ĐÊM LỆ CHI VIÊN

25 Tháng Sáu 20122:00 CH(Xem: 3336)

Nguyễn Trãi cựu thần nhà Lê, năm 1442 xin hưu trí về vui thú điền viên tại Côn Sơn Hải Dương, mở trường dạy học.

 

Một hôm nhàn nhã đi dạo bờ hồ, gặp cô bán chiếu liền buông lời thơ chọc ghẹo :

 

Cô ả Hồ Tây bán chiếu gon
Chơ hay chiếu ấy hết hay còn
Xuân xanh nay độ chừng bao tá
Đã có chồng chưa, được mấy con ?

 blank

Thì bị người con gái bán chiếu đáp lại cũng bằng một bài thơ thiệt ý nhị :

 

Tôi ở Hồ Tây bán chiếu gon
Can chi ông hỏi hết hay còn
Xuân xanh nay đã tròn đôi tám
 
Chồng còn chưa có… hỏi chi con !!!

 

Người đẹp, thơ hay. Lời thơ nhẹ nhàng ý nhị, nhưng không kém phần hiểm hóc móc lò quan cựu thần nhà Lê ở câu chót .

 

Chồng còn chưa có…hỏi chi con !!!

 

Câu trả lời có hai nghĩa :

 

 Chồng còn chưa có thì làm sao có con được. Nhưng cái nghĩa thứ hai hiểm hóc hơn, ngụ ý lỡm : Tôi chưa có chồng, hỏi làm gì vậy con !!!

 

Dám trêu ghẹo, đốp chát lỡm lờ quan đại thần nhà Lê, nhưng Nguyễn Trải không tài gì bắt bẻ cho được đành cười xòa thích chí mà cho rước Thị Lộ về làm vợ, một mực cưng chiều qúy mến để cùng nhau :

 

Khi chén rượu, khi cuộc cờ
Khi xem hoa nở lúc chờ trăng lên.

 

Thỏa chí bình sanh của một lão quan trước giai nhân nguyệt thẹn hoa nhường. Và, đây cũng là đầu dây mối nhợ của một vụ huyết án 3 đời nhà Nguyễn Trải, bắt đầu từ cái đêm oan nghiệt ở Lệ Chi Viên.

 

Lệ Chi Viên tức là vườn vải nằm trên bờ sông Thiên Đức, tức sông Đuống huyện Gia Linh tỉnh Bắc Ninh.

 

Vào đầu thế kỷ 15 vua Lê Lợi truyền ngôi cho thái tử Nguyên Long. Nguyên Long lên nối ngôi cha năm 11 tuổi, lấy hiệu là Lê Thái Tông.

 

Là một vị vua nhỏ tuổi nhưng thông minh tài trí hơn người. Nhưng sự đời thường hay rắc rối, hể có tài thường có tật.

 

Vua Lê Thái Tông rất đa tình, mới chỉ 15 tuổi mà đã có đến…67 bà vợ đều là trang giai nhân tuyệt sắc, hoa ghen thua thắm tuyết nhường kém xinh. Ấy vậy mà nhà vua vẫn chưa vừa lòng, ý hẳn đang mong đợi đến một trang quốc sắc thiên hương nào khác còn đang ẩn hiện trong mộng tưởng, nên thường ra ngẩn vào ngơ chìm đắm trong xa xăm diệu vợi.

 

Thế rồi cuối tháng 7 năm Nhâm Tuất, Thái Tông ngự gía duyệt binh ở Chí Linh, sau đó ghé vào Côn Sơn thăm vị cựu thần là Nguyễn Trải.

 

Tình vua tôi thắm thiết, bàn luận quốc sự cùng xướng họa thơ văn. Lại càng mặn nồng hơn nhờ có Thị Lộ hầu tiếp dâng rượu cho Thái Tông ngự ẩm.

