hiểm hơn hết là tất cả đã làm thành một ảo tưởng đặc dầy về quá khứ công trạng để rồi thành chuẩn mực phủ định những người không thuộc về phe cánh mình, không giống như mình, không đúng ý mình, kể cả Thiên Chúa nữa.

Ông Biệt phái trong dụ ngôn đã rơi vào cái ảo tưởng mà Chúa Giêsu muốn tố giác này:

Lời kinh của ông khởi đầu bằng tâm tình tạ ơn rất đẹp, nhưng đã nhanh chóng trở nên xấu bởi có ý đồ níu kéo Thiên Chúa thỏa hiệp với lối sống vụ luật “trên mức bó buộc” của ông. Có biết đâu ông đã ảo tưởng. Thiên Chúa vì yêu thương tạo dựng con người giống hình ảnh Ngài, nhưng chính ông lại xây dựng một Thiên Chúa theo hình ảnh của ông.

Và lời kinh của ông còn tồi tệ hơn khi tự hào cho mình là công chính để so sánh mình với đời sống bên ngoài của những người khác. “Đứng thẳng nguyện thầm” có vẻ tốt đấy, nhưng kênh kiệu làm sao và cũng ảo tưởng biết bao. Khẳng định mình đúng cách là tốt, nhưng khẳng định mình bằng cách phủ định kẻ khác, bằng cách dèm pha nói xấu bôi nhọ khinh chê người ta thì quả thật là trơ trẽn.

Và nguy hiểm cuối cùng đến từ những mối nguy hiểm trên là chính mình không còn cảm thấy nỗi hiểm nguy nào nữa, thành ra khô đạo mà tưởng mình sống đạo, phá đạo mà tưởng mình xây đạo, bài tôn giáo ngay giữa lòng tôn giáo và bóp nghẹt Thiên Chúa trong khi tưởng như mình vẫn tôn thờ Ngài, làm lu mờ Danh Chúa mà tưởng như mình đang làm sáng danh Ngài.

2. Mũi nhọn thứ hai: xây dựng một thực chất tôn giáo.

Nếu qua hình tượng ông biệt phái, dụ ngôn muốn tố giác một thứ đạo đức ảo tưởng đầy nguy hiểm, thì ngược lại qua ông thu thuế, dụ ngôn lại nhắm một mục đích tích cực nhưng cũng không kém phân xung kích, đó là xây dựng một nền đạo đức đích thực tôn giáo.

Nền đạo đức đích thực ấy dựa trên những thái độ cơ bản là không phải chỉ tin có Thiên Chúa mà phải tới chỗ tin vào Ngài. “Tin có” và “tin vào” là hai động từ gói ghém những thái độ khác nhau lắm dẫu ở đó đều hiện diện chữ “tin”. Không ít người tin có Thiên Chúa, nhưng để gọi được là tin vào Thiên Chúa thì còn phải hạ hồi phân giải tùy theo chất lượng chứng minh của cuộc sống. Ông biệt phái tin có Thiên Chúa quá đi chứ, nhưng nếu hỏi “ông có tin vào Ngài chưa?” thì phải trả lời là chưa, mà ngược lại, thay vì tin vào Ngài, đời sống ông lại cho thấy chỉ tin vào mình, cậy dựa vào sức mình để kèn cựa sao cho người khác xem mình là công chính.

Còn ông thu thuế, dẫu không cầu nguyện dài lời cũng cho thấy ông là người đã tới mức tin vào Thiên Chúa và phó thác hoàn toàn cho Ngài. Bởi thấy mình quá lem luốc theo mắt nhìn thành kiến của người đương thời, nên ông chỉ có thể đợi chờ một sự gột rửa trong mắt nhìn của Thiên Chúa; bởi thấy mình đã bất chính trong vòng quay nghiệt ngã của nghề nghiệp, nên con người ông nếu có cái gì phải tiến dâng thì đó chính là cuộc đời tội lụy của tấm lòng tan nát khiêm cung cúi đầu đấm ngực xin ơn tha thứ. Và bởi thấy mình chỉ đáng tội nên Thiên Chúa lại thấy ông chỉ đáng thương, nên bằng tình thương, Ngài đã ban ơn cho ông theo như ông tin vào Ngài.

Rõ ràng là tình thương Thiên Chúa ban cho con người như nước chảy về chỗ trũng, chỉ khi gặp tâm hồn khiêm tốn khai hoang, tình thương ấy mới có thể đổ vào tràn đầy chan chứa. Hay nói cách khác, tình thương Thiên Chúa là một “tình cho không biếu không”, nhưng chỉ những ai đã gạt bỏ ảo tưởng về mình để nhìn nhận mình là không, người ấy mới có thể nhận được tình thương của Thiên Chúa.

Tin vào Thiên Chúa sẽ gặp được tình thương của Ngài, còn chỉ tin vào mình rốt cuộc lại gặp chính mình trong những ảo tưởng chất chồng. Nhưng cũng phải thưa ngay rằng: luôn luôn có một sự quân bình giữa một đàng là tình thương Thiên Chúa và đàng khác là cố gắng của con người. Chỉ ỷ lại vào tình thương Thiên chúa cũng sẽ rơi vào ảo tưởng như là chỉ ỷ y vào sức mình. Thế nên, đạo đức đích thực chính là dung hòa giữa nỗ lực và cậy trông. Xin mượn kiểu chơi chữ của thánh Augustinô để minh họa. Ngài bảo ai càng cảm nhận về sự khốn cùng của mình, người ấy càng gặp được sự khôn cùng của tình thương Thiên Chúa. Ai sống hết mình với cái miseria của mình, người ấy cũng biết cách để tiếp nhận cái misericordia của Thiên Chúa. Giống như người say rượu một khi biết tật của mình mới hết khướt say.

3. Mũi nhọn thứ ba: cật vấn hôm nay.

Với hai mũi nhọn trên, dụ ngôn đã trở thành sống động và sở dĩ còn sức sống đến hôm nay là vì mũi nhọn thứ ba: dụ ngôn là lời cật vấn gởi đến mọi kẻ tin, ngân vang tới mọi sinh hoạt tôn giáo và len lỏi vào mọi ngõ ngách của cuộc sống đời thường. Thế nên vấn đề được đặt ra ở đây trên bình diện cá nhân cũng như tập thể với những thích ứng cần thiết là hãy thử nhận diện cuộc sống của mình và của cộng đoàn mình.

Có thể ta không gặp sừng sững một ông Biệt phái lộ liễu ngất ngưỡng ở trong lối sống đạo của ta, nhưng biết đâu cái ảo tưởng an toàn khi chu toàn các bổn phận trong đạo như ông biệt phái lại chẳng lây lan len lỏi lập lòe trong tâm thức của mình? Biết đâu lúc này khác hơn một lần ta đã tự ru mình vào giấc ngủ “tự hào” khi bằng lòng với cách thể hiện đức tin hiện tại? Biết đâu đó đây trong ngày sống ta đã chiều theo ý nghĩ so sánh đời ta với đời người khác về phương diện đạo đức, theo kiểu “Trông lên mình chẳng bằng ai, nhưng khi trông xuống chẳng ai bằng mình”? Xưa Chúa Giêsu gọi đó là “men Biệt phái”, nay có lẽ nên gọi là “viris BP” xin tránh xa. Nếu “virus BP” mà giống “dầu nhớt BP liên tục phát triển” như quảng cáo trên tivi thì nguy quá! Trượt té dài dài.

Có thể ta thấy mình bỗng dưng gần gũi với ông thu thuế vì đời ta vương nhiều tội lụy, vì ta đi lễ thích đứng cuối nhả thờ, và vì ta cầu nguyện chỉ mong thật ngắn chẳng thích dài lời như như Phúc Âm kể: “Ông thu thuế đứng dàng xa, không dám ngước mặt, vừa đấm ngực vừa cầu nguyện: Lạy Chúa xin thương con là kẻ tội lỗi”. Nhưng chưa chắc đâu, bởi ông thu thuế khiêm tốn hết mình để được thứ tha hết tình, còn ta có khi chỉ là khiêm tốn nửa mùa tưởng bở, như thoáng thấy qua trang Nhật Ký của Đức Gioan XXIII ngày nào: “Tôi tưởng mình là cậu bé Séraphim nhưng nhìn kỹ tôi lại thấy mình là một chú Lucife nhỏ”.

Và vượt lên tất cả chính là lời thầm nhủ: hãy tin vào tình thương của Chúa mà sống tốt cuộc sống Ki-tô của mình. Với người này có thể trút bỏ những ảo tưởng tự hào, với người kia có thể là nhen lên lòng sám hối khiêm cung. Riêng cá nhân tôi nhân ngày tròn bảy năm linh mục, cùng với lời tạ ơn Thiên Chúa, lời cảm tạ cha sở và cộng đoàn, cũng sẽ là một lời kinh âm thầm xin được luôn tin vào tình thương Thiên Chúa.

Chiều qua khi đang sắp xếp lại sách vở, nghe cassette nhà ai mở bài “L’amour c’est pour rien” với lời hát “Tình cho không biếu không chớ nên mua bán tình yêu”, bất giác tôi nghĩ về tình thương Thiên Chúa: một tình thương luôn sẵn cho đi, một tình thương chẳng chờ đợi gì, một tình thương không mong đáp trả, một tình thương mãi mãi thứ tha.

Cầu chúc mọi người luôn tin vào tình thương Thiên Chúa để mãi vươn lên trong mọi cảnh ngộ cuộc đời, bởi xét cho cùng mỗi cảnh ngộ cũng là một dụ ngôn sống động ẩn chứa những mũi nhọn xung kích mời ta khám phá không ngừng.

 

 

Bài 12. Người thu thuế ra về được khỏi tội
Radio Veritas Asia

 

Tác giả tập sách nổi tiếng có tựa đề: “Nơi Thiên Chúa khóc”. Do kinh nghiệm sống đức tin của một cộng đồng Kitô hữu bị bách hại tại Đông Âu trước đây, kể lại kinh nghiệm cảm động nhất của mình trong việc cầu nguyện như sau:

Tôi cùng với một số người Đức bị đưa đi đày xa quê hương từ giữa thế chiến thứ hai. Tất cả đều là người Công giáo và cùng lao động tại một nông trường. Nơi ấy không có nhà thờ cũng chẳng có linh mục, nhưng chúng tôi được tụ họp mỗi chiều Chúa Nhật tại một nghĩa địa cũ để cầu nguyện chung với nhau. Khi biết cách đó 1,000 km có linh mục, anh chị em Kitô bèn quyết định hàng tháng góp chung nhau ít tiền để mua vé xe cho một bà già đi về nơi ấy, để đem Mình Thánh đến cho cộng đoàn. Thế rồi, từ đó mỗi buổi chiều Chúa Nhật, cộng đoàn gặp nhau trong nghĩa địa với tâm hồn hân hoan vui sướng, vì biết rằng có Chúa Giêsu Thánh Thể hiện diện với mình. Chúng tôi sốt sắng cầu nguyện và suy niệm Lời Chúa. Những ai yếu liệt đều được trao cho của ăn đàng quí giá trước khi qua đời. Nhờ vậy, trong suốt mấy chục năm trời, cộng đoàn Kitô hữu chúng tôi vẫn sống niềm tin kiên vững, đùm bọc lẫn nhau trong tình yêu thương bác ái huynh đệ.

Tác giả của tập sách nói trên được sang sống bên thế giới tự do và cho biết chính mình là người điều khiển cộng đoàn Kitô hữu vào mỗi buổi chiều Chúa Nhật tại nghĩa địa như đã kể trong tập sách. Sống trong xã hội tự do, nhưng tâm hồn tác giả lúc nào cũng hướng về cộng đoàn huynh đệ vây quanh Chúa Giêsu Thánh Thể để cầu nguyện và nâng đỡ nhau.

Anh chị em thân mến!

Lời cầu nguyện thật lúc nào cũng là lời cầu nguyện của tình yêu thương và tha thứ, lời cầu nguyện liên kết mọi người với nhau, lời cầu nguyện của sự xây dựng cộng đoàn. Thật là khác với những lời cầu nguyện của những người Pharisiêu như được mô tả trong bài Tin Mừng hôm nay.

Qua đoạn Tin Mừng hôm nay, chúng ta liền nhớ đến những lời nhắn nhủ sau đây của Đức cố Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận trong tập sách “Đường Hy Vọng”:

Dù con có tử đạo, nộp mình chịu thiêu, dù con có làm tông đồ, giảng dạy các thứ tiếng của nhân loại và thiên thần, dù con có hoạt động từ thiện, đem hết cả tài sản phân phát cho người nghèo khó mà con không có lòng mến thì cũng như không. Việc con làm không quan hệ, cách con làm mới quan hệ.

