Văn thơ vùng tề (1947-1954)

11 Tháng Mười 20132:00 CH(Xem: 2100)

Tháng trước, trong bài “Một Thời Văn Học Dinh Tê” người viết đã nói qua về khung cảnh thời gian 9 năm (1945-1954) tại Hà Nội và Hải Phòng, và các thành phố nằm trong vùng Quốc Gia (để đối chiếu với 9 năm Văn Học Kháng Chiến - của các nhà văn nhà thơ sống trong các vùng do Việt Minh (thật sự là cộng sản) kiểm soát. 


Trong khoảng 9 năm này, văn thơ vùng Tề tái sinh sau trận đánh khủng khiếp giữa Hà Nội, các báo được xuất bản, các nhà văn cầm bút trở lại. Những người tham dự sinh hoạt văn hóa, chữ nghĩa không thể ngờ rằng sau đó, số phận, hay định mệnh, của rất nhiều người trong bọn họ đã bị vùi dập hẳn, ở cả hai bên, vì những gì họ viết ra.

 blank



Phố xá Hà Nội Trong Chiến Tranh (Rue de Hanoi pendant la guere), tranh Nam Sơn, 1947. In trong L'Aventure de l'Art Modern au Vietnam, Paris musées, 1998. (Hình: Viên Linh cung cấp)



Thời gian chín năm không là bao, nhưng nó bùng nổ bằng một cuộc chiến tranh, sau này quen gọi là chiến tranh Quốc Cộng, và chấm dứt bằng sự chia đôi đất nước, cuộc chia đôi khủng khiếp ảnh hưởng tới mấy chục triệu người, đến cả dân tộc, nữa là chỉ một số ít oi các văn nghệ sĩ. Nhưng các văn nghệ sĩ kẹt trong Hà Nội, Hải Phòng trong 9 năm đó sẽ kẹt suốt cuộc đời họ, vì khi đất nước đổi chủ, họ là những tội đồ hết đường trốn chạy, vì những gì họ viết ra trong 9 năm trước, đã là những bản án buộc tội họ. Mà họ viết trong hoàn cảnh nào? Cuộc chiến với Pháp ở Hà Nội xảy ra ngày 19 tháng 12, 1946, kéo dài khoảng hai tháng. Thành phố đổ nát, nhiều xác chết chôn vùi chôn lấp đâu đó, không kể trên ba ngàn cái xác sinh viên trí thức đã được chôn chung vào một vài cái hầm, cái hố, nhất là khu giao thông hào bên hông Tòa Án Hà Nội, nơi sau này chúng tôi có khi họp bạn bên trên mà không biết.

Nhà văn Nguyễn Thạch Kiên viết:

“Sau hai tháng cầm cự [tức là tới hết tháng 2,1947], cố giữ vững thủ đô với bụng đói, dạ rét, nhiều chiến sĩ của Trung Đoàn Thủ Đô đã gục chết tức tưởi trong đống gạch và trong các giao thông hào xuyên trong các dãy phố. Khi quân đội Pháp đã làm chủ được Hà Nội, lập tức người Pháp kêu gọi dân Hà Nội tiếp tay với họ một mặt vãn hồi trật tự thành phố, một mặt dọn dẹp những đổ vỡ. Một số trí thức Hà Nội, ý thức vấn đề Quốc Gia-Cộng Sản và trách nhiệm mình nên phải đứng ra lập Hội Đồng An Dân, tiếp đón người hồi cư, cũng như cho ra báo để thông tin, tuyên truyền, ổn định đời sống cho toàn thể.” (NTK, Hà Nội cuối năm 1947)

