Dịch và cắt nghĩa Lời Chúa trong Xuất Hành 3,14,15

07 Tháng Mười 20132:00 CH(Xem: 990)

Dịch và cắt nghĩa Lời Chúa trong Xuất Hành 3,14,15

 quabiendo-content

I- Lời dẫn nhập

Bài viết gồm có hai phần: Cách ''dịch'' và cách ''diễn giải'' Lời Chúa trong Xuất Hành 3,14,15. Do đó, tôi xin trích dẫn cách ''dịch'' của Giáo Hội Công Giáo, của các Hội Đồng Giám Mục Công Giáo và Giáo Hội Tin Lành (Bản Dịch Thống Nhất) ở những nước nói tiếng Đức, cách dịch của Tin Lành Việt Nam và cách dịch (của một số vị) các từ mà Thiên Chúa phán với Môsê về Ngài. Sau cùng, tôi xin mạo muội nêu lên ý kiến về Danh Xưng của Thiên Chúa và về cách dịch ''thì tương lai'' trong Xuất Hành 3,14,15.

II- Bản dịch của Giáo Hội Công Giáo

Để người đọc dễ dàng đối chiếu các Bản dịch, tôi xin trích dẫn Bản tiếng Latinh, Anh, Pháp, Đức trước, rồi Bản tiếng Việt. Bản tiếng Anh, Pháp cũng viết lớn ''Danh Xưng'' mà Thiên Chúa mạc khải cho Môsê.

A- Bản Latinh

Nhiều nhà chú giải Kinh Thánh và Thần Học gia lỗi lạc khẳng định rằng Bản Latinh PHÙ HỢP với ý trong bản bằng tiếng Dothái và Hylạp. (Bản văn bằng hai tiếng ấy khó đọc và chẳng thông dụng cho đại đa số độc giả, nên tôi không trích dẫn nguyên văn.)

Dixit Deus ad Moysen: ''Ego sum qui sum.''Ait: ''Sic dices filiis Israel: Qui sum misit me ad vos.'' Dixitque iterum Deus ad Moysen: ''Haec dices filiis Israel: Dominus, Deus patrum vestrorum, Deus Abraham, Deus Isaac et Deus Iacob, misit me ad vos; hoc nomen mihi est in aeternum, et hoc memoriale meum in generationem et generationem.''

B- Bản tiếng Anh

God said to Moses, ''I AM THE BEING''; and He said, ''Say this to the sons of Israel, 'THE BEING has sent me to you.'' God, furthermore, said to Moses, ''Say this to the sons of Israel, 'The LORD, the God of your fathers, the God of Abraham, the God of Isaac, and the God of Jacob, has sent me to you.' This is My name forever, and this is My memorial-name to all generations.''

C- Bản tiếng Pháp

Dieu répondit à Moïse: Je suis CELUI QUI EST; et Dieu ajouta: Tu parleras en ces termes aux fils d'Israël:CELUI QUI EST m'a envoyé près de vous. Et Dieu ajouta: Tu parleras en ces termes aux fils d’Israël: LE SEIGNEUR Dieu de vos pères, le Dieu d'Abraham, le Dieu d'Isaac, le Dieu de Jacob, m'a envoyé près de vous.Tel est mon nom immortelle mémorial des générations et des générations.

DBản tiếng Đức (Bản Thống Nhất)

Da antwortete Gott dem Mose: Ich bin der ''Ich-bin-da.'' Und er fuhr fort: So sollst du zu den Israeliten sagen:Der ''Ich-bin-da'' hat mich zu euch gesandt. Weiter sprach Gott zu Mose: So sag zu den Israeliten: Jahwe, der Gott eurer Väter, der Gott Abrahams, der Gott Isaaks und der Gott Jakobs, hat mich zu euch gesandt. Das istmein Name für immer und so wird man mich nennen in allen Generationen.''

E- Bản tiếng Việt

''Rồi Thiên Chúa trả lời cho Môsê: Ta là Đấng ''Hiện-Hữu-ở-đó." Và Ngài phán tiếp: "Con HÃY nói với dân Israel: Đấng ''Hiện-Hữu-ở-đó'' sai tôi đến với các người. Thiên Chúa lại phán với Môsê: Như vậy, con HÃY nói với dân Israel: Giavê, Thiên Chúa của cha ông các người, Thiên Chúa của Abraham, Thiên Chúa của Isaac, Thiên Chúa của Giacob, gởi tôi đến với các người. Đó là Danh Ta đến muôn thuởcho nên thiên hạ sẽ gọi Ta như thế từ thế hệ này sang thế hệ khác." (Người viết tạm dịch theo Bản tiếng Đức.)