 

Rượu vào lòng xuân phơi phới, ngài ngự bỗng…đâm ra ngơ ngẩn đắm đuối trước giai nhân Thị Lộ đang hầu tiếp dâng rượu, mà xem ra sắc đẹp không những ăn đứt các bà vợ, lại cộng thêm tài văn chương mẫn tiệp quán chúng.

 

Và, đây có phải là người mà vua hằng mơ tưởng trong mộng chăng ? Liền tức khắc, vua phong ngay cho Thị Lộ chức Lễ Nghi Học Sĩ một cách rất… ngang xương !!! đoạn truyền cho nàng tháp tùng xa giá về kinh đô nhậm chức.

 

Đoàn xa giá của nhà vua về đến Thiên Đức Giang thì trời đổ tối, nhà vua truyền chỉ đóng trại trong một vườn vải cạnh đó.

 

Đêm hôm ấy trời trong trăng tỏ, nhà vua truyền bày tiệc rượu để cùng Thị Lộ đối ẩm và xướng họa thi văn.

 

Thị Lộ không dám cải mạng. Thế rồi câu xướng câu họa, rượu mời chén chuốc tay trao, ngã nghiêng giỡn cợt lã lơi, càng khiến cho sắc đẹp Thị Lộ lộng lẫy dưới ánh trăng vằng vặc. Nhà vua vốn còn nhỏ tuổi lại háo sắc, đa tình, lòng sẳn ôm ấp một hình bóng trong mộng, nay được dịp gần kề bên người ngọc tài hoa mà sắc đẹp và cử chỉ có phần lả lơi mời mọc, hỏi làm sao mà ngài không rung động đến ngây ngất, quên đi thân phận mình là đứng quân vương tột bực.

 

Rượu say thì ít mà tình say thì nhiều, lòng xuân phơi phới giữa cảnh trăng thanh gió mát, khiến lòng quân vương không tài nào kềm hãm, dục tình trào dâng trước một mỹ nhân thân vóc cực kỳ khiêu gợi, và chừng như cũng có ý hiến dâng lên hoàng thượng một mời mọc đồng cảm ái ân. Đứng trước tình cảnh lòng xuân ngùn ngụt chứa chan, nhà vua không tài nào cưỡng nỗi mới buông lời…tán tỉnh :

 

-Này, hởi mỹ nhân ! Có biết lòng trẫm đang nghỉ gì không ?

 

-Muôn tâu ! Tiện nữ không dám nói !

 

-Ha ! Ha ! Ta cho phép, mỹ nhân cứ tự nhiên

 

-Muôn tâu ! Tiện nữ nghỉ bệ hạ nên vào nghỉ vì đêm đã qúa khuya.

 

-Ta đang say qúa, mỹ nhân… dìu ta vào nghỉ được chăng ?

 

Vừa nói nhà vua chếnh choáng…xiêu mình vào giai nhân, ôm đại bờ vai tròn lẳn chắc nịch và ngọt ngào, kéo nhẹ vào lòng mình xiết chặt… xiết chặt tấm thân mềm mại mà ấm áp bởi men tình cùng bốc ngồn ngột bên tấm thân cường tráng của đấng quân vương, nhà vua thì thào trong hơi rượu :

 

Mỹ nhân ơi ! Người ngọc của lòng trẫm, ta đã mơ tưởng giờ phút này, giờ phút được ôm ấp thân hình mềm mại gợi cảm của mỹ nhân đã bao lâu nay, hãy ôm ta chặt hơn nữa hởi mỹ nhân yêu qúy của lòng ta !!!

 

Thị Lộ nào dám cưỡng lại, vì đây là lịnh của quân vương và cũng là…lịnh của trái tim nàng đang réo gọi, đồng tình và hưởng ứng xuôi theo cánh tay rắn chắc của nhà vua nằm gọn lỏn trong vòng tay của dục vọng đang dâng trào, khát khao đòi hỏi một thỏa mãn.