Như thế, báo chí xuất bản trở lại tại Hà Nội bắt đầu mạnh lên trong năm 1947. Tờ báo qui tụ nhiều tên tuổi trí thức đáng kể là tờ Thời Sự của các ông Nghiêm Xuân Thiện, Đào Hữu Dương, Nhượng Tống, Nguyễn Cao Hách, Nghiêm Toản, Lê Bá Kông. Còn các nhà văn, nhà thơ: Họ là ai? Văn thơ của họ ra sao? Không biết bao nhiêu lần người viết bài này được hỏi câu hỏi đó. Câu hỏi rất khó trả lời vì “thời văn học dinh tê” người viết bài này sống ở Hà Nội nhưng còn quá nhỏ tuổi, ý niệm mơ hồ, lại chưa từng có ý định trở thành một nhà biên khảo. Viết văn viết truyện thì có, mà viết nhận định phê bình thì chưa. Thời 9 năm đó (thực sự chỉ có 7 năm), người ta làm thơ ra sao? Trước hết, hãy đọc những bài thơ “thương nhớ về Hà Nội” thời đó, ta có thể hình dung ra tình cảm và văn thơ của một thời, một thời hầu như không còn thấy ai nói đến sau đó.

 

Cửa ô năm ngả bừng hương gió
Lối cũ đi về nhạt ánh sương
Tâm sự chìm sâu dòng mực lạnh
Nằm đây nhớ lại buổi lên đường

Tôi viết thư này gửi Bắc phương
Qua sông Bến Hải, nhịp cầu sương
-Hỡi ai, quen thói làm tôi tớ
Kiếm sắc còn đây tặng cố hương

Chu Anh Thiện
(Trích tập “Hà Nội Ơi”)

Anh đi ngày quốc nạn
Sông Hồng chưa hết đau
Nước mắt dân xứ Bắc
Dắt nhau vào Cà Mau.

Trường Sơn hai khúc máu
Vĩ tuyến một sông sầu
Thương mùa Thu Tháng Tám
Non nước lạc về đâu.

Chế Tần Lĩnh
(Chưa biết bao giờ về)

Thương về đất Bắc

Ngày ấy tôi ra đi
Mưa giăng mơ kinh kỳ
Tóc mềm phơi phơi gió
Sầu đọng trên hàng mi!

Hồng Hà ơi!
Bốn phương nhàu nát những mây trời
Tôi khóc thương dòng máu đỏ
Rên xiết trong đêm buồn ủ rũ
Mấy nhịp cầu sương nắng phai phôi!
- Loang loáng ánh đèn pha
- Gáy lạnh đen ngòm sắt thép
- Bóng ma!
- Bóng ma!
Đêm về Hà Nội
Khóc thầm trong ngõ tối
- Im!
- Ấm ức!
- Nghẹn!
Tiếng chân người!!

Tô Vân

Người có đến Việt Nam, ngập ngừng và khẽ hỏi:
- Tổ quốc các anh biển vây Đông Hải
Tảng Trung Hoa đổ xuống sập cong mình
Sao vẫn còn truyền thống của tinh anh?

Thanh Hữu
(Có đến Việt Nam)

Những nhà thơ trong giai đoạn vùng Tề còn nhiều, như Hoàng Phụng Tỵ, Song Nhất Nữ, Hoàng Công Khanh, Nguyễn Quốc Trinh. Báo chí văn học hay có các trang văn chương hồi đó có Thế Kỷ, Cải Tạo, Giác Ngộ, Sinh Lực, Tiếng Dân, Tia Sáng, Giang Sơn,... Tôi tin rằng ở đâu đó có những người vẫn lưu giữ những tờ báo ấy, và rải rác trong đó còn những bài thơ mang tâm tư thời đại của những người sống và viết ở đó, nhưng kẹt lại đó sau 1954 - không kể những người sống và viết tại đó, nhưng may mắn đã vào được Miền Nam sau 1954 và trở thành những tên tuổi lẫy lừng của Văn học Miền Nam, như Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, Vũ Khắc Khoan, Mặc Đỗ, Nguyễn Sỹ Tế, Tạ Tỵ, Thanh Nam, Văn Quang, Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, và lớp tiếp theo. Hy vọng sẽ có một ngày...