Người biệt phái cầu nguyện đứng thẳng, chi tiết này nói lên tinh thần tự kiêu, ỉ lại trước nhan Thiên Chúa, và nội dung lời cầu nguyện của ông chỉ là những lời khoe khoang với Chúa và gây chia rẽ: “Con không phải như người thu thuế, tôi lỗi kia, con không giống như những kẻ khác: tham lam, bất công, ngoại tình…” Đó là những lời kết tội anh em, lỗi đức ái, không có chút gì tích cực xây dựng cộng đoàn và tôn vinh lòng nhân từ của Thiên Chúa. Ngược lại, người thu thuế đã ý thức được thân phận tội lỗi của mình, nên khiêm tốn cúi mình xin Chúa thương xót, hướng dẫn mình trở về với tình thương của Chúa, trở về với anh em mà mình đã xúc phạm.

Đức cố Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, tác giả tập sách “Đường Hy Vọng” đã nhắn nhủ chúng ta về việc cầu nguyện như sau: Khi hai hay ba người hiệp nhau cầu nguyện thì có Chúa ở giữa họ. Lời Chúa Giêsu đã được ứng nghiệm, đặc biệt nơi nhiều cộng đoàn cầu nguyện. Họ sống xa linh mục từng ngàn cây số mà vẫn hướng dẫn nhau cầu nguyện cách kiên trì giữa những gian nan thử thách và cô đơn. Dầu miệng con không nói ra, Chúa đã hiểu thấu lòng con. Con hãy noi gương người đàn bà bị băng huyết động đến gấu áo Chúa được nhận lời ngay. Con tội lỗi không dám ra trước mắt Chúa, nhưng lời Hội Thánh khiến con vững tâm: “Nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con”.

Vậy, tất cả sự thương khó của Chúa Giêsu và công nghiệp của Đức Mẹ và các thánh không đủ để bao bọc lời cầu nguyện nhỏ bé của con sao? Trong cuộc đời Chúa Giêsu, hình như Chúa yêu thương cách riêng những kẻ khiêm nhượng và Ngài quên hết tội lỗi của họ, không bao giờ nhắc lại: “Phêrô, Madalena, Simon phong cùi, Giakêu… Chúa đã tự đến nhà họ và đành chịu tiếng làm bạn với quân thu thuế và người tội lỗi”.

Quyền năng nơi Thiên Chúa phục vụ qua lòng nhân từ của Ngài. Quyền năng của một người Cha nhân từ đủ sức thanh tẩy và đổi mới cuộc đời tội lỗi, nếu chúng ta khiêm tốn để cho ơn Chúa được tự do tác động.

Lạy Chúa, như người thu thuế kia, con thành tâm kêu xin Chúa, xin Chúa thương xót con, hãy tha thứ mọi tội lỗi con và dẫn đưa con về với tình yêu: Yêu Chúa và yêu anh em như Chúa đã yêu. Amen.

 

 

Bài 13. Quì gối xuống
Lm Vũ Minh Nghiễm

 

Cũng như Chúa nhật trước, Chúa nhật hôm nay Đức Kitô dạy chúng ta phải biết cầu nguyện như thế nào. Chúa Nhật trước, Ngài dạy chúng ta phải noi gương bà góa nghèo kia mà cầu nguyện cho kiên trì. Hôm nay Ngài dạy chúng ta phải noi gương người thu thuế mà cầu nguyện cho khiêm nhượng.

Chúng ta biết rằng người Do thái cầu nguyện một ngày ba lần: 9 giờ sáng, 12 giờ trưa, và 3 giờ chiều. Lời cầu nguyện được coi là hiệu nghiệm hơn hết là lời cầu nguyện dâng trong Đền thờ.

Hôm nay Chúa dạy dưới hình thức dụ ngôn. Có hai người Do thái cùng lên Đền thờ cầu nguyện. Một người là biệt phái (mà chúng ta quen gọi là Pharisiêu). Người kia là người thu thuế (chúng ta thường gọi là Publicanô). Nhóm Pharisiêu được gọi là biệt phái, vì họ tự đứng biệt lập ra thành một phái riêng. Họ là hạng người được coi là đáng kính, đạo đức. Trong dân chúng, họ là lớp người ưu tú. Họ giữ luật Chúa rất tỉ mỉ. Nhưng do chỗ giữ luật tỉ mỉ, và được kẻ khác coi là thánh thiện, mà có những người trong nhóm, họ sinh ra tự cao tự đại đối với những người chung quanh.

Trong dụ ngôn hôm nay, một người biệt phái như vậy lên đền thờ cầu nguyện cùng một trật với một người thu thuế. Hạng người sau nầy bị dân chúng coi như ngược lại với người biệt phái. Người biệt phái được coi là thánh thiện, thì người thu thuế bị coi là tội lỗi.

Hồi đó, dân Do thái bị người Rôma đô hộ. Chính phủ độ hộ không tự tổ chức thu thuế lấy, như chúng ta thấy ở Hoa kỳ chẳng hạn. Nhưng họ cho đấu thầu. Đã thầu thì ai thầu cao nhứt, sẽ được độc quyền thu thuế. Dĩ nhiên hạng người thu thuế nầy bị dân chúng gớm ghét và coi là hạng người tội lỗi. Tội lỗi phép công bằng. Tội bóc lột, làm giàu trên xương máu đồng bào. Tội làm tay sai cho chính quyền ngoại bang Rôma.

Vậy hôm nay có hai người cùng lên đền thờ cầu nguyện. Một là biệt phái, một là thu thuế.

Người biệt phái đứng thẳng người lên cầu nguyện rằng:

“Lạy Chúa con cám tạ Chúa, vì con không giống như những người khác, gian tham, bất công, ngoại tình. Không giống như tên thu thuế đứng kia. Con ăn chay mỗi tuần hai lần, và dâng cúng vào đền thờ một phần mười tất cả các hoa lợi của con.”

Luật Do thái chỉ buộc ăn chay một năm một lần trong ngày lễ Đền tội. Nhưng có người đạo đức ăn chay trường, mỗi tuần hai lần, trong ngày thứ Hai và ngày thứ Năm. Chúng ta biết rằng hai ngày nầy là hai ngày chợ tại Yê-ru-sa-lem. Nhiều nơi, như tại các vùng quê bên Việt Nam ta, không có những nơi bán thức phẩm thường xuyên, không có các siêu thị sẵn sàng mỗi ngày. Dân chúng chỉ nhóm chợ một vài ngày trong tuần. Một vài ngày trong tuần, họ mang rau cỏ, trái trăng, thịt cá, lúa gạo… ra chợ bán. Và ngày đó mới ngày chợ.

Ở Yêrusalem, hai ngày mà người Do thái đạo đức quen ăn chay cũng là hai ngày chợ. Dân chúng lên nhóm chợ chung quanh đền thờ rất đông. Những người ăn chay lên đó, đi qua giữa đám đông, mặt mày xanh xao tiều tụy, áo quần lếch thếch. Ai cũng phải chú ý đến họ. Và trong số nầy, có ông biệt phái của dụ ngôn hôm nay.

Người Do thái phải dâng vào đền thờ một phần mười hoa lợi ruộng đất của mình. (Tl 14,22). Ông biệt phái hôm nay thì dâng vào đền thờ một phần mười về tất cả mọi thứ hoa lợi, dầu những thứ hoa lợi Luật không buộc đóng thuế.

Ông quả là tốt lành, đại lượng. Ông chỉ có cái tội nầy là tự phụ, khoe khoang và khinh người. Ông lên đền thờ nói là cầu nguyện, nhưng không phải cầu nguyện cùng Chúa, mà cầu nguyện với chính mình. Nói cách khác, không phải để chúc tụng ngợi khen Chúa, mà để chúc tung ngợi khen mình.

“Lạy Chúa, con không tham lam, bất công, ngoại tình. Con không như tên tội lỗi thu thuế kia đâu. Con ăn chay mỗi tuần những hai lần. Con dâng vào đền thờ một phần mười tất cả mọi thứ hoa lợi của con.”

Rõ ràng ông không van xin ơn gì cùng Chúa cả. Ông chỉ chúc tụng mình. Ông lên đền thờ là để dùng nhà Chúa làm diễn đàn, tự tuyên dương công trạng. Ông tự cho mình là người thánh thiện, tự trưng bày công nghiệp và nhân đức của mình, với mục đích là thóa mạ, phỉ báng, lên án người cùng lên đền thờ cầu nguyện với mình.

Ông biệt phái hôm nay giống hệt thầy Rabbi Simeon ben Jocai. Có lần thầy đã tuyên bố: “Nếu trên thế giới có hai người công chính, thì đó là tôi và con tôi. Nếu chỉ có một người công chính, thì người đó chính là tôi.”

Có người biệt phái nào dám khoe khoang trước bàn thờ Chúa như ông biệt phái hôm nay chăng? Dẫu sao Đức Giêsu đã muốn làm nỗi bật giáo huấn của Ngài để chúng ta khó quên dễ nhớ. Lời cầu nguyện chỉ dâng lên cho Chúa, không dâng lên cho ai khác. Lại càng không được dâng lên cho chính mình, như kiểu ông biệt phái hôm nay. Đó là tôn thờ mình. Kẻ tôn thờ mình thì phạm tội kiêu căng, trùm của Bảy mối tội. Đã phạm tội kiêu căng thì lời cầu nguyện ấy không thể đẹp lòng Chúa được.

Còn người thu thuế, nhân vật thứ hai trong bài dụ ngôn hôm nay, thì sao? Anh đứng cuối cửa đền thờ, cúi mặt xuống, đấm ngực, thưa lên cùng Chúa:

“Lạy Chúa, xin thương con là đứa tội lỗi.”

Anh tự biết mình là người tội lỗi, khốn nạn. Nhưng anh cũng biết Thiên Chúa là Đấng nhân lành, đầy tình thương xót. Và anh kêu cầu lòng thương xót Ngài thứ tha cho anh. Anh không dùng ngôn từ quyền thế của người cậy có công lênh, nhưng dùng lời lẽ khiêm nhu của người muốn cải thiện.

Và Đức Yêsu đã kết luận rằng:

“Khi về nhà, người thu thuế trở nên công chính. Còn người biệt phái thì trước sao sau vậy?”

Hơn nữa, ông mắc thêm tội. Tội tôn thờ chính mình. Tội kiêu căng, khinh miệt kẻ khác ngay trước mặt Thiên Chúa.

Bài dụ ngôn hôm nay dạy chúng ta những điều sau đây về sự cầu nguyện.

Trước hết, khi cầu nguyện, đối tượng tôi phải so sánh là chính Thiên Chúa, chứ không phải ai khác, hoặc chính mình tôi. Nếu thay vì nhìn vào chính mình, tôi nhìn vào Thiên Chúa là Đấng tốt lành cao cả vô cùng, tôi mới thấy mình thấp kém, hèn hạ, tội lỗi như thế nào.

Một đấng thánh vĩ đại như Thánh Phaolô mà đã tự nhận mình là kẻ thấp kém nhất (1 Cor 15,9), vì “yếu đuối” (2 Cor 12,9) đã bắt đạo và ngạo ngược(1Tm 1,13; Gl 1,13). Thánh Vincente Phaolô, một ngôi sao chói lọi trong công việc bái ái từ thiện, mà tự gọi mình là người “thấp hèn nhứt trên thế gian.”

Cầu nguyện không phải là dâng kiến nghị đòi hỏi, nhưng là cậy trông và phú thc vào Chúa Quang phòng, đại lưỡng vô song, khôn ngoan vô cùng.

Thứ đến, khi cầu nguyện, tôi không được tự cho mình là hơn kẻ khác. Tôi phải luôn luôn nhớ rằng tôi thuộc về đoàn lũ đông đảo những kẻ có tội, được Con Đức Chúa Trời đổ máu ra trên thập giá để cứu chuộc cho.

Người tự cao tự đại không thể cầu nguyện được. Cửa thiên đàng hẹp và thấp, chỉ quì xuống, đi bằng đầu gối, mới vào được.

Tại đền thờ thánh Phêrô ở Rôma, có một bức tượng Chúa chịu nạn do Thorvaldsen (1770-1844), nhà điêu khắc Đan mạch nổi tiếng thực hiện. Ngày kia, một du khách đến viếng bức tượng. Ông ta nhìn mãi, rồi lắc đầu nói:

- Tôi nghe đồn bức tượng nầy nổi tiếng là đẹp lắm. Nhưng tôi chẳng thấy gì là đẹp cả.

Một người quì sau lưng ông, nói:

- Ông phải quì gối xuống mới thấy đẹp.