 

Ngoài sân ánh trăng đã tắt hẳn, đám lính thay phiên đổi gác, một vài tiếng mõ vang lên rời rạc. Đêm khuya tịch mịch khiến cho không gian bội phần huyền diệu lung linh. Trong căn lều, ánh bạch lạp chập chờn lay động theo từng hơi thở dồn dập của vua tôi. Từng tiếng rít lên khe khẻ trong tột cùng cung bậc khoái cảm của hội tụ âm dương. Chăn chiếu nhầu nát buông hời cho mặc tình cọ xát của hai tấm thân trần truồng trườn lên hụp xuống lúc đều đặn khi thúc dục, hối hả cuồng mê ngấu nghiến trong ngụp lặn điếng tê oà vỡ…Lúc này quân vương cũng như mỹ nữ đều quên hẳn mọi không gian thời gian, chỉ còn lại hai tâm thân xoắn chặt vào nhau gắn kết như keo sơn bám cứng. Tấm lưng cường tráng của quân vương như có những vệt máu tươm ra bởi mười đầu móng tay của mỹ nữ cắm vào với bao khoái cảm, mê ly, yên lặng rồi bỗng run lên từng hồi, từng hồi trong thứ âm thanh hực ! hực phát ra từ cuống họng không lời rỏ rệt. Im lặng,buông trôi và… rời rã !!!

 

Đêm nay, lần đầu tiên Thị Lộ mới tìm thấy được cái khoái cảm, cái cảm giác no tròn, say sưa òa vỡ lạc thú của tuổi đôi mươi bên cạnh nhà vua trẻ tuổi, mà nàng không bao giờ tìm thấy được bên cạnh Nguyễn Trải, vị lão thần mà chỉ đem lại cho nàng lòng kính mến hơn là sự thỏa mãn dục tình đôi lứa.

 

Cứ thế, đêm càng kéo dài, lửa tình càng mặn nồng nghiêng ngữa giữa vua tôi đang tràn trề nhựa sống. Từng nụ hôn kéo dài đắm đuối, bất tận lên tấm thân ngà ngọc đồi núi hóc hiểm. Từ vùng cổ lấm tấm những giọt mồ hôi xuống tận đến đôi gò bông đảo chắc nịch căng tràn như bầu sữa ngọt ngào, trắng trẻo và gợi tình không ngăn cấm một xoa bóp mơn trớn của phát hiện trên vùng trời mới lạ. Nụ hôn lại được tiếp tục kéo dài và xuống thấp hơn, thấp hơn !!!

 

Vòng ái ân lại thêm lần tiếp diễn, lại từng hơi thở dồn dập, từng thứ âm thanh rên rỉ khoái lạc, chiếu chăn rơi rụng, ánh sáng bạch lạp lại phản chiếu những động tác trần ai thường tình của những sinh vật được lập đi lập lại không bao giờ nhàm chán hoặc xao lãng, cái động tác mà bất kỳ ai và cho dù đến chết vẫn mãi mơ tưởng thèm thuồng và nuối tiếc.

 

Cái thứ động tác đó, lúc này lại đều đặn hiện lên rỏ nét trên bức vách của căn lều không một nghi vấn gì khác ngoài cuộc mây mưa thiệt…hoành tráng và đầy ấn tượng của một đứng quân vương và mỹ nữ…

 

Bỗng nhiên !!!

 

Một tiếng thét hãi hùng vang lên trong căn lều của đứng quân vương, xé tan bầu không gian yên tịch giữa vườn Lệ Chi. Tiếng thét thứ hai nối tiếp chưa dứt thì Lê Khả, vị quan hộ tống cùng quân hầu đã cầm khí giới xông vào.