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Trong cuốn văn phạm của mình, Arte da lingoa de Iapam (Ngữ pháp tiếng Nhật), ấn hành tại Trường Kỳ (Nagasaki) năm 1604, linh mục Bồ Đào Nha dòng Tên João Rodrigues khẳng định: “Muốn viết ngôn ngữ này bằng mẫu tự của chúng ta, chúng ta chủ yếu phải sử dụng cách viết La Tinh và Bồ Đào Nha,/ 28 Tháng Năm 2012 (Xem: 2556) Roland Jacques, Canada - GS Đoàn Xuân Kiên chuyển ngữ
Ngoài tên họ, tên đệm, tên riêng, người Công Giáo Việt Nam còn có thêm một tên thánh được đặt khi chịu phép rửa tội. Trong khi đó, người Công Giáo Âu Mỹ không có hẳn một tên thánh. Bài viết này nhằm mục đích tìm hiểu sự khác biệt giữa tên thánh của người Công Giáo Tây Phương và Đông Phương ?/07 Tháng Sáu 2012(Xem: 4032)/
Câu nói của đại văn hào Thánh Augustinô là âm vang phổ quát nhất đi lọt vào tất cả các nền văn hóa cổ kim, đông cũng như tây, trong tất cả các chiều kích của cuộc sống con người. Thật thế tôn giáo là gì nếu không phải vì yêu thương mà con người được tạo dựng.../07 Tháng Sáu 2012(Xem: 4093) Nguyễn Đăng Trúc - VanchuongViet/
Bảo Nghĩa Vương Trần Bình Trọng sinh năm 1259. Năm 1285 khi quân Nguyên Mông sang xâm lược nước ta, mới 26 tuổi, “Trần Bình Trọng được Hưng Đạo Vương và Lưỡng cung giao cho một nhiệm vụ nặng nề: giữ vùng Đà Mạc – Thiên Mạc, ngăn chặn và cầm chân quân Nguyên, đảm bảo cho bộ chỉ huy quân kháng chiến rút lui an toàn và bí mật, không để lại dấu vết” (Wikipedia). Đại Việt Sử Kí Toàn Thư (ĐVSKTT [1]) chép rằng, “Khi bị bắt, Vương không chịu ăn, giặc hỏi việc nước, Vương không trả lời, giặc hỏi Vương: “Có muốn làm vương đất bắc không?”. Vương thét to: “Ta thà làm ma nước Nam chứ không thèm làm vương đất bắc”, rồi bị giết”. Sự kiện bi hùng này người Việt có lẽ ai ai cũng biết. Nhưng ít ai nhấn mạnh rằng, ông thực hiện công trạng vĩ đại đời đời lưu truyền này khi ông mới 26 tuổi! Quả thực, ngày nay, cứ thử gõ Trần Bình Trọng vào Google mà xem, sẽ hiện ra hình một ông lão tầm 50 tuổi gầy gò hom hem.
Thoạt đầu, việc ký âm tiếng Việt của mấy nhà truyền giáo Dòng Tên là để cho chính các ngài học tiếng Việt, và cũng giúp những thừa sai đến sau dễ dàng hơn trong việc học tiếng ấy, một thứ tiếng chẳng có chút dây mơ rễ má gì với tiếng Hy Lạp, Latinh, Ý, Bồ Đào Nha, Pháp, Đức… Thực ra đây là một cách bắt chước các nhà truyền giáo Dòng Tên Tây phương ở Nhật Bản. Vì đầu thế kỷ 17, họ cũng đã đưa ra một lối chữ viết mới với mẫu tự abc qua hai cuốn ngữ vựng và ngữ pháp Nhật. Tiếp đến, các ngài muốn sáng tạo một thứ chữ mới, có lẽ lúc đầu chỉ coi nó là phương tiện trong cuộc giới thiệu Tin Mừng với con người Việt, mà chính cha Đắc Lộ đã nhắc tới trong phần đầu cuốn từ điển của cha: “giúp các nhà truyền giáo học tiếng Việt” và “làm theo ý muốn của một số vị Hồng y ở La Mã là thêm chữ Latinh vào để người Việt có thể học thêm La ngữ.”