III- Bản dịch mới nhất (2011) của Tin Lành Việt Nam

Anh-em Tin Lành Việt Nam dịch ''Xuất Hành 3,14,15'' cũng ''phù hợp'' với Bản Dịch của Giáo Hội Công Giáo (hoàn vũ) và viết ''lớn'' một số chữ quan trọng như sau:

Đức Chúa Trời phán với Mô-sê, ''Ta là ĐẤNG TỰ HỮU HẰNG HỮU.” Ngài lại phán, “Ngươi hãy nói với dân I-sơ-ra-ên như thế nầy, ‘ĐẤNG TỰ HỮU đã sai tôi đến với anh chị em.'' Đức Chúa Trời lại phán với Mô-sê, “Ngươi cứ nói với dân I-sơ-ra-ên như thế nầy, ‘CHÚA, Đức Chúa Trời của tổ tiên anh chị em, Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, Đức Chúa Trời của I-sác, và Đức Chúa Trời của Gia-cốp, đã sai tôi đến với anh chị em.’ Ấy là danh Ta đời đời. Ấy là hiệu Ta suốt mọi thế hệ.''

IV- Ý kiến (của người viết) về cách dịch

Suy cho cùng, cách A và B (dưới đây) là phần ''CẮT NGHĨA'' Lời Chúa phán với Môsê, chứ KHÔNG phải là ''nguyên văn'' Lời Chúa dạy Môsê ở trong Xuất Hành 3,14.

A- Cách dịch ''Ta là Đấng Ta Là.''

Theo thiển ý của tôi, người ''dịch'' viết hoa chữ ''Là'' vì muốn ''cắt nghĩa'' rằng ấy là Danh mà Thiên Chúa cho Môsê biết Ngài là AI. Cũng có người dịch: ''Ta là Đấng  Ta là.'' Như vậy, người ''dịch'' đã trích lại cách ''diễn giải'' trong Sách Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo, ở số 206.

B- Cách dịch ''Ta có sao Ta có vậy.''

Cũng theo thiển ý của tôi, người ''dịch'' cách ấy muốn ''diễn giải'' như trong cách A và còn rõ hơn thế này: Trước sau, Thiên Chúa hằng hữu VẪN là ''một'' vì Ngài là Chân Lý, là Tình Yêu Vĩnh Hằng, là Đấng Thánh của mọi người như Kinh Thánh đã ghi: ''Tình CHÚA thiên thu vạn đại cho những ai kính sợ và tôn vinh Ngài.'' (TV 103,17) "Chúc tụng Thiên Chúa, Đấng MUÔN ĐỜI hằng sống.'' (Tobia 13,2) ''Chúc tụng Danh Thánh Vinh Hiển của Ngài, được ca khen và suy tôn MUÔN ĐỜI.'' (Danien 3, từ câu 52 đến 90, chữ MUÔN ĐỜI được dùng liên tục.)

Tóm lại, DỊCH Kinh Thánh khác với CẮT NGHĨA, CHÚ GIẢI từ ngữ trong Kinh Thánh.

C- Ý nghĩa của động từ Latinh, Anh, Pháp, Đức: ''essebeêtresein''

Động từ ''sum'' trong câu Latinh: ''Ego sum qui sum.'' (Chính Ta là Đấng Hằng Hữu.) có hai nghĩa: Chữ ''sum'' (thứ nhất) có nghĩa: LÀ. Chữ ''sum'' (thứ hai) có nghĩa: HẰNG HỮU. ''HẰNG HỮU'' bởi vì Thiên Chúa CŨNG là ''Chúa Giêsu Kitô vẫn là một, hôm qua cũng như hôm nay, và như vậy đến muôn đời.'' (Dothái 13,8) Xin nêu ví dụ khác về động từ ''esse, be, être, sein'' có nghĩa là ''HIỆN HỮU'': Cogito ergo sum. (Tôi suy tư, vậy là tôi hiện hữu. I think, therefore I am. Je pense, donc je suis. Ich denke, also bin ich.) Nhưng ''tôi là thọ tạo hiện hữu'' khác với Đấng Tạo Hóa.