Ông du khách quì gối xuống. Bây giờ ông mới khám phá ra vẻ đẹp lôi cuốn của bức tượng Chúa chịu nạn.

Muốn đến gần Chúa, muốn được Chúa dủ tình thương xót, tôi cũng phải quì gối xuống mà van xin.

 

 

Bài 14. Con mắt
Lm. Vũ Đình Tường

 

Mắt là đèn soi cho chúng ta. Mắt giúp quan sát, nhìn sự việc. Có người ví von mắt là cửa sổ của tâm hồn. Rất nhiều trường hợp hai người cùng quan sát một sự việc, cùng dùng mắt kết quả nhìn khác nhau. Trường hợp hai người nghe cùng câu chuyện do một người kể, kết quả nhận định khác nhau. Tai, mắt hay ngũ quan không nắm vai trò chủ động trong mọi quyết định. Mắt thấy, tai nghe là bước mở đường cho bước kế tiếp đưa đến phán đoán. Khi phán đoán tai mắt đóng góp bao nhiêu phần trăm?

NHÌN KHÁC NHAU

Điều chắc chắn hầu như mọi biến cố quan trọng trong đời mỗi người nhìn một cách khác nhau, nhận định sự việc khác nhau mặc dù họ nhìn chung một sự kiện, nghe cùng một câu chuyện, do một người kể nhưng phán đoán mỗi người mỗi khác. Mắt giúp quan sát, nhìn đi nhìn lại cũng chỉ rõ bên ngoài, không thấu suốt nội tình, bên trong. Phán đoán dựa vào quan sát bên ngoài để đoán những gì bên trong đưa đến kết quả có thể là đúng cũng có thể sai. Bởi vì đoán nên không thể quả quyết. Khi quả quyết thì không còn đoán. Nếu đoán thì không thể xác quyết vì có thể còn những chuẩn đoán chính xác hơn, hợp lí hơn.

XÉT MÌNH

Phúc âm đưa ra trường hợp hai người cầu nguyện trong đền thờ. Một được Chúa nhận lời; một không. Cả hai cùng xét mình, nhìn lại cách ăn, nết ở trong thời gian qua. Trong thánh điện kết quả xét mình của hai người đối nghịch nhau.

Một đứng thẳng, ưỡn ngực cầu nguyện; một cúi mặt, đấm ngực ăn năn.

Một đứng gần gian cung thánh; một xa tít cuối đền thờ.

Một tự hào ăn ngay, ở lành; một hối hận vì tội đã phạm.

Một vỗ ngực tự xưng công chính giữ trọn luật; một đấm ngực ăn năn xin Chúa xót thương.

Cả hai đều nhìn vào chính mình, nhận xét về chính mình, cầu nguyện trong đền thờ. Người tự nhận là tội nhân được tôn vinh; người tự tôn vinh bị hạ xuống.

HAI NGỘ NHẬN

Tự nhận mình công chính là một ngộ nhận lớn, bắt nguồn từ kiêu hãnh, tự phụ. Thực thi đức ái và giữ trọn luật là nhiệm vụ chung mọi thành phần trong xã hội, không trừ ai. Làm xong, làm tốt nhiệm vụ được coi là công dân tốt. Trong Giáo Hội họ là người đầy tớ khôn ngoan và trung thành. Hoàn thành nhiệm vụ không biến ta thành công chính. Ta trở nên công chính nhờ Đức Kitô. Nói theo ngôn ngữ Phúc âm hôm nay ta được công chính hoá nhờ lòng thương xót Chúa.

‘Lậy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi’.

Nhờ thành tâm thống hối, đấm ngực ăn năn sấp mình trước Thánh Nhan xin chúa thương xót để trở nên công chính. Như thế công chính hoá không phải do tài năng con người tự kiếm mà là đặc ân Chúa ban do khiêm nhường, thống hối, thành tâm và tạ ơn.

Khiêm nhường là con đường mở thêm lối đi dẫn ta đến cùng Chúa, đưa ta tới tha nhân. Kêu ngạo là con đường một chiều, không ngã rẽ. Đường dài mấy cũng có cuối đường. Như thế kêu ngạo là con đường cụt, đường dẫn đến sự chết. Người đi đường cụt bị tắc nghẽn nơi cuối đường. Không lối thoát.

Ngộ nhận thứ hai của ngưòi tự nhận công chính là soi mói, buôn điều. Không biết đang đi trên đường cụt. Đến khi nhận ra đã cuối ngày. Kêu ngạo, tự phụ che mất đường công chính. Tôn mình lên cao đến nỗi chỉ nhìn thấy người, còn mình thì không. Dùng quá nhiều thời gian kháo chuyện thiên hạ. Hãy nghe anh ta nói: ‘con không như bao kẻ khác: tham lam, bất chính, ngoại tình, hoặc như tên thu thuế kia’.

Trong lời cầu anh nhắc đến tạ ơn. Tạ ơn chân thành luôn đi với khiêm tốn. Thiếu lòng thành việc tạ ơn chỉ là môi mép. Người tự phụ không cần Chúa vì tin vào khả năng mình.

Nhắc đến việc tốt lành: ăn chay mỗi tuần hai lần và công đức mười phần trăm mức thu nhập.

Không thấy anh nhắc đến việc thương người nghèo, cho kẻ đói ăn, khát uống. Không nhắc đến thăm người đau yếu bệnh tật. Những người này không có trong đời của anh có lẽ vì ‘con không như bao kẻ khác’

PHÚC HỌA

Ngộ nhận xảy ra cho mọi thời đại. Thiếu cẩn trọng phúc biến ra hoạ, rơi vào ngộ nhận.

Thay vì đi xét mình, xét tội mình thì kháo tội người, buôn điều, chỉ trích, phê bình người khác. Tưởng như thế là giúp người, làm đẹp lòng Chúa. Lỗi lầm dễ mắc phải, xét tội người khác, cáo lỗi người khác tưởng làm như thế là làm phúc, giúp người trở về đường ngay nẻo chính.

Chê người là tự phong cho mình hay hơn.

Nói xấu người là tự cho mình tốt hơn.

Chỉ trích người là tự nhận mình đúng, người sai.

Làm thế là tự hại chính mình, đang chích cho mình liều thuốc Pharisiêu.

 

 

Bài 15. Hai hạng người cầu nguyện
Veritas

 

Bài Phúc Âm chúng ta vừa nghe có thể không cần một câu chuyện hướng dẫn nào khác, nhưng tự nó gợi ý để chúng ta suy nghĩ về điều mà chúng ta có thể gọi là sự thành thật của người Kitô. Thành thật với chính mình, thành thật với kẻ khác và thành thật với Thiên Chúa.

Con người thành thật là con người nhìn nhận thực thể của mình và cảm nhận thực thể đó một cách trung thực. Thành thật trước tiên không có nghĩa là nói thẳng ra điều mình nghĩ hay điều mình cảm nhận. Nói thẳng điều mình nghĩ, điều mình cảm nhận được không đủ để sống thành đạt. Trước hết, yếu tố quan trọng phải là chân thành nhìn nhận thực thể mình, nhìn nhận chính điều mình nghĩ về mình, và khi ta nhận thực thể mình và ý thức những giới hạn của nó, ta sẽ không còn hứng thú để xét đoán kẻ khác.

Người thành thật ý tứ để đừng lừa gạt chính mình và cũng không lừa gạt kẻ khác. Người thành thật không thích người giả hình, không thích mánh mung, nói láo. Đây không phải là điều dễ, cần phải kiên trì quan sát mình, phải xét mình hằng ngày dựa theo lời Chúa và trong sự khiêm tốn vâng phục ơn soi sáng nội tâm của Chúa. Lời cầu nguyện của chúng ta cần dâng lên Chúa hằng ngày phải là: “Lạy Chúa, xin cho con biết con, xin cho con biết Chúa. Lạy Chúa xin thương xót con vì con là kẻ có tội.

Bài dụ ngôn hôm nay nêu bật lời cầu nguyện khiêm nhường của người thu thuế, anh không nhìn sang người khác, không dám so sánh mình với kẻ khác, nhưng nhìn vào mình và so sánh mình với mẫu gương của Chúa, qua đó anh đã khám phá ra những khuyết điểm của mình rồi khiêm tốn chấp nhận.

Chúng ta cũng vậy, mỗi lần chúng ta đặt mình trước nhan Chúa, khi cầu nguyện chúng ta hãy ý thức rằng, Thiên Chúa đã biết rõ cả rồi, đã biết trọn cả con người của chúng ta là như thế nào rồi, nên không cần che giấu tránh né. Nhưng Thiên Chúa cũng là Đấng nhân từ và hay thương xót, nên chúng ta không quá lo sợ hay tuyệt vọng vì những bất toàn ấy mà hãy vươn lên cùng Chúa, xin Chúa chữa lành: “Lạy Chúa, xin thương xót con vì con là kẻ tội lỗi”.

Trong lời cầu nguyện của người thu thuế, chúng ta còn có thể khám phá ra một yếu tố quan trọng khác nữa, khi cầu nguyện: “Lạy Chúa, xin thương xót con vì con là kẻ tội lỗi, là kẻ đã xúc phạm đến Chúa”. Người thu thuế kia tha thiết muốn kêu lên cùng Chúa, muốn hưởng nhờ lòng nhân từ của Ngài để tiến mãi trên con đường thiêng liêng, sống mối tương quan với Chúa mỗi ngày một tốt đẹp hơn.

Người Pharisêu không có được thái độ này, ông tự mãn với chính mình và ông nghĩ là do công trạng của mình tạo lập ra, như vậy lời cầu nguyện của ông thật ra không phải là lời cầu nguyện mà chỉ là những lời khoe khoang đi kèm với thái độ khinh dể kẻ khác.

Ước chi trong cuộc sống đức tin của mỗi người chúng ta, chúng ta đừng nhìn sang kẻ khác mà so sánh. Bởi vì chúng ta sẽ bị cám dỗ so sánh mình với những bất toàn của anh chị em và nâng mình lên khinh dể kẻ khác. Chúng ta hãy so sánh mình với chính mẫu gương trọn lành của Chúa để nhận biết chúng ta còn nhiều điều phải canh tân để tiến lên mãi: “Lạy Chúa, xin thương xót con vì con là kẻ tội lỗi”.

Ước chi lời cầu nguyện này trở thành lời cầu nguyện của mỗi người chúng ta không những hôm nay mà trong mọi ngày của đời sống chúng ta, để chúng ta nhận lãnh ơn thương xót của Chúa và tiến lên mãi trong tình thương của Ngài. Xin Chúa gìn giữ chúng ta trong đức tin mà giờ đây chúng ta cùng nhau tuyên xưng qua Kinh Tin Kính.

 

 

Bài 16. Ai là người công chính?
Thiên Phúc

 

Ngày kia, Khổng Tử dẫn học trò từ nước Lỗ sang nước Tề. Trong đám học trò có Nhan Hồi và Tử Lộ là hai môn sinh được Khổng Tử sủng ái nhất. Thời Đông Chu, loạn lạc khắp nơi khiến dân chúng lâm cảnh lầm than đói khổ. Thầy trò Khổng Tử cũng có nhiều ngày nhịn đói cầm hơi.

Ngày đầu tiên khi đến đất Tề, Khổng Tử và các môn sinh được một người giàu có biếu cho một ít gạo. Khổng Tử liền phân công: Tử Lộ và một số môn sinh khác vào rừng kiếm rau, còn Nhan Hồi đảm nhận việc nấu cơm.

Đang khi nằm đọc sách ở nhà trên, Khổng Tử bỗng nghe tiếng động ở nhà bếp, nhìn xuống, người bắt gặp Nhan Hồi đang mở vung xới cơm cho vào tay nắm lại từng nắm nhỏ rồi từ từ đưa vào miệng. Thấy cảnh học trò đang ăn vụng, Khổng Tử nhìn lên trời than thở: “Người học trò tin cẩn nhất của ta lại là kẻ ăn vụng?” Khi Tử Lộ và các môn sinh khác trở về thì nồi cơm cũng vừa chín. Khổng Tử cho tập họp tất cả lại và nói:

- Bữa cơm đầu tiên này trên đất Tề làm cho thầy chạnh lòng nhớ đến quê hương. Thầy nhớ đến cha mẹ, cho nên muốn xới một bát cơm để cúng cha mẹ, các con nghĩ có nên không? Nhưng liệu nồi cơm này có sạch chăng?