 

Khung cảnh của gối chăn bừa bộn xốc xếch, trong một góc, Thị Lộ quấn chiếc mền che hờ tấm thân kiều diễm với nét mặt hốt hoảng đầy vẻ sợ hãi. Trên chiếc long sàng nhà vua nằm cứng đơ, mắt trợn trừng trắng nhợt miệng sủi bọt trong thật ghê sợ. Quan ngự y lập tức được triệu đến, sau một hồi thuốc thang cấp cứu hồi sinh, nhà vua chỉ thì thào được mấy tiếng trối lại cùng cận thần là phải lập thái tử Bang Cơ lên nối ngôi. Đoạn ngài băng, ngày 4 / 8 / 1442 thọ 19 tuổi làm vua 9 năm, có tất cả 4 người con.

 

Sau khi Thái Tông băng, triều thần nhóm họp luận tội kết cho Nguyễn Trải chủ mưu đầu độc nhà vua.

 

Ngày 16 / 8 năm đó. Nguyễn Trải, Thị Lộ con trai Nguyễn Khuê và nhiều người cháu nội, ngoại, họ hàng đều bị dẫn ra pháp trường xử trảm. Còn những người anh em họ hàng khác của ông bỏ trốn thoát được rất nhiều.

 

Theo truyền thuyết.

 

Về vụ án giết 3 đời nhà Nguyễn Trải là do chuyện ác xà báo oán « dã sử chép là rắn thần báo oán, nhưng kẻ viết bài này thấy không hợp lý nên tự ý viết là ác xà báo oán » mà Nguyễn Thị Lộ là hiện thân của con ác xà đó.

 

Nguyên do, sau khi Nguyễn Trải giúp vua Lê Lợi đuổi được giặc Minh về Tàu, được vua phong quan tước cực kỳ trọng hậu và ban quốc tính cho ông. Nhưng sau vì nghe lời gian thần nịnh hót dèm pha, Lê Lợi đã bắt giết rất nhiều công thần, trong đó Nguyễn Trải cũng bị bắt giam một thời gian, vì thiếu bằng cứ nên được tha nhưng phải lột tất cả mọi chức tước. Quá chán nản với đường công danh sự nghiệp, Nguyễn Trải dâng sớ xin về trí sĩ vui thú điền viên và mở trường dạy học.

 

Một hôm ông cho học trò phá cỏ sân sau để cất trường. Đêm đó ông nằm mơ thấy một người đàn bà đến xin ông hãy hoản chuyện phá cỏ làm trường lại 3 ngày để cứu gia đình bà ta.

 

Sáng hôm sau khi thức dậy thì học trò đã làm sạch cỏ trong vườn, trong khi dọn cỏ học trò ông phá được một ổ rắn, giết sạch mấy con rắn con nhưng rắn mẹ chỉ bị chắt đứt đuôi nên tẩu thoát được. Con rắn mẹ là ác xà, ông đoán thế nào nó cũng báo oán. Một hôm ông đang ngồi xem sách, có một giọt máu trên sà nhà nhỏ xuống trang giấy đúng vào chữ Đại thấm ướt 3 trang, ông lại đoán nó sẽ báo đến 3 đời nhà ông.

 

Rồi về sau, chuyện ông gặp Thị Lộ đi bán chiếu mà sắc đẹp mặn mà lại giỏi thi văn nên cưới nàng làm hầu, để rồi sự việc xảy đến đúng như điều ông tiên đoán.

 

 Truyền thuyết nói rằng : Thị Lộ là hậu thân của con ác xà báo oán, đã được nhiều nhà viết dã sử chép lại. Ngay cả đến Ngô Sĩ Liên cũng viết trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư. Nhưng sự thật ra, truyền thuyết Thị Lộ là ác xà báo oán không đứng vững được vì nó qúa hoang đường, đây chỉ là một chuyện bịa đặt ra để che đậy hành động giết oan 3 họ nhà ông Nguyễn Trải. Vì vậy, có nhiều học gỉa vế sau cố tìm cho ra vụ án giết oan dòng họ ông Nguyễn Trải và cái chết đột ngột của vua Lê Thánh Tông mà người ta gọi là án Lệ Chi Viên.