D- Cắt nghĩa Danh Xưng mà Thiên Chúa phán với Môsê

Trong Sách ''Giáo Lý'' của Giáo Hội Công Giáo bằng tiếng Latinh, ở số 205 có tựa đề trích từ Xuất Hành 3,14: ''Ego sum qui sum.'' (Ta LÀ Đấng HẰNG HỮU.) Động từ ''sum'', ở thì HIỆN TẠI, có nghĩa như đã ''nói'' ở phần IV C. Tuy nhiên, khi CẮT NGHĨA về Danh Xưng ấy, Sách Giáo Lý, ở số 206, viết như sau: ''Khi mạc khải Danh huyền nhiệm của Ngài là YHWH, ''Ta là Đấng Hằng Hữu'' (Je Suis Celui qui Est) hay ''Ta là Đấng Hằng Có'' (Je Suis Celui qui Suis) hay CÒN là ''Ta là Đấng mà Ta là'' (Je Suis qui Je Suis), Thiên Chúa cho biết Ngài là AI và thiên hạ phải GỌI Ngài bằng Danh nào.

Sách Giáo Lý bằng tiếng Anh CŨNG ghi ba cách: 1- ''I AM HE WHO IS.'' (Ta là Đấng Hằng Hữu.) 2- ''I AM WHO AM.'' (Ta là Đấng Hằng CÓ.) 3- ''I AM WHO I AM.'' (Ta là Đấng mà Ta là.) Như vậy, cách 1 và 2 cùng nghĩa với câu Latinh ''Ego sum qui sum.'' trong Xuất Hành 3,14; còn cách 3 cũng có mục đích là CẮT NGHĨA như đã trình bày. NHƯNG Sách Giáo Lý bằng tiếng Việt CHỈ ghi hai cách: ''Ta là Đấng Hiện hữu'', hoặc ''Ta là Ta đây''... (có thêm ba chấm)

E- Hai câu ''Je suis Celui qui suis.''  ''I AM HE WHO IS.''

Đó là cách CẮT NGHĨA các câu: ''Je suis Qui suis. ''I AM WHO AM.'' như câu Latinh: ''Ego sum qui sum.'' bởi vì, theo văn phạm tiếng Pháp, Anh, các đại từ (pronoms / pronouns) ''Celui (Tel); He (The one) trước ''qui; who'' có thể KHÔNG cần thiết như sau: ''Qui peut le plus peut le moins. Who can do more can do less.'' (''Who can do more'' là mệnh đề danh từ (noun clause), làm chủ từ (subject) của ''can do less''. Cho nên, trong câu ''I AM WHO AM.'', ''WHO AM'' cũng là ''mệnh đề danh từ'', làm ''thuộc từ'' (subjective complement) của chủ từ ''I''.

F- Sách Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo bằng tiếng Đức

Đọc Sách vừa nêu, tôi tâm đắc cách viết như sau: Ich bin der, der ist. Ich bin der ''Ich-bin''. (Ta là Đấng Hằng Hữu.) Điều ĐẶC BIỆT là Cuốn Giáo Lý tiếng Đức KHÔNG có cách dịch như trong Sách Giáo tiếng Anh, Pháp, Latinh...: I AM WHO I AM. Je Suis qui Je Suis. Ego sum qui Ego sum.

Theo tôi, nội dung Sách Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo đã được Hồng Y Ratzinger (sau đó là Giáo Hoàng) biên soạn. Cho nên, trong Xuất Hành 3,14 (Bản Thống Nhất bằng tiếng Đức), cách dịch ''Ich bin der ''Ich-bin-da.'' cũng ĐƯỢC bên Tin Lành các nước nói tiếng Đức chấp thuận.

G- Thì tương lai trong Xuất Hành 3,14,15

Trong Bản Kinh Thánh bằng ngoại ngữ (nơi Xuất Hành 3,14,15) có cách dịch: ''Ngươi SẼ nói với...'' Thật ra, ''thì tương lai'' còn có nhiều nghĩa là ''lời khuyên, lệnh cấm, chỉ thị'', chẳng hạn: ''Tu resteras dans ta chambre et tu n'ensortiras pas!'' (Con phải / hãy ở trong phòng mình và không được ra khỏi đó.) Xin viết cách khác theo thể ''mệnh lệnh'' (impératif): Reste dans ta chambre et n'en sors pas! ''Mười Điều Răn'' bằng tiếng Anh, Pháp CŨNG được dùng với ''thì tương lai''; nhưng, trong bản tiếng Việt, đối với những ''lệnh cấm'', các Cụ ngày xưa dùng chữ ''CHỚ'', thay vì ''SẼ KHÔNG'', chẳng hạn: Thứ bảy: Chớ lấy của người. (Tu ne voleras pas.)