Nhan Hồi liền chắp tay thưa:

- Dạ thưa thầy, nồi cơm này không được sạch. Khi cơm vừa chín, con mở vung ra xem thử, chẳng may một cơn gió tràn vào, bò hóng bụi trần rơi xuống làm bẩn cả nồi cơm, con đã nhanh tay đậy nồi cơm lại nhưng không kịp. Sau đó, con định xới lớp cơm bẩn vất đi, nhưng nghĩ rằng cơm ít mà anh em lại đông, nên con đã ăn phần cơm ấy. Thưa thầy, như vậy là hôm nay con đã ăn cơm rồi.

Nghe Nhan Hồi nói xong, Khổng Tử lại ngẩng mặt lên trời mà than rằng:

- Chao ôi! Thế ra trên đời này có những việc chính mắt mình trông thấy rành rành mà vẫn không hiểu được đúng sự thật. Suýt nữa Khổng Tử này đã trở thành kẻ hồ đồ!

Cho dù là bậc hiền triết như đức Khổng Tử thế mà suýt nữa đã trở thành kẻ hồ đồ, suýt nữa đã phê phán người học trò rất mực chân thật và khiêm tốn, sẵn sàng chịu thiệt về phần mình để được lợi cho anh em. Đó cũng là cám dỗ rất thường gặp nơi những người được xem là đạo đức thánh thiện, những người đã đắc thủ được một số nhân đức nào đó, đã làm được nhiều việc lớn lao, đã leo lên được chức vụ cao trong xã hội, đã đạt được một số thành tích trong đạo ngoài đời. Họ dễ tự mãn và khinh rẻ người khác lắm, nếu chẳng công khai thì cũng ngấm ngầm, lúc thì giấu được khi thì lộ ra. Chuyện ấy thường tình lắm nên Chúa Giêsu mới nhắc nhở chúng ta qua dụ ngôn: “Người Pharisêu công chính và người thu thuế tội lỗi”.

Người Pharisêu lên đền thờ cầu nguyện nhưng thực ra là để khoe khoang thành tích. Ông thưa chuyện với Chúa nhưng thực ra ông đang độc thoại một mình. Ông “tạ ơn Chúa” nhưng thực ra là ông muốn Chúa hãy biết ơn ông.

Quả thật, bảng liệt kê công trạng của ông không có gì sai. Những điều luật cấm ông không dám làm, những điều luật buộc thì ông còn làm hơn mức qui định. Ông thật là con người đúng mực, một con người hoàn hảo, không có gì để chê trách, một tín đồ trung thành với lề luật, một mẫu gương tuyệt vời. Chỉ tiếc có một điều là ông quá tự mãn tự kiêu nên bao việc lành phúc đức của ông theo “cái tôi” bọt bèo của mình mà trôi ra sông ra biển hết. Cái tôi của ông quá to, đến nỗi ông chỉ nhìn thấy mình mà không thấy Chúa; công trạng của ông quá nhiều đến nỗi ông chỉ nhìn thấy nó là đức độ của ông chứ không phải là do ơn Chúa; cái tự mãn của ông quá lớn, cho nên ông thẳng thừng khinh miệt anh em.

Sai lầm trầm trọng của ông Pharisêu bắt đầu từ câu này: ‘Vì con không như bao kẻ khác: tham lam, bất chính, ngoại tình, hoặc như tên thu thuế kia”. Giá như ông đừng so sánh cuộc sống của ông với người khác, mà biết đem cuộc sống của mình đối chiếu với cuộc sống thánh thiện của Đức Kitô, thì ông sẽ nhận ra mình còn thiếu sót biết là bao nhiêu, mình còn bất toàn biết là dường nào. Chính khi đó, ông mới cần đến lòng nhân từ xót thương của Chúa, cần đến sự tha thứ và khoan dung của Người. Chính lúc đó, ông mới biết cầu nguyện bằng những lời lẽ chân thành và khiêm tốn của người thu thuế: “Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi”.

Sai lầm căn bản của người Pharisêu còn ở chỗ ông đã không nhận ra sự công chính là một ân huệ Chúa ban chứ không phải tự ông mà có, tự ông tuân giữ hoàn hảo các lề luật được. Chính khi tự mãn thiếu khiêm tốn, và nhận sự công chính ấy là của riêng mình thì ngay lúc đó ông đã mất ơn nghĩa với Chúa và không còn công chính nữa.

Người thu thuế nhận mình lầm lỗi, ông biết rõ tội mình vô phương cứu chữa, chẳng dám ngước mắt nhìn lên, chỉ biết đấm ngực ăn năn và kêu xin lòng thương xót Chúa. Ông bất lực hoàn toàn, chỉ phó thác cho lòng Chúa khoan dung. Ngay lúc đó, ông đã trở nên công chính bên trong. Chính tâm tình ấy mà Chúa đã nhìn xuống và làm cho ông nên công chính.

Như thế, những kẻ cho mình là thánh thiện, là đầy đủ, thì sẽ trở về con số không; còn những kẻ nhận mình là không thì sẽ đủ chỗ cho Đấng Vô Cùng. Vì phàm “Ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống, còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên”.

Lạy Chúa, chúng con có là gì mà chẳng do lòng Chúa thương ban. Xin cho chúng con biết khiêm tốn nhận mình thiếu sót lỗi lầm, để được Chúa xót thương tha thứ.

Xin cho cuộc sống chúng con luôn biết rập theo khuôn mẫu thánh thiện của Đức Kitô là Đấng Công Chính tuyệt đối. Amen.

 

 

Bài 17. Xin thương xót con
ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt

 

Hai người cùng lên đền thờ cầu nguyện. Nhưng kết quả thật bất ngờ. Người mà ai cũng kính trọng thì lại không được nhận lời. Người mà ai cũng khinh miệt thì lại được Chúa nhận lời và được công chính hóa. Qua dụ ngôn này, Chúa cho thấy lời cầu nguyện đẹp lòng Chúa phải là lời cầu nguyện khiêm nhường.

Khiêm nhường không tự mãn

Người biệt phái tự mãn vì những việc tốt mình làm được. Làm được việc tốt thật đáng khen. Nhưng cần phải nhận biết nguồn gốc việc tốt của mình. Biết nguồn gốc việc tốt phải khởi đi từ nhận biết nguồn gốc bản thân mình. Tôi có mặt ở đời là ơn Chúa ban. Tôi thừa hưởng một sức khỏe, một gia đình, một nền giáo dục, một nề nếp đạo đức, đó là ơn Chúa ban. Vì thế tôi làm được việc tốt cũng là ơn lành Chúa ban. Nếu tôi rơi vào một hoàn cảnh xấu, tôi có làm được việc tốt không? Rất khó. Vì thế đừng tự mãn khi làm được việc tốt.

Khiêm nhường không khinh người

Người khiêm nhường nhận biết thân phận mình sẽ không dám khinh người. Tôi làm được việc tốt vì tôi có hoàn cảnh tốt. Người kia làm việc xấu vì họ không có hoàn cảnh tốt như tôi. Vì thế không nên khinh người. Hơn nữa, trong tinh thần bác ái huynh đệ, thấy người hèn kém tôi càng phải yêu thương, nâng đỡ. Thấy người tội lỗi yếu đuối tôi càng phải tế nhị kính trọng. Chúa Giêsu vẫn làm gương trân trọng người tội lỗi như đối với người phụ nữ ngoại tình, đối với Giakêu và cả đối với Giuđa nữa.

Khiêm nhường nhận biết thân phận tội lỗi

Con người đâu có ai hoàn hảo. Huống hồ có những nết xấu đeo đẳng ta mãi không thể dứt ra được. Ta đã ngã đi ngã lại nhiều lần. Biết bao quyết tâm. Biết bao ơn Chúa. Biết bao lời cầu nguyện. Nhưng “một cái dằm” cứ nằm mãi trong thịt khiến ta đau nhức khôn nguôi. Ta không thể nào thoát khỏi tội lỗi. Vì thế tâm tình xứng hợp là khiêm nhường nhận biết thân phận tội lỗi của mình. Khiêm nhường nhận trước mặt Chúa. Khiêm nhường nhận trước mặt anh em. Đó là thái độ trung thực và đúng đắn.

Khiêm nhường xin Chúa ban ơn cứu độ

Vì không thể tự mình thoát khỏi tội lỗi, không thể đạt tới ơn cứu độ, nên ta cần ơn Chúa. Không thể tự giải thoát, nên ta cần Chúa giải thoát ta khỏi ách nô lệ tội lỗi. Thân phận ta thật khốn cùng. Sức lực ta thật yếu đuối. Nên lời cầu nguyện đúng nhất là: “Lạy Chúa, xin thương xót con”. Tương truyền đó là lời cầu nguyện liên lỉ suốt đời của thánh Phêrô, vị Tông đồ trưởng, vị Giáo Hoàng tiên khởi.

Với lời cầu nguyện: “Lạy Chúa, xin thương xót con”, ta nhận biết mình không thể sống công chính tự sức riêng, nhưng chỉ được “công chính hóa” nhờ ơn Chúa. Với lời cầu nguyện: “Lạy Chúa, xin thương xót con”, ta nhận biết ta được ơn Chúa không phải vì ta xứng đáng nhưng vì được Chúa thương yêu. Với lời cầu nguyện: “Lạy Chúa, xin thương xót con”, ta nhận biết rằng lời cầu nguyện khiêm nhường là lời cầu nguyện đẹp lòng Chúa.

“Lạy Chúa, xin thương xót con”

KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG

1) Tôi có hay tự mãn vì mình sống tốt hơn người khác không? Thái độ này có đúng không?

2) Tôi có hay khinh miệt, lên án người khác không? Thái độ này có đúng không?

3) Tại sao tôi phải khiêm nhường khi cầu nguyện?

4) Tôi có một nết xấu thường phạm. Tôi đã xưng tội nhiều lần và quyết tâm chừa cải. Nhưng chứng nào tật ấy. Bạn có cảm nghiệm được điều này nơi bản thân không?

 

 

Bài 18. Chỉ công đức không mua được thiên đàng
Lm. Giuse Nguyễn Thành Long

 

Ngay sau khi dạy cho các môn đệ biết về việc cần thiết phải cầu nguyện luôn luôn và cầu nguyện cách kiên trì, với tất cả lòng tin tưởng (dụ ngôn “Bà goá quấy rầy”), Chúa Giêsu còn dạy các môn đệ biết phải có tâm tình và thái độ nào khi cầu nguyện, qua dụ ngôn “Người biệt phái và người thu thuế”. Đây là một trong những dụ ngôn kinh điển của Tin Mừng Luca. Dụ ngôn đề cập 2 nhân vật chính: người thu thuế và người biệt phái. Cả hai cùng lên Đền Thờ cầu nguyện.

1. Thái độ của người biệt phái khi cầu nguyện là gì?

Người biệt phái đã tự hào cho mình là người công chính. Thế ông đã sống thế nào mà tự cho mình là một người công chính, một “á thánh”? Thưa, ông đã thực hành nghiêm chỉnh những gì luật dạy: không trộm cướp giết người, không tham ô hối lộ, không cờ bạc rượu chè, không xì ke ma tuý, không số đề bia ôm… Nói cách khác, ông chẳng làm gì đáng chê, đáng trách. Ông còn làm những việc đạo đức hơn cả những gì luật dạy: “Mỗi tuần tôi ăn chay hai lần” (Lc 18,12). Trước thời lưu đày Babilon, luật chỉ buộc mỗi năm ăn chay một lần vào dịp Lễ Xá Tội (x. Lv 23,27). Sau lưu đày, người ta đã thêm vào luật một lần ăn chay nữa để tưởng nhớ cảnh Giêrusalem bị tàn phá. Nhưng người biệt phái này tỏ ra rất đạo đức, mỗi tuần tự nguyện ăn chay thêm 2 lần vào ngày Thứ Hai và Thứ Năm (tức là 104 lần/năm) để đền bù những thiếu sót của dân tộc đối với lề luật (x. Tanila Hoàng Đắc Ánh, Bài giảng Chúa Nhật – Tin Mừng theo Thánh Luca, tr. 214). Chưa hết ông còn tự phụ kể lể: “Tôi nộp thuế Thập phân về hết mọi vật tôi mua” (x. Lc 18,12). Luật chỉ buộc dâng một phần mười lợi tức cho các thầy Lê-vi; trong khi đó, người Biệt phái này tình nguyện dâng một phần mười tất cả các thứ, kể cả các thứ ông mua được vốn không buộc phải dâng.

Như vậy, rõ ràng những điều ông làm là rất tốt, tốt hơn điều Thiên Chúa đòi hỏi. Ông là người giữ đạo rất mẫu mực, không có gì đáng chê trách. Có lẽ ông còn mẫu mực hơn nhiều người Công giáo chúng ta gấp bội.