 

Về cái chết của vị vua phong lưu nhất đán có nhiều lý do. Từ năm lên ngôi vua 11 tuổi, đến lúc chết 19 tuổi mà có đến 8 bà phi đẹp mơn mởn đào tơ, chưa kể đến hằng tá người đẹp vây quanh ngài ngự thì hỏi làm sao mà ngài thọ cho nỗi.

 

Thời nhà Lê không có lệ phong hoàng hậu trước, nên chi các bà phi tranh dành nhau ngôi vị hoàng hậu kịch liệt, bà nào cũng muốn được vua sủng ái để sanh hoàng tử, nên bà nào cũng tìm đủ trăm phương ngàn kế hầu hại đối phương. Nguy hiểm nhất có bà phi Nguyễn Thị Anh dựa thế Lê Khả, Đinh Liệt và hoạn quan Tạ Thanh là những người có quyền thế nhất đương triều.

 

Nguyên phi Lê Thị Ngọc Dao con gái quan đại tư đồ Lê Sát là người bị hại thứ nhất, do bị lời dèm pha nên vua bắt Lê Sát phải tội chết và tịch biên gia sản, đuổi nguyên phi Nguyễn Thị Ngọc Dao ra khỏi cung cấm phế làm thường dân.

 

Đến phiên con gái Lê Ngân là Lê Thị Nhật Lệ từ chức Huệ Phi bị giáng xuống Tu Dung, không còn được vua sủng ái.

 

Cứ vậy, lần lượt các bà phi khác đều bị loại, mặc dù có bà đã sanh Hoàng Tử như bà Nguyễn thị Bí sanh Nghi Dân.

 

Về phía phe cánh bà phi Nguyễn Thị Anh thì lại càng cứng mạnh, sau khi bà sinh Thái Tử Bang Cơ. Mặc dù phe cánh đã mạnh, mà con trai của bà đã được nhà vua phong Thái Tử, nhưng bà Nguyễn Thị Anh vẫn còn lo sợ, vì nhà vua có thể một ngày nào đó sẽ phế bỏ con bà và đuổi bà ra khỏi cung cấm, vì tính nết Thái Tông còn nhỏ dại lại đam mê tửu sắc, nên bà ta lại càng ráo riết tìm cơ hội thuận tiện để thi hành những độc kế hầu ra uy cho những bà phi khác phải sợ.

 

Kế đó vua Thái Tông chết đột ngột, rồi Lê Khả nhận cố mệnh lập Thái Tử Bang Cơ lên làm vua, tức vua Lê Nhân Tông, bà Nguyễn Thị anh được phong chức Thái Hậu.

 

Có nhiều nhà nghiên cứu sử sau này đều nghi ngờ về việc vua Thái Tông chết bất đắc kỳ tử là do nhóm Lê Khả và bà Nguyễn Thị Anh đầu độc, nhưng để phi tang,Lê Khả đã thẳng tay tiêu diệt tất cả những người có mặt chứng kiến những trạng thái biến chuyển trước khi chết của vua Thái Tông. Và nhân việc vua Thái Tông hôm trước khi chết có ghé nhà cựu thần Nguyễn Trải, do đó họ đã bắt bà Nguyễn Thị Lộ tra khảo và bắt phải nhận là do Nguyễn Trải chủ mưu cho bà để rồi luận án giết cả 3 họ nhà Nguyễn Trải.

 

Chưa vừa lòng và còn sợ lậu sự ra ngoài, bà Nguyễn Thị Anh lại cho người bắt giết luôn quan thái úy Lê Khả, Lê Khắc Phục là những người tay chân thân tín của bà trong việc chủ mưu đầu độc vua Thái Tông..