Người viết báo phải quan niệm mình làm nghề không phải là để chơi hay để kiếm tiền, nhưng phải quan niệm mình là những người thừa kế của cách mạng tư sản, mở đầu là cách mạng tư sản Pháp, say sưa với tự do, trung thành với lý tưởng, chống áp bức, chuộng tiến bộ mà quyền lợi tinh thần của con người đã ủy thác nơi báo chí.. (Lời Nguyễn Văn Vĩnh, theo Vũ Bằng kể lại trong hồi ký “40 năm nói láo.”) /post 31 Tháng Năm 2012(Xem: 2776)/
Sau khi tranh luận lâu như vậy, văn kiện được chép lại và đặt lên bàn của Chủ tịch, mỗi đại biểu Quốc hội bước lên phía trước ký tên, không khí nặng nề đến nghẹt thở. Vào thời điểm đó, những chữ ký này có nghĩa là - tất cả mọi người trong danh sách đều có chung nguy cơ bị Vua nước Anh treo cổ. Bản Tuyên ngôn Độc lập, là một văn kiện lập quốc quan trọng nhất của Hoa Kỳ, được trình bày trước Quốc hội Lục địa Hoa kỳ bởi Ủy ban Năm Nghị sĩ. Khi ấy, Quốc hội Lục địa đã chỉ định một ủy ban để soạn thảo ra Bản Tuyên ngôn Độc Lập, sử gọi là Ủy ban Năm Nghị sĩ. Ủy ban này gồm: Thomas Jefferson, John Adams, Benjamin Franklin, Roger Sherman và Robert Livingston, hoạt động từ ngày 11 tháng 6 năm 1776 cho đến ngày 5 Tháng 7 năm 1776, ngày mà Tuyên ngôn Độc lập được xuất bản.
Ngọc Mai | DKN....Lương Thế Vinh sinh ngày 1 tháng 8 năm Tân Dậu (tức ngày 17/8/1441) tại làng Cao Hương, huyện Thiên Bản, Trấn Sơn Nam (nay thuộc Vụ Bản, Nam Định). Ông vẫn được người đời gọi là “Trạng Lường”, lý do là vì từ nhỏ ông đã rất giỏi đo lường, tính toán. Chưa đầy 20 tuổi, tài học của ông đã nổi tiếng khắp vùng Sơn Nam. Năm 1463, Lương Thế Vinh đỗ trạng nguyên khoa Quý Mùi niên hiệu Quang Thuận thứ 4, đời Lê Thánh Tông.
Hoàn toàn vô ích khi hy vọng rằng cách mạng có thể cải tạo bản chất con người, tuy nhiên đó là điều mà cuộc cách mạng của quý vị, và đặc biệt cuộc cách mạng Nga của chúng tôi đã hy vọng rất nhiều. Cách mạng Pháp khai màn dưới lá cờ của khẩu hiệu mà tự mâu thuẫn và bất khả thi, “tự do, bình đẳng, bác ái”. Nhưng trong cuộc sống xã hội, tự do và bình đẳng là những khái niệm không dung hòa nhau, thậm chí còn chống đối nhau. Tự do tiêu diệt bình đẳng xã hội vì đó là bản chất của tự do. Còn bình đẳng cản trở tự do-vì nếu không như thế không thể nào có bình đẳng
Đền thờ thần núi Đồng Cổ (Yên Định - Thanh Hoá). Ảnh tư liệu HTC LÀM GÌ CÓ “THẦN TRỐNG ĐỒNG”? Hoàng Tuấn Công Sách “Di tích núi và đền Đồng Cổ” (Lê Ngọc Tạo - Nguyễn Ngọc Khiếu” - NXB Thanh Hoá - 2016) là kết quả đề tài khoa học “Sưu tầm, khảo sát và phục dựng nghi lễ của Đền Đồng Cổ”, của Ban Nghiên cứu và Biên soạn Lịch sử Thanh Hoá, do Tiến sĩ Lê Ngọc Tạo chủ trì, cử nhân Nguyễn Ngọc Khiếu thực hiện (sau đây gọi tắt là Nhóm Lê Ngọc Tạo). Sách báo viết về đền Đồng Cổ thì nhiều, nhưng có lẽ “Di tích núi và đền Đồng Cổ” là công trình chuyên khảo công phu nhất từ trước đến nay về ngôi đền này. Sách có hai phần: “I. Núi Đồng Cổ-Tam Thai và vùng thắng tích Đan Nê”, công bố kết quả sưu tầm trên thực địa và khai quật khảo cổ học; phần “II. Đền Đồng Cổ-Di tích và lễ hội”, công bố thần tích, tư liệu, trải qua các thời kỳ Trần - Hồ (1225 – 1407); Hậu Lê (1428 - 1788)
Bảo Trợ