Nhưng vì sao ông lại không đẹp lòng Thiên Chúa? Vì sao Thiên Chúa không nhận lời cầu nguyện của ông? Thưa vì 2 lý do:

Lý do thứ nhất, vì ông đã tự mãn tự phụ và kể công trước mặt Thiên Chúa, như thể sự công chính ông đang có là nhờ vào công trạng của mình, và như thể Thiên Chúa mắc nợ ông, vì thế Thiên Chúa phải trả công, phải ban thưởng cho ông. Ông lầm tưởng rằng với công đức của mình, ông có thể mua được Nước Thiên Đàng.

Lý do thứ hai là vì ông tự cao tự đại, cậy dựa vào công đức của mình mà khinh thường người khác. Đại khái ông đã vênh váo: “Lạy Chúa, con không giống như thằng thu thuế khốn nạn đáng sa hoả ngục, đang đứng cuối nhà thờ kia kìa! Chắc là Chúa thấy nó rồi đó”. Rõ là ông không hề biết đấm ngực mình mà chỉ đấm ngực người khác.

Như thế, động cơ của những việc đạo đức ông làm là để tỏ ra mình là người công chính, chứ không phải là do lòng yêu mến. Ông chẳng mến Chúa mà cũng chẳng yêu người. Chính vì thế mà khi ra về, chẳng những ông không được tha thứ mà còn mắc thêm tội: tội kiêu ngạo. Ngược lại, người thu thuế tội lỗi thì được tha thứ và được nên công chính.

2. Thái độ của người thu thuế như thế nào mà lại được Thiên Chúa tha thứ và được nên công chính?

Có phải là do anh ta đã có nhiều công trạng đặc biệt không? Có phải do anh ta là người đạo đức và bác ái không? Hoàn toàn không ! Anh ta chẳng có công trạng gì, ngoài một “mớ tội” công khai. Bởi lẽ theo cái nhìn thời bấy giờ, tất cả những người thu thuế đều bị liệt vào hạng người tội lỗi công khai đáng khinh bỉ, hạng mọt dân bán nước, tiếp tay với ngoại bang bóc lột chính đồng bào của mình…. Vậy thì do đâu mà anh ta được nên công chính, như lời Chúa Giêsu quả quyết ở đoạn cuối Tin Mừng: “Người thu thuế được nên công chính, còn người pharisêu thì không”? (x. Lc 18,14). Do trước mặt Chúa, anh biết khiêm tốn nhìn nhận mình là kẻ tội lỗi. Thể hiện qua các cử chỉ: đứng xa xa mà không dám tới gần cung thánh, cúi đầu, đấm ngực… Tất nhiên là đấm ngực chính mình, chứ không phải đấm ngực người khác như người Biệt phái. Hơn nữa, còn do anh biết giục lòng thống hối ăn năn một cách sâu xa, và tha thiết kêu xin lòng thương xót thứ tha của Thiên Chúa: “Lạy Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi” (Lc 18,13). Chỉ với một lời cầu xin ngắn gọn, có thể nói được là ngắn gọn nhất, mà anh lại được trở nên công chính. Thế mới hay lời Chúa Giêsu đã từng tuyên bố: “Phàm ai nâng mình lên, sẽ bị hạ xuống, còn ai hạ mình xuống sẽ được nâng lên” (Lc 18,14).

3. Phần chúng ta thì sao?

Chúng ta nên bắt chước thái độ của người nào khi chúng ta cầu nguyện? Của người biệt phái hay của người thu thuế? Có khi nào tôi rơi vào thái độ của người Pharisiêu không? Có đấy ! Đó những lúc tôi đã gân cổ tranh cãi với người khác: “Tao đúng, mày sai; tao có lý, mày vô lý”… Đó là những lúc tôi bỉu môi, lên tiếng chê bai những người mà tôi cho là xấu xa, đáng trách. Đó là những lúc tôi tự cao tự đại vì thấy mình hơn người nào đó về nhiều mặt: đẹp trai hơn, xinh gái hơn, học giỏi hơn, con nhà giàu có hơn, v.v… Như vậy tôi chính là người Biệt phái đứng nghênh ngang trong Đền Thờ và khoe công trạng của mình với Chúa. Chúa không cần những cái đấm ngực thình thịch “lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng”. Chúa cũng chẳng cần công trạng của tôi. Chúa chỉ cần tấm lòng khiêm nhường thống hối của tôi.

Xin Chúa cho mỗi người chúng ta luôn biết khiêm cung để nhận ra mình cũng đầy những thói hư tật xấu, đầy lỗi tội, để hiểu và cảm thông với anh chị em mình hơn, nhất là để biết xin Chúa thứ tha và biết cất lời ngợi khen một mình Chúa là Thiên Chúa, là Đấng Thánh, ngàn trùng chí thánh. Amen.

 

 

Bài 19. Ai là người công chính?
Lm. Antôn Nguyễn Văn Tiếng

 

LỜI CẦU CỦA NGƯỜI PHARISÊU

“Người Pharisêu đứng thẳng, nguyện thầm rằng: ‘Lạy Thiên Chúa, xin tạ ơn Chúa, vì con không như bao kẻ khác: tham lam, bất chính, ngoại tình, hoặc như tên thu thuế kia. Con ăn chay mỗi tuần hai lần, con dâng cho Chúa một phần mười thu nhập của con.’” (Lc.18,9-12).

Mở đầu cho lời cầu nguyện, sau khi chào Chúa bằng hai tiếng “tạ ơn”, ông liền thực hiện một cuộc so sánh giữa mình và “người thu thuế” để hình ảnh mình được nổi bật, và nhờ đó Chúa “thấy rõ” được sự “công chính” của mình thật “không thể chê vào đâu được”!

Trong cách so sánh này, người Pharisêu thật như một họa sĩ sành điệu. Trước tiên, ông cho gam màu đen tối bao quanh bằng những hình ảnh của phường “tội lỗi”, điển hình như tên thu thuế kia: “con không như bao kẻ khác: tham lam, bất chính, ngoại tình, hoặc như tên thu thuế kia”, để rồi, ngay sau đó, ông tô đậm hình ảnh của ông với gam màu rực sáng bằng những công đức mà ông đã tự thấy mình đã chu toàn hoàn hảo: “Con ăn chay mỗi tuần hai lần, con dâng cho Chúa một phần mười thu nhập của con.”

Người Pharisêu cố tạo cho mình hình ảnh “rực sáng”, và tất nhiên là muốn “tỏa sáng” giữa “bao kẻ khác”, từ đó, người Pharisêu có dáng đứng đầy tự hào, đầy kiêu hãnh – “đứng thẳng” – khi cầu nguyện. Cung cách cầu nguyện của người Pharisêu tương tự như cung cách của người ngồi vào vòng “đàm phán” với đối phương với tư thế “mạnh” của kẻ đang nắm ưu thế, đầy tự tin, đặt sệt tự tôn.

Cách cầu nguyện như vậy, giống hệt cách cầu nguyện mà Chúa Giêsu đã từng dạy các môn đệ của Ngài phải xa lánh: “Và khi cầu nguyện, anh em đừng làm như bọn đạo đức giả : Chúng thích đứng cầu nguyện trong các hội đường, hoặc ngoài các ngã ba ngã tư, cho người ta thấy” (Mt.6,5).

Cầu nguyện kiểu như Pharisêu là lời cầu nguyện để “vinh danh chính mình” chứ không phải “vinh danh Thiên Chúa”. Vì họ “tự nhận” và “tự tôn” họ đã nên công chính rồi.

Chính vì thấy mình đã nên công chính, nên họ trở nên mù lòa không còn nhận ra mình là kiếp người tội lỗi nữa. “Nhân vô thập toàn”. “Bảy mươi chưa gọi mình lành”… Những người Pharisêu không còn thấy được những thiếu sót của thân phận con người. Và sự đui mù tệ hại nhất, đó là họ không còn thấy sự kiêu căng nơi con người của họ. Một khối kiêu căng to đùng ở trong chính tâm hồn họ, mà họ vẫn không thấy, họ vẫn cho rằng lòng họ đạo đức và trong sáng. “Nếu các ông đui mù, thì các ông đã chẳng có tội. Nhưng giờ đây các ông nói rằng: ‘chúng tôi thấy’, nên tội các ông vẫn còn” (Ga 9,40).

Vì họ tự cho mình có công đức, nên họ cho rằng đương nhiên là họ được Chúa ban ơn. Nên lời cầu nguyện của họ tuyệt nhiên không thấy kêu cầu đến lòng thương xót của Chúa, mà chỉ khoe khoang và phô trương công đức.

Vì họ cho mình là người công chính, nên họ khinh thường và loại trừ anh em đồng loại. Họ tự cho mình quyền được hưởng những ơn lộc Thiên Chúa, và xua đuổi anh em đồng loại ra khỏi con tim của họ. Họ từ bỏ anh em đồng loại của họ. Từ bỏ có nghĩa là không thể tha thứ. Không tha thứ cho anh em được, thì Thiên Chúa cũng không tha thứ cho con người. “Thật vậy, nếu anh em tha lỗi cho người ta, thì Cha anh em trên trời cũng sẽ tha thứ cho anh em. Nhưng nếu anh em không tha thứ cho người ta, thì Cha anh em cũng sẽ không tha lỗi cho anh em” (Mt.6,14).

Nếu không được Thiên Chúa thứ tha, con người không thể trở nên công chính. Vì con người chỉ có thể nên công chính, khi con người được là con Thiên Chúa.

LỜI CẦU CỦA NGƯỜI THU THUẾ

“Còn người thu thuế thì đứng đằng xa, thậm chí chẳng dám ngước mắt lên trời, nhưng vừa đấm ngực vừa thưa rằng: “Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi.” (Lc18,13).

Sau khi kêu cầu đến thánh danh Chúa, là lời van xin Chúa thương xót. Thật ngắn gọn. Có thể người thu thuế không còn biết nói gì thêm! Vì anh chắc đã tin rằng Chúa đã hiểu thấu nỗi lòng của anh. “Khi cầu nguyện, anh em đừng lải nhải như dân ngoại; họ nghĩ rằng: cứ nói nhiều là được nhận lời. Đừng bắt chước họ, vì Cha anh em đã biết rõ anh em cần gì, trước khi anh em cầu xin” (Mt.6,7).

Người thu thuế đang cần gì? – Cần Chúa thương tha thứ.

Xin thương xót là khát khao được Chúa thứ tha những lỗi lầm. Khát khao được thứ tha, là khát khao được vẫn là con Chúa.

Khát khao được vẫn là con Chúa, là nhìn ra thân phận bọt bèo, tro bụi, chẳng nghĩa lý gì, nếu không có Chúa. Điều ấy, cũng có nghĩa là nói lên: “con mãi mãi cần đến Chúa”.

Tâm tình ấy từng bước vươn lên, để từ những lời van xin biến thành những lời ca tụng. Từ những giọt nước mắt ăn năn biến thành những nụ cười hạnh phúc. Từ cử chỉ ngại ngùng khép nép “đứng đằng xa”, đến việc được Chúa ôm vào lòng tràn đầy yêu thương tha thứ.

Và thế là tình yêu Thiên Chúa được ca tụng đến muôn đời.

Vậy, lời kêu xin Thiên Chúa thương xót chính là lời ca tụng tuyệt vời, như lời Chúa Giêsu tóm gọn trong giáo huấn của Ngài: “Yêu thương như Thầy”.

Tin tưởng vào tình yêu Thiên Chúa và biết múc nguồn tình yêu Thiên Chúa để chia sẻ với tha nhân, con người sẽ không có sự lên án nhau, không có sự loại trừ nhau.

Lời nguyện cầu của người thu thuế được đón nhận. Ông trở nên công chính từ giọt lệ thành tâm sám hối. “Tôi nói cho các ông biết: người này, khi trở xuống mà về nhà, thì đã được nên công chính rồi; còn người kia thì không” (Lc.18, 14).

ĐỂ KẾT LUẬN

Trong dòng đời, ai biết ai công chính, ai biết ai tội lỗi?

Có những người trông thật công chính lại cực kỳ gian xảo! Có những tên trông gian manh nhưng lòng lại rất chân thành! Có những người ở địa vị cao trông rất đạo mạo lại có những hành động lừa đảo, dã tâm. Có những tên vô danh tiểu tốt lại âm thầm làm việc chân thiện hết lòng hết dạ!

Nhận ra thiện ác đã là khó, nhận ra người thiện người ác lại càng khó hơn!

Nhận ra hàng thiệt hàng giả đã là khó, nhận ra người thiệt người giả lại càng khó hơn!

Ai là người công chính? Đừng vội trả lời. Đừng vội xét đoán. (Lc.6,37). Chỉ có Thiên Chúa, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, mới có quyền kết luận. (Mt.6,4).