 

Theo Đại Việt Thông Sử của Lê Qúy Đôn chép như sau :

 

Năm 1459 Thái Tử Nghi Dân vào cung bắt Nhân Tông Bang Cơ giết đi rồi tự xưng làm vua. Trong tờ chiếu có viết : Nguyễn Thái Hậu « tức Nguyễn Thị Anh » muốn vững quyền vị, ngầm sai bọn nội quan là Tạ Thanh dựng Bang Cơ làm vua cho trẩm làm phiên vương. Đến sau TạThanh tiết lộ việc ấy ra, việc lây đến cả thái úy Lê Khả, tư khấu Lê Khắc Phục họ đều bị đem giết hết để khỏi lậu chuyện ra ngoài.

 

Còn một giả thuyết khác về vụ án Lệ Chi Viên, cũng được nhiều nhà viết chuyện dã sử khai thác triệt để và đã được trờ thành tiểu thuyết hóa câu chuyện như sau :

 

Vua Thái Tông mê Nguyễn Thị Lộ như điếu đổ khi bà này làm nữ quan trong triều, nhưng vì bà Nguyễn Thị Anh theo sát canh chừng ghen tuông nên nhà vua chả sơ múi gì được. Rồi đến cái ngày ngụ lại vườn vải cùng Thị Lộ là chuyện may mắn ngàn năm cho nhà vua. Trai tài gái sắc thì còn lạ gì chuyện sáp lại với nhau cho lên đến tột đỉnh ngất ngây, xúc động kịch liệt mà đi đến…năm hai mươi vì chứng thượng mã phong.

 

Cho đến bây giờ thì vụ án Lệ Chi vẫn còn tối mò mò không biết giả thuyết nào là đúng. Chỉ nghiệm ra được một điều. Phàm đã là đàn ông thì đừng lấy nhiều vợ, nó nguy hiểm lắm. Nhất là những đàn ông nhiều tiền bạc, quyền thế to lớn lại càng nguy hiểm, vì khi đàn bà họ mà ghen thì có trời mới cản họ nỗi. Trong thâm cung bí sử của dân tộc nào cũng đầy dẫy những ông vua bị các bà xúm lại đầu độc bằng cách này hoặc cách khác.

 

Chỉ riêng tội cho ông Nguyễn Trải, một bực khai quốc công thần, tận dụng tất cả tâm huyết đem chiến thắng vinh quang lại cho dân tộc, bằng lối ôn nhu hòa dịu. Đánh địch nhưng không gây tang tóc xương máu bằng lối Tâm Công khiến cho địch thủ phải quy hàng thần phục.

 

Một bực tài năng như vậy mà không may vướng vào vòng oan nghiệt của chế độ phong kiến cùng tập đoàn vô học tranh dành quyền vị.

 

Nguyễn Trải là một nhà Hiền Triết Đông Phương đáng kính phục.

 