V- Phần kết

Xin ''đối chiếu'' CÁCH CẮT NGHĨA Danh Xưng của Thiên Chúa trong Sách GIÁO LÝ bằng tiếng Latinh, số 206 với CÁCH DỊCH Danh Xưng của Ngài trong KINH THÁNH như sau:

A- Cách cắt nghĩa trong Sách Giáo Lý: có ba cách: ''1- Ego sum Ille qui est. 2- Ego sum Ille qui sum. 3- Ego sum qui Ego sum.''

B- Cách dịch trong Kinh Thánh: chỉ có một cách đơn giản thế này: ''Ego sum qui sum.''

Cho nên, bản Kinh Thánh bằng tiếng Pháp, Anh, Đức cũng ghi như đã trình bày ở phần IV E: Je suis Qui suis. I am Who am. Ich bin ''der Ich-bin-da.'' thay cho cách này: ''Je suis Celui qui est / suis. I am The One (He) who is / am. Ich bin der, der ist.''

Vậy, theo tôi, khi dạy Giáo Lý, nên giải thích câu ''Ta là Đấng mà Ta là.'' với nghĩa này: KHÔNG có thần nào (do thế gian nghĩ ra) giống như Ta bởi vì Ta là Đấng Tạo Hóa, Thiên Chúa ĐỘC NHẤT, VÔ NHỊ. ''Ta LÀ Đấng MÀ Ta LÀ'', tức Thiên Chúa, Đấng Vĩnh Hằng! (Je suis Qui Je suis: Je suis Celui Que Je suis: Dieu, L'Eternel!)

Chữ ''L'Eternel'' (Đấng Hằng Hữu) cũng được dùng thay cho chữ ''Jahvé; Giavê'' trong một số Bản dịch bằng tiếng Pháp, Việt. Giáo Hội dùng chữ ''Đấng Tự Hữu'' hay ''Đấng Hằng Hữu'' bởi vì Thiên Chúa là ''Đầu Hết và Cuối Hết'' vì thời gian và không gian do Ngài dựng nên.

Bắt chước các nhà Thần Học Đức lấy ''chủ từ, động từ và trạng từ'', biến ''cả ba'' thành danh từ có mạo từ (der Ich-bin-da), tôi cũng có thể viết thế này: Je suis ''Le Je-suis-là /-ici''! I am ''The I-am-there /-here''! Ta là ''Đấng-hằng-hữu-ở-đó /-ở-đây''!

Đaminh Phan văn Phước

Chúa Nhật, 06.10.2013 (Tháng Mân Côi)


Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
NHỮNG SAI PHẠM CỦA SỨ ĐIỆP TỪ TRỜI 5. Các vấn đề liên hệ đến Hội Thánh. ▶5.1. Chối bỏ Huấn quyền của Hội Thánh. *SỨ ĐIỆP 06-04-2011. "...không một ai trong các con xứng đáng để phán xét hoặc tra xét về người khác. Không ai có quyền hạn hoặc hiểu biết thiêng liêng để đưa ra bất cứ sự đánh giá nào về đạo đức nơi người khác" NHẬN ĐỊNH. Nói như thế bà Maria Divine Mercy rõ ràng đã phủ nhận Huấn quyền của Hội Thánh. ▶5.2. Phủ nhận vai trò của Chúa Thánh Thần trong Hội Thánh. *SỨ ĐIỆP 12-04-2012. "Cơ mật viện Hồng Y bầu Giáo hoàng mới là những người theo bè Tam điểm, là tổ chức độc ác của Satan." NHẬN ĐỊNH. Rõ ràng bà Maria Divine Mercy không tin rằng Thánh Thần của Đức Kitô vẫn đang hiện diện và hoạt động trong Hội Thánh, không ngừng hướng dẫn Hội Thánh đạt đến chân lý toàn vẹn của Đức Kitô.
Nguồn gốc của mọi thiên chức linh mục Chủ đề linh mục là đề tài rất được quan tâm và mang tính thời sự trong thế kỷ qua. Công Đồng Vaticanô II đã dành trọn một tài liệu cho chủ đề này với sắc lệnh Presbyterorum Ordinis; năm 1992, thánh Gioan Phaolô II đã gửi tới toàn thể Hội Thánh tông huấn hậu thượng hội đồng Pastores Dabo Vobis, về việc huấn luyện các linh mục trong bối cảnh hiện nay; tiếp đến, khi công bố năm thánh linh mục 2009-2010, Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI đã phác thảo cách vắn gọn nhưng rất sâu sắc dung mạo linh mục dưới ánh sáng cuộc đời của Cha Sở xứ Ars. Cùng với đó là vô số những suy tư của nhiều tác giả trên thế giới được thực hiện và nhiều cuốn sách viết về chân dung và sứ vụ của linh mục qua dòng thời gian, trong đó rất nhiều tác phẩm có giá trị.
Trải qua lịch sử, Chúa nhật sau lễ Phục sinh đã được gọi bằng nhiều danh xưng khác nhau: Chúa nhật tám ngày sau lễ Phục sinh, Chúa nhật “Áo trắng” (in Albis), bởi vì các tân tòng cởi chiếc áo trắng mà họ đã lãnh nhận khi lãnh các bí tích khai tâm vào đêm Vọng Phục sinh, đánh dấu việc kết thúc giai đoạn huấn giáo khai tâm. Tại vài Giáo hội bên Ấn độ (tục truyền do thánh Tôma tông đồ thành lập), Chúa nhật sau lễ Phục sinh được gọi là chúa nhật thánh Tôma, bởi vì bài Phúc âm thuật lại cuộc gặp gỡ của Người với Chúa Kitô. Gần đây, Đức Gioan Phaolô II muốn thêm một danh xưng nữa, đó là “Chúa nhật kính Lòng Chúa Thương Xót”. Trong Năm Thánh 2000, Đức Gioan Phaolô II đã ấn định rằng trong toàn thể Hội thánh, Chúa nhật sau lễ Phục sinh, ngoài danh hiệu Chúa Nhật Áo trắng, sẽ còn được đặt tên là Chúa nhật kính Lòng Chúa Thương Xót.
Hôm thứ Sáu 12 tháng Hai, 2021, Mùng Một Tết Tân Sửu, Phòng Báo Chí Tòa Thánh đã công bố Sứ điệp Mùa Chay Thánh 2021 của Đức Thánh Cha Phanxicô. Nguyên bản tiếng Ý và các ngôn ngữ khác có thể xem tại đây. Dưới đây là bản dịch toàn văn sang Việt Ngữ. Sứ điệp Mùa Chay 2021 của Đức Thánh Cha Phanxicô “Nào chúng ta lên Giêrusalem” (Mt 20:18) Mùa Chay: Thời gian canh tân Niềm tin, Hy vọng và Tình yêu Anh chị em thân mến, Chúa Giêsu đã mặc khải cho các môn đệ ý nghĩa sâu sắc nhất trong sứ vụ của Người khi loan báo cho họ cuộc khổ nạn, cái chết và sự phục sinh của Người để hoàn thành Thánh ý Chúa Cha. Sau đó, Ngài mời gọi họ chia sẻ sứ mạng này để cứu độ thế giới.
WHĐ (15.2.2021) – Nhân kỷ niệm 60 năm thành lập hàng Giáo phẩm Việt Nam (1961 – 2021), chúng tôi xin được đăng bản dịch chính thức của Hội đồng Giám mục Việt Nam về Tông thư thành lập hàng Giáo phẩm Việt Nam – “Jam In Pontificatus” của Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII gửi hàng Giáo phẩm Việt Nam ngày 14.1.1961. * * *