Trong Khổng Tử Gia Ngữ có câu chuyện “Thế nào là kẻ trộm” như thế này: Tử Cống được bổ làm quan Tể Tướng ở xứ Tín Dương. Khi sắp đi nhận chức, đến từ biệt Khổng Tử. Khổng Tử nhân bảo Tử Cống: – Phải siêng năng, phải cẩn thận. Chớ cướp, chớ đánh, chớ bạo tàn, chớ trộm cắp…

Tử Cống đáp: – Tứ này ngay từ lúc nhỏ đã theo học thầy là bực quân tử, có khi nào lại trộm cắp để lụy đến thân?

Khổng Tử nói: – Ngươi chưa hiểu nghĩa.

Ôi! đem người hiền đức này để thay người hiền đức kia, thế là cướp. Đem kẻ bất tiếu này để thay kẻ bất tiếu kia, thế là đánh đập. Hờ hững mệnh lệnh mà gấp rút hình phạt, thế là tàn bạo. Nhận ra điều thiện của người để làm ra điều thiện của mình, thế là trộm cắp. Trộm cắp đây không phải là trộm cắp tiền của vậy!

Lạy Chúa, Con yếu đuối quá, xin thương xót con, xin biến đổi sự yếu đuối của con thành sức mạnh cho cuộc đời con, tất cả nhờ lòng thương xót của Chúa. Amen.

 

 

Bài 20. CÚI MÌNH XUỐNG
Lm Giuse Nguyễn Hữu An

 

Dụ ngôn người Biệt phái và Thu thuế lên Đền thờ cầu nguyện cho thấy sự tương phản giữa hai thái độ của con người trước tình yêu thương bao la của Thiên Chúa.

Người Biệt phái là nhân vật được xã hội đương thời kính trọng, vì thuộc thành phần nhiệt tâm giữ luật, thực thi đức ái hơn nguời khác. Người thu thuế, kẻ bị xã hội mạt sát, khinh chê.

Hai mẫu người đối lập cùng bước vào Đền thờ và làm cùng một công việc là cầu nguyện. Tại đây, sự tương phản giữa hai con người trở nên rõ nét khi tâm tính và thái độ sâu kín được bộc bạch trước nhan Thiên Chúa.

Người Biệt phái ung dung tự tại, đứng thẳng cầu nguyện : Lạy Thiên Chúa, con cảm tạ Chúa vì con không giống các người khác, không tham lam, không bất công, không ngoại tình hay như tên thu thuế kia. Con ăn chay mỗi tuần hai lần, dâng một phần mười thu nhập của con. Người Biệt phái đang báo cáo thành tích. Ông nói điều ông đã làm và những gì ông làm thì không chê vào đâu được: không gian tham, không chiếm đoạt, không rối vợ rối chồng, không đam mê tội lỗi, thậm chí về phần đạo đức bác ái, ông còn làm quá điều luật dạy.Thường người ta chỉ ăn chay một ngày trong năm vào dịp lễ Sám hối, đàng này ông ăn chay hai ngày trong tuần. Luật buộc các nông dân nộp một phần mười sản phẩm cho việc phụng tự, ông lại nộp thuế thập phân tất cả thu nhập của ông. Đây là lời cầu nguyện mà nhiều người Do thái thời ấy mơ ước. Không thấy ông xin gì cho bản thân. Lời cầu nguyện chỉ là lời tạ ơn. Điều đáng tiếc là lời cầu nguyện của ông đầy nét tự hào, tự mãn và khinh bỉ tha nhân : Vì tôi không như bao người khác, tôi không như tên thu thuế kia. Rõ ràng người Biệt phái tốt lành quảng đại nhưng lại tự phụ khoe khoang, khinh người. Đây là biểu tượng cho hạng người hay chúc tụng, tôn thờ bản thân mình. Thật đúng, kiêu căng đứng trước trong danh sách bảy mối tội đầu.

Người thu thuế đến thú tội, anh ý thức mình là tội nhân nên run rẩy xấu hổ, đầu cúi xuống chẳng dám ngước lên. Anh đã nghe thấy lời cầu nguyện của người Pharisiêu (hay như tên thu thuế kia), nên anh thấy khỏi cần cáo tội mình. Anh chỉ còn đặt mình trước nhan Thiên Chúa một cách trung thực và khẩn khoản nài xin : Lạy Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi. Điều anh khao khát là được Thiên Chúa tha thứ và được làm hoà với anh em. Anh chỉ đứng xa xa vì thấy mình bất xứng. Lời cầu hết lòng khiêm tốn đó có sức an ủi anh ngọt ngào biết bao. Anh cảm thấy đầy niềm tin tưởng vào lòng từ bi nhân hậu của Thiên Chúa, vì anh biết rằng : dù tội lỗi như Aaron đúc bò vàng cho toàn dân thờ, dù thủ đoạn như vua Đavít đã cướp vợ giết chồng người khác nhưng họ đã hết lòng ăn năn sám hối và Thiên Chúa đã sẵn lòng tha thứ; dẫu rằng cả toàn dân bỏ Chúa và bị bắt lưu đày Babylon, lại bị thủ tướng Aman ra tay diệt trừ nhưng trong cơn cùng khốn như thế, hoàng hậu Ette cùng toàn dân đã biết ăn năn sám hối tội lỗi, Thiên Chúa đã ra tay giải thoát họ; hay tội lỗi như dân ngoại Ninivê, Thiên Chúa còn thương, bắt buộc Ngôn sứ Giona đến rao giảng cho họ biết cải tà qui chính, Thiên Chúa liền tha thứ cho họ khi họ sám hối chân thành. Thấy tất cả những sự kiện lịch sử thống hối đó, người thu thuế càng thêm tin tưởng vào lòng thương xót khoan dung cùa Thiên Chúa, anh càng đấm ngực hết lòng ăn năn.

Đức Giêsu kết luận: Người thu thuế trở nên công chính còn người biệt phái thì không được… Ai nâng mình lên sẽ bị hạ xuống, ai hạ mình xuống sẽ được nâng lên.

Người thu thuế ra về và được tha hết mọi tội, tâm hồn thành trắng trong.

Người biệt phái ra về tội lỗi vẫn cứ còn đó.Cái tôi nặng quá nên còn phải gánh thêm sức nặng của tội lỗi nữa, thật đáng thương cho đời một người quá tự kiêu tự mãn.

Tội lỗi hay hành động xấu không làm người ta mất sự công chính cho bằng tính tự mãn thói kiêu căng. Người thu thuế đã thật sự phạm nhiều tội lỗi nên đã làm mất đi sự công chính, nhưng hành động khiêm tốn biết nhìn nhận mình tội lỗi và hết lòng thống hối nên được công chính trước Thiên Chúa.

Khiêm nhường có khả năng biến tội lỗi thành thánh thiện, bất chính thành công chính.Trái lại, kiêu ngạo tự mãn có thể biết điều tốt thành điều xấu.

Khiêm nhường, tự hạ, quên mình luôn được coi là nền tảng của sự thánh thiện, là gốc rễ của các nhân đức. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô I đã nói : Trên thiên đàng không thiếu bọn thu thuế và gái điếm, nhưng không có kẻ kiêu ngạo. Dưới hoả ngục có cả Hồng Y, Giám mục nhưng không có người khiêm nhường.

Khiêm nhường bao nhiêu cũng không đủ, chỉ một chút kiêu ngạo cũng quá nhiều. Đừng vì mình đạo đức mà khép kín trong tự mãn, cũng đừng vì mình tội lỗi mà khép kín trong tuyệt vọng. Ơn Chúa chỉ đến với người biết mở tâm hồn ra để đón nhận. Tội lỗi hay công đức đều có thể làm ta khép lại hay mở ra. Điều quan trọng là thấy mình luôn luôn cần Chúa.

Sự triển nở trong đời sống thiêng liêng nằm chỗ là ta trở nên nhỏ lại, là nhường bước để cho Chúa xâm chiếm và chi phối trọn vẹn đời ta. Càng lớn lên trong Chúa, ta càng cảm thấy một cách mạnh mẽ rằng mình cần đến Chúa ngày một hơn.

Một Đấng Thánh vĩ đại như Phaolô mà đã tự nhận mình là kẻ thấp hèn nhất (1Cor 15,9); một ngôi sao chói lọi trong công việc bác ái từ thiện như Thánh Vincent Phaolô mà cũng đã tự gọi mình là người thấp hèn nhất trần gian thì huống là chúng ta! Người tự cao tự đại không thể cầu nguyện được. Cửa thiên đàng hẹp và thấp, chỉ quì xuống mới vào được mà thôi. Thiên Chúa luôn chống lại kẻ kiêu ngạo, nhưng luôn ban ơn cho kẻ khiêm nhường (x. Gc 4,6; 1Pr 5,5).

Tại Đền Thờ Thánh Phêrô có một bức tượng Chúa Chịu Nạn do Thorvaldsen(1770-1844)nhà điêu khắc Đan Mạch nổi tiếng thực hiện. Ngày kia, một du khách đến viếng bức tượng, ông ta nhìn mãi rồi lắc đầu nói : tôi nghe đồn bức tượng này nổi tiếng là đẹp lắm nhưng tôi chẳng thấy có gì đẹp cả. Một người quỳ sau lưng ông nói : Ông phải quì gối xuống mới thấy đẹp. Ông du khách liền quì gối. Bây giờ ông mới khám phá ra vẻ đẹp lôi cuốn của bức tượng Chúa Chịu Nạn. Muốn gặp gỡ Chúa, muốn đón nhận lòng thương xót của Người, con người cần quì gối với tâm tình khiêm tốn.

Đức Cha Fulton J. Sheen viết trong cuốn “Người Galilê vĩnh cửu”: Chúa Giêsu không sinh ra ở giữa trời, nơi người ta có thể đứng thẳng, nhưng Ngài giáng sinh trong hang đá, nơi người ta phải cúi mình để đi vào. Đó là một cử chỉ khiêm nhường. Một số người quá tự mãn không hạ mình sẽ không thấy được niềm vui bên trong hang đá. Các mục đồng và các đạo sĩ đủ đơn sơ để nghiêng mình xuống. Khi làm như thế, họ thấy mình không ở trong một cái hang, nhưng ở trong một thế giới khác. Tại đó, một người nữ diễm lệ, đầu đội mặt trời, chân đạp mặt trăng, và cánh tay ẵm Hài Nhi, Đấng dùng những ngón tay bé nhỏ của mình nâng đỡ trái đất, nơi chúng ta đang sống. Và khi các mục đồng và các đạo sĩ quỳ gối, tôi tự hỏi : không biết những người thông thái ghen với những người đơn sơ, hay những người đơn sơ ghen với những người thông thái ? Tôi hướng tới xác tín rằng : các đạo sĩ ghen với các mục đồng, bởi vì con đường của các mục đồng ngắn hơn, họ tìm thấy sự khôn ngoan là chính Thiên Chúa mau hơn.

Tin Mừng hôm nay đề cao lời cầu nguyện khiêm nhường của người thu thuế, không nhìn sang người khác, không so sánh mình với kẻ khác, nhưng nhìn vào chính mình và so sánh mình với mẫu gương của Chúa, qua đó anh đã khám phá ra những khuyết điểm bản thân rồi khiêm tốn chấp nhận. “Lạy Chúa ! Xin thương xót con”. Lời cầu nguyện của người thu thuế thật đơn giản. Ý thức được thân phận yếu hèn tội lỗi của mình, anh hoàn toàn cậy dựa vào lòng thương xót của Chúa. Đó là lời cầu nguyện của người ở trong sự thật và được sự thật giải thoát khỏi tội lỗi. Lời cầu nguyện khiêm nhường là lời cầu nguyện đẹp lòng Chúa. Sách huấn ca dạy: “ Lời cầu nguyện của người khiêm tốn xuyên thấu các tầng mây” (Hc 35,17). Sách giáo lý cũng dạy: “Khiêm tốn là thái độ căn bản phải có để đón nhận ơn cầu nguyện” (GLCG số 1559).

Lạy Chúa Giêsu, chúng con có là gì mà chẳng do Chúa thương ban. Xin cho chúng con biết khiêm tốn nhận mình thiếu sót lỗi lầm để luôn được Chúa xót thương tha thứ.

Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã sống một cuộc đời rất khiêm nhường, đầy tinh thần tự hủy và vị tha tới tận cùng, xin cho chúng con biết sống quên mình, tự hạ, yêu thương và hòa đồng với tất cả mọi người chung quanh con. Amen.