Phan Tình

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Trong cuốn văn phạm của mình, Arte da lingoa de Iapam (Ngữ pháp tiếng Nhật), ấn hành tại Trường Kỳ (Nagasaki) năm 1604, linh mục Bồ Đào Nha dòng Tên João Rodrigues khẳng định: “Muốn viết ngôn ngữ này bằng mẫu tự của chúng ta, chúng ta chủ yếu phải sử dụng cách viết La Tinh và Bồ Đào Nha,/ 28 Tháng Năm 2012 (Xem: 2556) Roland Jacques, Canada - GS Đoàn Xuân Kiên chuyển ngữ
Ngoài tên họ, tên đệm, tên riêng, người Công Giáo Việt Nam còn có thêm một tên thánh được đặt khi chịu phép rửa tội. Trong khi đó, người Công Giáo Âu Mỹ không có hẳn một tên thánh. Bài viết này nhằm mục đích tìm hiểu sự khác biệt giữa tên thánh của người Công Giáo Tây Phương và Đông Phương ?/07 Tháng Sáu 2012(Xem: 4032)/
Câu nói của đại văn hào Thánh Augustinô là âm vang phổ quát nhất đi lọt vào tất cả các nền văn hóa cổ kim, đông cũng như tây, trong tất cả các chiều kích của cuộc sống con người. Thật thế tôn giáo là gì nếu không phải vì yêu thương mà con người được tạo dựng.../07 Tháng Sáu 2012(Xem: 4093) Nguyễn Đăng Trúc - VanchuongViet/
Bảo Nghĩa Vương Trần Bình Trọng sinh năm 1259. Năm 1285 khi quân Nguyên Mông sang xâm lược nước ta, mới 26 tuổi, “Trần Bình Trọng được Hưng Đạo Vương và Lưỡng cung giao cho một nhiệm vụ nặng nề: giữ vùng Đà Mạc – Thiên Mạc, ngăn chặn và cầm chân quân Nguyên, đảm bảo cho bộ chỉ huy quân kháng chiến rút lui an toàn và bí mật, không để lại dấu vết” (Wikipedia). Đại Việt Sử Kí Toàn Thư (ĐVSKTT [1]) chép rằng, “Khi bị bắt, Vương không chịu ăn, giặc hỏi việc nước, Vương không trả lời, giặc hỏi Vương: “Có muốn làm vương đất bắc không?”. Vương thét to: “Ta thà làm ma nước Nam chứ không thèm làm vương đất bắc”, rồi bị giết”. Sự kiện bi hùng này người Việt có lẽ ai ai cũng biết. Nhưng ít ai nhấn mạnh rằng, ông thực hiện công trạng vĩ đại đời đời lưu truyền này khi ông mới 26 tuổi! Quả thực, ngày nay, cứ thử gõ Trần Bình Trọng vào Google mà xem, sẽ hiện ra hình một ông lão tầm 50 tuổi gầy gò hom hem.
Thoạt đầu, việc ký âm tiếng Việt của mấy nhà truyền giáo Dòng Tên là để cho chính các ngài học tiếng Việt, và cũng giúp những thừa sai đến sau dễ dàng hơn trong việc học tiếng ấy, một thứ tiếng chẳng có chút dây mơ rễ má gì với tiếng Hy Lạp, Latinh, Ý, Bồ Đào Nha, Pháp, Đức… Thực ra đây là một cách bắt chước các nhà truyền giáo Dòng Tên Tây phương ở Nhật Bản. Vì đầu thế kỷ 17, họ cũng đã đưa ra một lối chữ viết mới với mẫu tự abc qua hai cuốn ngữ vựng và ngữ pháp Nhật. Tiếp đến, các ngài muốn sáng tạo một thứ chữ mới, có lẽ lúc đầu chỉ coi nó là phương tiện trong cuộc giới thiệu Tin Mừng với con người Việt, mà chính cha Đắc Lộ đã nhắc tới trong phần đầu cuốn từ điển của cha: “giúp các nhà truyền giáo học tiếng Việt” và “làm theo ý muốn của một số vị Hồng y ở La Mã là thêm chữ Latinh vào để người Việt có thể học thêm La ngữ.”