Thứ Tư Lễ Tro năm nay sẽ rơi vào ngày 17 tháng Hai. Hôm thứ Ba, Vatican đã đưa ra hướng dẫn về cách các linh mục có thể xức tro vào Thứ Tư Lễ Tro trong bối cảnh đại dịch coronavirus. Bộ Phụng Tự và Kỷ Luật Bí Tích đã công bố một chỉ dẫn vào ngày 12 tháng Giêng, hướng dẫn các linh mục đọc công thức xức tro một lần cho tất cả mọi người có mặt, thay vì cho từng người. Nguyên bản tiếng Anh có thể xem tại đây. Dưới đây là bản dịch toàn văn sang Việt Ngữ. Bộ Phụng Tự và Kỷ Luật Bí Tích Công văn số 17/21 Chỉ dẫn cho ngày Thứ Tư Lễ Tro Việc xức tro trong thời gian xảy ra đại dịch Vị Linh mục đọc lời nguyện làm phép tro. Ngài rảy nước thánh lên tro, không nói gì cả. Sau đó, ngài nói với tất cả những người hiện diện chỉ một lần duy nhất công thức như được ghi trong Sách Lễ Rôma, áp dụng công thức ấy cho tất cả mọi người nói chung:
Ngày 1 tháng 10 năm 2010, Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hòa bình đã ra thông báo về án phong chân phước cho ĐHY Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận. Thông báo viết: “Ngày 22 tháng 10 tới, tức 3 năm sau khi loan báo việc mở Án phong chân phước, sẽ có phiên họp trọng thể mở cuộc điều tra ở cấp giáo phận về đời sống, các nhân đức và đời sống thánh thiện của Đấng Đáng Kính, ĐHY Việt Nam Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, người đã là Phó Chủ Tịch Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hòa bình từ năm 1994 và là Chủ tịch Ủy Ban này từ ngày 24 tháng 6 năm 1998 đến ngày 16 tháng 9 năm 2002”. Theo thông báo của Tòa Tổng Giám mục Tổng Giáo phận Tp. Hồ Chí Minh về việc điều tra án phong chân phước và phong thánh cho Đức Cố Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, do Đức Hồng Y GB Phạm Minh Mẫn ký ngày 1 tháng 1 năm 2012, chúng ta cùng tìm hiểu đôi nét về cuộc đời của Đấng Đáng Kính, Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận.
Phong trào mệnh danh là “Sứ điệp từ trời” đã xuất hiện từ tháng 11 năm 2010 tại Châu Âu, và cho đến nay đã được quảng bá hầu như rộng khắp trên toàn thế giới. Chắc hẳn nhiều người trong chúng ta đã nghe nói hoặc đã từng đọc qua các “Sứ điệp từ trời”. Điều đó ít nhất cũng cho thấy tầm ảnh hưởng và tính chất thu hút của phong trào mới này./20 Tháng Năm 2015(Xem: 1618) Lm Giuse Lâm Văn Sỹ OP./
RVA (11.1.2021) – Đức Thánh Cha Phanxicô đã ban hành Tự sắc “Spiritus Domini”, Thần Trí của Chúa, thay đổi khoản Giáo luật, số 230 triệt 1 để cho phụ nữ được lãnh nhận thừa tác vụ đọc sách và giúp lễ. Thánh lễ tại nhà nguyện thánh Marta | Ảnh: Vatican News Khoản này cho đến nay qui định rằng: “Các giáo dân thuộc nam giới có đủ tuổi và điều kiện do nghị định của Hội đồng Giám mục ấn định, có thể lãnh tác vụ đọc sách hoặc giúp lễ, qua một nghi lễ phụng vụ đã qui định. Tuy nhiên, việc trao tác vụ này không cho họ quyền được Giáo Hội trợ cấp hoặc trả lương”. Nay, trong tự sắc “Thần Trí của Chúa”, Đức Thánh Cha thay đổi khoản 230 triệt 1 như sau:
1. Ghi nhận lịch sử - Phụng Vụ Lễ trọng kính Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa, được cử hành vào ngày 01 tháng 01, trùng với ngày bát nhật Giáng Sinh, nhớ đến việc cắt bì và đặt tên cho Chúa Giêsu, khởi đầu năm mới, và cũng là ngày cầu cho hòa bình thế giới. Trước khi canh tân Phụng Vụ, lễ trọng này được phổ biến trên khắp thế giới và được Đức Giáo Hoàng Piô XI xác định vào ngày 11.10.1931, nhân dịp kỷ niệm 1500 năm Công đồng Êphêsô. Trong niên lịch mới, lễ này gợi lại ngày thứ tám sau Giáng Sinh. Đức Giáo Hoàng Phaolô VI viết: “Ngày lễ trọng ấy nay được đặt vào mồng một tháng giêng theo như tập tục xa xưa của Phụng Vụ Rôma. Lễ này được dành riêng ca tụng việc Đức Maria góp phần vào mầu nhiệm cứu độ và tán dương tước vị cao quí đặc biệt do phần đóng góp ấy đem lại cho Người Mẹ rất thánh, Đấng có công giúp chúng ta đón tiếp Tác Giả của sự sống” (Marialis Cultus 5).
Bảo Trợ