 

 

Bài 21. KHIÊM NHƯỜNG TRONG CẦU NGUYỆN VÀ ĐỜI SỐNG
Lm. Đan Vinh

 

I. HỌC LỜI CHÚA

1. TIN MỪNG: Lc 18,9-14

2. Ý CHÍNH:

Nhằm dạy bài học khiêm nhường, Đức Giê-su đã kể dụ ngôn về hai người lên đền thờ cầu nguyện. Trong đó người Pha-ri-sêu đã kiêu ngạo khi cầu nguyện chỉ trích tha nhân và tự đề cao bản thân. Đang khi người thu thuế khiêm tốn xin Chúa tha tội và chỉ biết cậy trông vào lòng thương xót của Thiên Chúa. Cuối cùng Đức Giê-su kết luận: người Pha-ri-sêu kiêu căng sẽ bị Thiên Chúa hạ xuống, còn người thu thuế khiêm hạ sẽ được Thiên Chúa tôn vinh.

3. CHÚ THÍCH:

- C 9-10: + Có hai người lên đền thờ cầu nguyệnĐền thờ là nơi người Do thái cầu nguyện. Người ta tụ tập ở Đền thờ vào các ngày Sa-bát, ngày Lễ, ngày Chay… để nghe đọc Thánh kinh, hát Thánh vịnh và cầu nguyện chung. Tuy nhiên mọi người đều có thể vào Đền Thờ cầu nguyện riêng khi mở cửa. Một người thuộc nhóm Pha-ri-sêu: Đây là nhóm người tự tách mình ra khỏi quần chúng. Họ giữ Luật cặn kẽ chi tiết và thường tự hào cho mình là công chính. Tuy nhiên họ làm mọi điều tốt nhằm tìm tiếng khen hơn là vì lòng mến Chúa thực sự. Vì thế họ cố tình đeo những hộp kinh thật lớn, mang những tua áo thật dài, ưa ngồi cỗ nhất trong đám tiệc, chiếm hàng ghế đầu trong hội đường, ưa được chào hỏi ở nơi công cộng và muốn được dân chúng xưng hô là “Thầy” (Ráp-bi) (x. Mt 23,5-7). Còn người kia làm nghề thu thuế: Đây là hạng người bị dân chúng đồng hóa với những kẻ tội lỗi và bị khinh dể xa lánh, vì đã cộng tác với chính quyền Rô-ma. Đồng thời còn tham lam, thường ăn chặn tiền thu thuế của người dân đóng góp để làm giàu cách bất chính.

- C 11-12: + Người Pha-ri-sêu đứng riêng một mình…: Pha-ri-sêu có nghĩa là tách biệt. Ở đây người Pha-ri-sêu đã tự tách ra khỏi những người Do thái khác khi đến cầu nguyện tại Đền thờ. + Xin tạ ơn Chúa vì con không như bao kẻ khác: tham lam, bất chính, ngoại tình, hoặc như tên thu thuế kia…: Người Pha-ri-sêu này đã cầu nguyện phê phán người khác về các tội cụ thể như tham lam, bất công, ngoại tình hay tội làm đầy tớ cho ngoại bang như người thu thuế đang đứng cuối Đền thờ. + Con ăn chay mỗi tuần hai lần: Luật chỉ buộc người Do thái ăn chay vào lễ Xá Tội tức là ngày 10 tháng 7 hàng năm (x. Lv 16,29). Tuy nhiên, mỗi tuần những người Pha-ri-sêu còn tự nguyện ăn chay thêm hai ngày khác là thứ Hai và thứ Năm, và họ hãnh diện nghĩ mình đạo đức hơn người khác về việc này (x. Lc 5,33). + Con dâng cho Chúa một phần mưới thu nhập của con: Người Do thái công nhận Thiên Chúa đã ban lương thực cho mình, nên họ bày tỏ lòng biết ơn bằng việc dâng lên Chúa những hoa quả đầu mùa. Luật qui định phải nộp thuế “thập phân” (một phần mười), đánh trên các hoa màu như lúa mì, rượu mới, dầu tươi và cả những con vật đầu lòng trong đàn bò và chiên dê (x. Đnl 14,22-23). Ngoài ra họ còn tình nguyện nộp thêm phần thuế về các thứ rau quả khác nữa (x. Lc 11,42). Tóm lại, người Pha-ri-sêu này lên Đền thờ không phải để xin Chúa tha tội mà để khoe với Chúa về những điều tốt ông ta đã làm được hơn người khác để đòi Chúa phải trả công cho mình.

- C 13-14): + Còn người thu thuế thì đứng đàng xa…: Người thu thuế chỉ biết thú nhận những tội lỗi đã phạm. Ông cảm thấy xấu hổ nên không dám đến gần gian thánh, đứng cúi mình trước bàn thờ không dám đứng thẳng như người Pha-ri-sêu. + Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi: Ong ta chỉ biết đấm ngực ăn năn về các tội lỗi đã phạm và xin Chúa tha thứ tội lỗi như lời Thánh vịnh 50 của vua Đa-vít. Chính nhờ thái độ khiêm tốn ấy mà ông đã được Chúa ban ơn cứu độ. + Phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống, còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên: Câu này đã có ở Lc 14,11 và được Lu-ca thêm vào đây để kêu gọi người ta sống khiêm tốn dựa vào ân sủng của Thiên Chúa. Vì trong lịch sử Ít-ra-en, Đức Chúa thường hạ bệ những ai quyền thế và nâng cao mọi kẻ khiêm nhu (x. Lc 1,25).

4. CÂU HỎI: 1Phân biệt lối sống của người Pha-ri-sêu (Biệt phái) và người thu thuế thời Đức Giê-su giống và khác nhau thế nào? 2Lời người Pha-ri-sêu cầu nguyện trong Tin Mừng hôm nay có đẹp lòng Chúa không? Tại sao? 3) Lý do khiến Đức Giê-su tỏ lòng khoan dung nhân hậu với người thu thuế tội lỗivà nghiêm khắc với người Pha-ri-sêu là gì?

II. SỐNG LỜI CHÚA

1. LỜI CHÚA: Còn người thu thuế thì đứng đàng xa, thậm chí chẳng dám ngước mắt lên trời, nhưng vừa đấm ngực vừa thưa rằng: “Lạy Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi” (Lc 18,13).

2. CÂU CHUYỆN: TẠI SAO MA QUỶ KHÔNG ĐƯỢC CHÚA THỨ THA?

Một hôm có một tên quỷ kia chạy đến trước mặt Thiên Chúa mà thưa rằng: “Tôi thấy Chúa đối xử không công bằng chút nào!”. Chúa liền hỏi nó: “Tại sao ngươi lại dám bảo Ta đối xử không công bằng?” Bấy giờ tên quỷ kia mới đáp: “Chúa thấy đó, loài người phạm rất nhiều tội lỗi lớn lao, và chúng đều phạm đi phạm lại nhiều lần. Thế mà lần nào Chúa cũng tha thứ cho chúng và còn ban cho chúng hạnh phúc thiên đang đời đời. Còn chúng tôi chỉ phạm tội một lần duy nhất. Thế mà Chúa không những không tha mà còn phạt chúng tôi phải sa hỏa ngục muôn đời. Như vậy chẳng phải là Chúa đã thiên vị và bất công lắm sao?” Bấy giờ Chúa mới ôn tồn nói với tên quỷ rằng: “Loài người có phạm tội không vâng lời Ta thật, và vì yếu đuối mà chúng đã sai phạm nhiều lần thật. Nhưng sau mỗi lần phạm tội, chúng đều hồi tâm sám hối và khiêm tốn chạy đến xin Ta tha cho. Còn lũ quỷ các ngươi, có bao giờ các ngươi chịu hồi tâm sám hối và xin Ta tha tội hay chưa?” Nghe thấy Chúa đòi hỏi phải ăn năn sám hối và cầu xin tha tội, tên quỷ liền thét lên rằng: “Lòai quỷ chúng ta không đời nào lại hèn hạ ăn năn sám hối và cũng không cần phải xin ai tha tội cả”. Nói thế rồi quỷ liền cong đuôi chạy mất.

3. SUY NIỆM:

Khi nghe Đức Giê-su kết luận người thu thuế tội lỗi ra về được nên công chính, còn người biệt phái nhiều công đức thì không, chắc hẳn nhiều người hiện diện phải ngạc nhiên. Vì người biệt phái xem ra là người mẫu mực trong việc tuân giữ Lề Luật và không phạm phải các tội xấu xa. Ông ta còn làm nhiều hơn Luật dạy khi tự nguyện ăn chay và bố thí. Vậy tại sao Đức Giê-su lại không chấp nhận lời cầu của ông ta? Tại sao Chúa lại ưu ái người thu thuế tội lỗi, ngay khi anh ta chưa từ bỏ cái nghề tồi tệ đó, và không đả động đến việc đền bù các thiệt hại đã gây ra cho tha nhân? Chúng ta cân làm gì để diệt trừ thói kiêu ngạo tự ái cao và thực tập khiêm nhường phục vụ?

1. Nguyên nhân lời cầu của người biệt phái không được chấp nhận:

- Chúng ta phải thừa nhận rằng: Người biệt phái đây là một người tốt, một tín hữu trung thành với Lề Luật. Chỉ tiếc một điều là do tính tự mãn mà bao nhiêu việc tốt anh làm đươc đã bị trôi ra sông ra biển hết. Do cái tôi quá to, nên anh chỉ thấy con người của mình mà không thấy Chúa. Anh coi thành quả đạt được là do tài đức cá nhân, chứ không do ơn Chúa giúp. Giá như anh biết đối chiếu với cuộc đời Đức Giê-su, thì có lẽ anh đã nhận ra sự thiếu sót lớn lao của mình, để không dam khinh thường người khác, và sẽ biết cầu xin lòng khoan dung tha thứ của Chúa.

- Lời cầu nguyện của người biệt phái không được chấp nhận là do anh ta đã “đứng riêng một mình” và cầu nguyện to tiếng với nội dung khinh thường người khác và đề cao bản thân để xin Thiên Chúa trả công cho anh: “Con xin tạ ơn Chúa, vì con không như bao kẻ khác: tham lam, bất chính, ngoại tình, hoặc như tên thu thuế kia. Con ăn chay mỗi tuần hai lần. Con dâng cho Chúa một phần mười thu nhập của con” (Lc, 8,11).

- Tuy nhiên, con người “nhân vô thập toàn”: Người biệt phái cũng có các tội như: tự mãn, kiêu căng, khinh thường người khác… Nhưng anh ta lại không ý thức về các tội đó. Anh ta không nhận ra mình cũng là tội nhân như người thu thuế mà anh khinh thường. Anh đã không nhận ra sự công chính là do ơn Chúa ban như thánh Phao-lô dạy : “Tôi được như vậy không phải nhờ sự công chính của tôi, sự công chính do Luật Mô-sê đem lại, nhưng nhờ sự công chính do lòng tin vào Đức Ki-tô, tức là sự công chính do Thiên Chúa ban, dựa trên lòng tin” (Pl 3,9). Chính do tự mãn kiêu ngạo mà anh bị mất ơn nghĩa với Chúa và không còn công chính nữa.

2. Nguyên nhân người thu thuế được Chúa xót thương:

- Người thu thuế cảm thấy xấu hổ về tội lỗi của mình, nên chỉ dám đứng đàng xa, thậm chí chẳng dám ngước mặt lên trời, nhưng vừa đấm ngực vừa thưa với Chúa rằng: “Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi”. Anh ta cảm thấy bất lực hoàn toàn, chỉ biết phó thác cho lòng Chúa thương xót. Chính nhờ tâm tình ấy mà Chúa đã đoái thương nhìn đến anh và ban ơn thánh giúp anh hoán cải nên công chính.

- Thái độ khiêm cung và lời cầu nguyện sám hối của anh thu thuế cho thấy anh đã mở cửa lòng đón Chúa. Chúa đã vào nhà linh hồn anh ban ơn tha thứ và biến đổi anh nên công chính đẹp lòng Thiên Chúa. Người thu thuế đã ý thức về tình trạng tội lỗi của mình, nên không dám ngước mắt nhìn lên Chúa, chỉ biết cúi đầu đấm ngực ăn năn và kêu xin lòng thương xót của Chúa. Nhờ đó, anh đã nên công chính như lời Đức Giê-su: “Người này, khi trở xuống mà về nhà, thì đã được nên công chính rồi”.

3. Chúng ta phải làm gì?

- Cần tránh lối cầu nguyện biệt phái: Có lẽ nhiều người trong chúng ta cũng có thái độ tự mãn như người biệt phái xưa đã thưa với Chúa rằng: “Xin tạ ơn Chúa, vì con không như bao kẻ khác”. Nhiều lần chúng ta đã đổ tội cho người khác hơn là khiêm tốn nhận tội như lời kinh cáo mình: “Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng”. Nhiều lần trong tòa xá giải chúng ta đã dài dòng kể tội của người thân trong gia đình hay tội của người hàng xóm đã phạm đến mình, đang khi lẽ ra phải khiêm nhường xưng thú tội lỗi mình đã phạm để cầu xin Chúa tha thứ.