Người viết báo phải quan niệm mình làm nghề không phải là để chơi hay để kiếm tiền, nhưng phải quan niệm mình là những người thừa kế của cách mạng tư sản, mở đầu là cách mạng tư sản Pháp, say sưa với tự do, trung thành với lý tưởng, chống áp bức, chuộng tiến bộ mà quyền lợi tinh thần của con người đã ủy thác nơi báo chí.. (Lời Nguyễn Văn Vĩnh, theo Vũ Bằng kể lại trong hồi ký “40 năm nói láo.”) /post 31 Tháng Năm 2012(Xem: 2776)/
Sau khi tranh luận lâu như vậy, văn kiện được chép lại và đặt lên bàn của Chủ tịch, mỗi đại biểu Quốc hội bước lên phía trước ký tên, không khí nặng nề đến nghẹt thở. Vào thời điểm đó, những chữ ký này có nghĩa là - tất cả mọi người trong danh sách đều có chung nguy cơ bị Vua nước Anh treo cổ. Bản Tuyên ngôn Độc lập, là một văn kiện lập quốc quan trọng nhất của Hoa Kỳ, được trình bày trước Quốc hội Lục địa Hoa kỳ bởi Ủy ban Năm Nghị sĩ. Khi ấy, Quốc hội Lục địa đã chỉ định một ủy ban để soạn thảo ra Bản Tuyên ngôn Độc Lập, sử gọi là Ủy ban Năm Nghị sĩ. Ủy ban này gồm: Thomas Jefferson, John Adams, Benjamin Franklin, Roger Sherman và Robert Livingston, hoạt động từ ngày 11 tháng 6 năm 1776 cho đến ngày 5 Tháng 7 năm 1776, ngày mà Tuyên ngôn Độc lập được xuất bản.
Ngọc Mai | DKN....Lương Thế Vinh sinh ngày 1 tháng 8 năm Tân Dậu (tức ngày 17/8/1441) tại làng Cao Hương, huyện Thiên Bản, Trấn Sơn Nam (nay thuộc Vụ Bản, Nam Định). Ông vẫn được người đời gọi là “Trạng Lường”, lý do là vì từ nhỏ ông đã rất giỏi đo lường, tính toán. Chưa đầy 20 tuổi, tài học của ông đã nổi tiếng khắp vùng Sơn Nam. Năm 1463, Lương Thế Vinh đỗ trạng nguyên khoa Quý Mùi niên hiệu Quang Thuận thứ 4, đời Lê Thánh Tông.
Hoàn toàn vô ích khi hy vọng rằng cách mạng có thể cải tạo bản chất con người, tuy nhiên đó là điều mà cuộc cách mạng của quý vị, và đặc biệt cuộc cách mạng Nga của chúng tôi đã hy vọng rất nhiều. Cách mạng Pháp khai màn dưới lá cờ của khẩu hiệu mà tự mâu thuẫn và bất khả thi, “tự do, bình đẳng, bác ái”. Nhưng trong cuộc sống xã hội, tự do và bình đẳng là những khái niệm không dung hòa nhau, thậm chí còn chống đối nhau. Tự do tiêu diệt bình đẳng xã hội vì đó là bản chất của tự do. Còn bình đẳng cản trở tự do-vì nếu không như thế không thể nào có bình đẳng
Đền thờ thần núi Đồng Cổ (Yên Định - Thanh Hoá). Ảnh tư liệu HTC LÀM GÌ CÓ “THẦN TRỐNG ĐỒNG”? Hoàng Tuấn Công Sách “Di tích núi và đền Đồng Cổ” (Lê Ngọc Tạo - Nguyễn Ngọc Khiếu” - NXB Thanh Hoá - 2016) là kết quả đề tài khoa học “Sưu tầm, khảo sát và phục dựng nghi lễ của Đền Đồng Cổ”, của Ban Nghiên cứu và Biên soạn Lịch sử Thanh Hoá, do Tiến sĩ Lê Ngọc Tạo chủ trì, cử nhân Nguyễn Ngọc Khiếu thực hiện (sau đây gọi tắt là Nhóm Lê Ngọc Tạo). Sách báo viết về đền Đồng Cổ thì nhiều, nhưng có lẽ “Di tích núi và đền Đồng Cổ” là công trình chuyên khảo công phu nhất từ trước đến nay về ngôi đền này. Sách có hai phần: “I. Núi Đồng Cổ-Tam Thai và vùng thắng tích Đan Nê”, công bố kết quả sưu tầm trên thực địa và khai quật khảo cổ học; phần “II. Đền Đồng Cổ-Di tích và lễ hội”, công bố thần tích, tư liệu, trải qua các thời kỳ Trần - Hồ (1225 – 1407); Hậu Lê (1428 - 1788)
Bảo Trợ