- Cần tập cầu nguyện khiêm hạ như người thu thuê: Người thu thuế trong Tin Mừng hôm nay đã bày tỏ thiện chí và muốn được ơn thứ tha bằng việc lên Đền thờ cầu nguyện. Tuy nhiên, anh cũng ý thức các tội lỗi của mình khó được Chúa tha, vì theo Luật Mô-sê: một người lỗi phép công bình muốn được tha thì trước hết phải thanh toán hết số nợ. Ngoài ra còn phải bồi thường thiệt hại cho chủ nợ thêm 1/5 nữa. Anh thu thuế này không có khả năng làm như thế. Dù vậy, anh đã không tuyệt vọng, mà đã biết cậy trông vào lòng thương xót của Thiên Chúa. Noi gương tác giả Thánh vịnh 50, anh đã nài xin Chúa như sau : “Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi” (Lc 18,13). Vì vậy anh đã nhận được ơn tha thứ để nên công chính (x. Lc 18,14).

- Cần tránh thói kiêu căng tự mãn: Kiêu ngạo là thói xấu đứng đầu và hầu như mọi người chúng ta đều ít nhiều mắc phải. Đây là thói xấu nguy hiểm nhất và là mẹ phát sinh ra các thói hư khác. Người kiêu ngạo xem mình là trung tâm điểm thay thế Thiên Chúa. Anh muốn mọi người phải quan tâm phục vụ mình và luôn tạo ra hàng rào tách biệt với tha nhân… Kiêu ngạo phát sinh ra tự ái tự cao và dễ nổi giận khi có ai dám chê trách nói chạm đến mình. Đây cũng là thói xấu thâm căn khó chừa cải nhât. Tuy nhiên kinh “Cải tội bảy mối” cũng cho chúng ta một phương thế hữu hiệu để diệt trừ được thói hư này như sau: “thứ nhất khiêm nhường chớ kiêu ngạo”. Như vậy muốn loại trừ thói kiêu ngạo thì cần xin Chúa giúp thực tập đức khiêm nhường.

Cần thực tập đức tính khiêm nhương phục vụ: Ai trong chúng ta cũng đều yêu thích người khiêm tốn, nhưng rất ít người có được nhân đức này. Thực ra khiêm nhường là can đảm nhìn thẳng vào con người thật của mình. Khổng Tử đã nói: “Cái gì biết thì nói biết, cái gì không biết thì nói không biết, đó mới thật là biết vậy”. Khiêm nhường tự hạ, quên mình phục vụ luôn được coi là nền tảng của sự thánh thiện. Tất cả những tài năng, nhân đức sẽ gia tăng giá trị lên gấp bội nếu kèm theo đức khiêm nhường. Cũng như những số 0 (số không) dù nhiều tới đâu cũng chẳng có giá trị gì. Nhưng nếu chúng được dẫn đầu bằng một con số như số 1 chẳng hạn, thì lập tức những số 0 kia sẽ tăng giá trị gấp 10 lần. Cần tập khiêm nhường băng cách tránh khoe khoang các ưu điểm thành tích của mình và rộng rãi nói lời động viên khen ngợi tha nhân. Cần luôn ý thức mình là người phục vụ và hay nói với người khác: “Tôi có thể giúp gì được cho bạn?” rồi sau đó phục vụ họ cách chân thành và vô vụ lợi.

4. THẢO LUẬN: 1Khi được người khác khen một ưu điểm có thật, bạn thường phản ứng thế nào để thực hành nhân đức khiêm nhường noi gương Chúa Giê-su và Đức Ma-ri-a trong Tin Mừng (x. Lc 1,45-49)? 2Bạn đã bao giờ khen người dưới khi thấy họ làm được việc tốt chưa? 3Khi biết một người phạm một tội có hại cho tập thể, bạn sẽ làm gì: Giữ im lặng để tránh rắc rối hay lên tiếng để giúp họ sửa lỗi?

5. NGUYỆN CẦU

- LẠY CHÚA CHA TỪ ÁI. Trước Thánh Nhan Cha, chúng con chỉ còn biết noi gương người thu thuế mà thưa với Cha rằng: “Lạy Cha, xin thương xót con là kẻ tội lỗi”. Thật vậy, đối với Cha, chúng con chỉ là hư không. Những việc tốt chúng con làm được cho Cha, xét cho cùng đều nhờ ơn Cha ban, và đòi chúng con phải dâng lời tạ ơn Cha.

- LẠY CHA. Xin giúp chúng con ý thức về thân phận tội lỗi yếu hèn của mình. Xin giúp chúng con tránh thói kiêu căng tự mãn của người biệt phái. Xin cho chúng con biết tôn trọng mọi người và không bao giờ dám tự mãn khoe khoang thành tích đã làm. Xin cho chúng con biết luôn cảm tạ Cha về những ơn lành của Cha. Xin cho cuộc sống của chúng con trở thành bài ca tạ ơn: khi vui cũng như lúc buồn, khi thành công cũng như lúc thất bại, khi khỏe mạnh cũng như lúc đau ốm… Vì chúng con biết rằng mọi sự Cha để xảy đến cho chúng con đều là hồng ân của Cha và đều đem lại ích lợi cho phần rỗi đời đời của chúng con.

 

X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A
Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.

 

 

 
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
CHÚA NHẬT VI PHỤC SINH, NĂM B Các bài suy niệm & chú giải Lời Chúa Lời Chúa: Cv 10,2-26.34-35.44-48; 1Ga 4,7-10; Ga 15,9-17
CHÚA NHẬT V PHỤC SINH, NĂM B Các bài suy niệm & chú giải Lời Chúa Lời Chúa: Cv 9,26-31; 1Ga 3,18-24; Ga 15,1-8
Dân Do Thái là dân du mục. Cuộc đời họ gắn liền với đoàn vật và những đồng cỏ. Nên khi Đức Giêsu đưa ra hình ảnh người mục tử và đoàn chiên, người Do Thái hiểu ngay tức khắc. Đức Giêsu đã dùng hình ảnh quen thuộc ấy để nói lên mối liên hệ của ta với Người và của Người với ta. Người là Mục tử nhân lành. Ta là đoàn chiên của Người. Người lãnh đạo đoàn chiên không phải bằng uy quyền áp chế, bằng kỷ luật khắc nghiệt, nhưng bằng tình yêu tha thiết. Tình yêu của Người được biểu lộ qua ba khía cạnh: hiểu biết, quan tâm chăm sóc và hy sinh cho đoàn chiên. Tình yêu của Đức Giêsu là tình yêu hiểu biết. Sự hiểu biết này không phát xuất từ lý trí, do học hỏi, nhưng phát xuất từ trái tim, do tình yêu. Khi yêu, trái tim trở nên vô cùng nhậy bén đến độ hiểu được hết những âm thanh của tâm hồn và tai người thường không nghe thấy, nhìn thấy hết những gì ẩn kín trong tâm hồn mà mắt thường không nhìn thấy, cảm nhận được hết những chiều sâu thăm thẳm
Trước khi dâng mình cho Chúa, Thánh An-phong là một luật sư lỗi lạc. Ngài rất nổi danh vì tài hùng biện và vì lý luận đanh thép sắc ben. Nhờ tài ba, ngài đã thành công trong rất nhiều vụ án hiểm hóc. Nhưng một hôm, Chúa đã để cho ngài phải thất bại. Trong một vụ án mà ngài thấy là đơn giản, dễ dàng, ngài đã bị thua một cách thảm hại. Trước thất bai cay đắng đó, ngài thấy như cả bầu trời sụp đổ. Danh tiếng phút chốc tan như mây bay. Uy tín bị cuốn đi trong làn gió thoảng. Cả một màn đen tối u ám phủ xuống cuộc đời. Chẳng còn biết tìm an ủi ở nơi nào khác, thánh An-phong quay về bên Chúa, chìm đắm trong lời kinh cầu nguyện. Nhờ ơn Chúa, ngài tìm được niềm bình an. Hơn thế nữa, ngài nghe được tiếng Chúa mời gọi đi vào con đường Chúa muốn. Từ đó, ngài hiến thân trọn vẹn để phục vụ Chúa, ngài đã trở thành linh mục, giám mục và lập ra Dòng Chúa Cứu Thế. Sau này, khi nhìn lại, ngài hiểu rằng chính Chúa đã hiện diện trong nh
CHÚA NHẬT II THƯỜNG NIÊN, NĂM B Các bài suy niệm & chú giải Lời Chúa Lời Chúa: 1Sm 3,3b-10.19; 1Cr 6,13c-15a.17-20; Ga 1,35-42
Đức Kitô đã sống lại thật – ViKiNi (Suy niệm của Lm. Giuse Vũ Khắc Nghiêm – trong ‘Xây Nhà Trên Đá’) 1. “Nếu Đức Kitô không sống lại, thì lời rao giảng của chúng tôi trống rỗng. Và cả đức tin của anh em cũng trống rỗng. Thế ra chúng tôi là những chứng nhân giả của Thiên Chúa, như thế là chúng tôi chống lại Thiên Chúa” (1Cor. 15, 14-15). Thánh Phaolô thật rõ ràng, thật quả quyết về Đức Giêsu đã sống lại, nếu Người không sống lại thì Phaolô và tất cả các tông đồ, các tín hữu thời đó vừa phạm tội ác chống lại Thiên Chúa, vừa bị người đời bắt bớ, đánh đập, tù ngục và đóng đinh giết đi. Các tông đồ chịu chết vì điều giả dối đó để làm gì ? Để chịu khốn nạn hơn hết mọi người sao ? Và giả dối thì tất nhiên, Giáo hội không thể xuất hiện và tồn tại bền vững cho đến ngày nay được.
Thánh lễ hôm nay rất ý nghĩa cho giới trẻ. Trong ngày Lễ Lá, biết bao thanh thiếu niên ra đón mừng Chúa. Cả một bầu khí trẻ trung, hăng say, kính mến. Sự trẻ trung bột phát qua việc cầm cành lá, qua lời tung hô đón chào Chúa. Thật là một bầu khí cuồng nhiệt. Giới trẻ Do thái lúc ấy biểu lộ lòng kính mến thật hồn nhiên, thật dễ thương. Không khác gì giới trẻ chúng ta hôm nay. Nhưng thanh lễ hôm nay cũng khiến ta phải suy nghĩ không ít vì những biến cố quá trái ngược. Chúa vừa vinh hiển vào thành chưa được bao lâu đã phải tủi nhục chết trên thập giá. Tại cổng thành có biết bao người ra chào đón tung ho, nhưng trên Núi Sọ chẳng còn mấy người theo Chúa. Từ chúa nhật Lễ Lá đến thứ Sáu tuần thánh thời gian không dài, nhưng biết bao người đã thay lòng đổi dạ. Từ cổng thành đến Núi Sọ đường đất không xa, nhưng biết bao người đã rẽ đường, đi ngang, về tắt. Tại sao thế?
CHÚA NHẬT V MÙA CHAY, NĂM B Các bài suy niệm & chú giải Lời Chúa Lời Chúa: Gr 31,31-34; Dt 5,7-9; Ga 12,20-33
CHÚA NHẬT IV MÙA CHAY, NĂM B Các suy niệm & chú giải Lời Chúa Lời Chúa: 2Sb 36,14-16.19-23; Ep 2,4-10; Ga 3,14-21
Đức Giêsu đã thanh tẩy Đền thờ. Người muốn ta hãy tiếp tục công việc của Người. Giữ gìn cho nhà thờ luôn sạch đẹp, có bầu khí tôn nghiêm là điều cần thiết. Nhưng cần hơn vẫn là giữ gìn ngôi Đền thờ thiêng liêng là chính bản thân ta. Tâm hồn chính là cung thánh nơi Chúa ngự. Ta phải luôn luôn thanh tẩy tâm hồn để xứng đáng với Chúa. Hãy thanh tẩy tâm hồn khỏi thói tôn thờ tiền bạc, coi trọng tiền bạc hơn Chúa. hãy thanh tẩy tâm hồn khỏi những dục vọng đam mê làm ô uế cung thánh của Chúa. Hãy thanh tẩy tâm hồn khỏi thói gian tham, bất công. Hãy thanh tẩy tâm hồn ta khỏi những kiêu căng đố kỵ. Thân xác ta là Đền thờ của Chúa
Bảo Trợ