Con hạc của vua Tự Đức

22 Tháng Sáu 20122:00 CH(Xem: 4466)

Có một chuyện cung đình thời nhà Nguyễn do nhà thơ Tản Đà kể lại, xưa nay người viết bài này chưa từng đọc thấy ở đâu, cho mãi tới tháng này, nhân ngày giỗ thứ 73 của thi sĩ (7 tháng 6, 1939 -7 tháng 6, 2012). Lạ là ở chỗ Tản Đà được biết đến như một thi sĩ bình dân, xuôi Nam ngược Bắc vì nghề báo, khi túng thiếu còn phải mở cửa hàng Quỷ Cốc bói toán Hà Lạc tại nhà ở Phố Bạch Mai Hà Nội để mưu sinh, làm sao lại biết đến những chuyện ở chốn cung đình chưa từng ghi trong sử sách? Đó là chuyện con hạc của Vua Tự Đức, khác với những con hạc của dân dã, vì vua có đeo cho nó một tấm kim bài, xác định rằng nó là con hạc của ổng.

 blank

Tranh vẽ Vua Dực Tông nhà Nguyễn, hiệu Tự Đức (1829-1883).

 

Người đời ít biết rằng Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu là con một ông ngự sử triều Tự Đức. Trương Tửu Nguyễn Bách Khoa, hồi thập niên '50 tưởng chết vì tham gia Nhân Văn Giai Phẩm, vốn là một kiện tướng của Nhóm Hàn Thuyên cùng những nhà văn nổi tiếng thời tiền chiến như Nguyễn Đình Lạp, tác giả Ngoại Ô, như Nguyễn Đức Quỳnh, tác giả Thằng Kình, một hôm được tác giả Khối Tình Con mời tới nhà dự tiệc rượu, đã là người viết ra giấy chuyện này vào tháng “Janvier 1939.”* Theo ông thì “Cụ (Tản Đà) vốn dòng dõi quyền quý, hấp thụ Nho giáo từ bé. Như lời cụ thuật lại, tổ tiên xưa kia vẫn làm quan dưới Triều Lê. Cập đến lúc Nhà Nguyễn thế chân Triều Lê, các ngài thề với nhau quyết không bao giờ chịu ra làm quan nữa. Đến đời thân sinh của thi sĩ, lời thề ấy bị phụ. Vì gia đình bần bách, thân sinh cụ - Nguyễn Danh Kế tiên sinh - phải đi đánh quay đất* để nuôi mẹ già. [* đánh quay đất? - không rõ là gì.] Nghĩ cực quá, tiên sinh đành lỗi ước với tổ tiên, ra thi và chịu ấn phong của Nguyễn triều. Tiên sinh làm đến chức ngự sử trong Kinh, giữ việc Án-lý. Tục truyền văn án tiên sinh hay lắm. Những lý lẽ tiên sinh dùng để gỡ tội cho bị-cáo-nhân bao giờ cũng đanh thép, nhiều lần vua Tự Đức đã phải khen.”

 

Để chứng minh những điều viết ở trên (trong cuốn Uống Rượu với Tản Đà, Đại Đồng thư xã, Hà Nội, 2.1939), Trương Tửu viết: “Vua Tự Đức có nuôi một con hạc rất đẹp. Vua yêu nó lắm, đã phong tước vương cho nó. Ở cổ hạc có đeo lủng lẳng một cái bài ngà. Một buổi chiều kia hạc ta ngất nghểu ngao du ra ngoài cửa thành và bị cắn chết bởi một con chó của người chủ quán bán hàng cơm gần đấy. Tức thời chủ quán bị bắt giam và truy tố. Tiên sinh (Nguyễn Danh Kế, thân phụ Tản Đà), ở địa vị ngự sử, làm trạng sư cãi cho bị-cáo-nhân.”

 

Bản cãi là một “bài thơ” như sau:

 

Hạc hữu kim bài

 

Khuyển bất thức tự

 

Xúc [Súc] vật tương thương

 

Hà phương nhân sự.

 

(Con hạc có đeo kim bài. Nhưng con chó không biết chữ. Súc vật hại lẫn nhau. Việc gì con người lại có tội?)

 

Vua Tự Đức đọc xong, tha bổng người chủ quán.

 

Nhân chuyện này, người viết lục tìm tiểu sử Nguyễn Danh Kế ở Khê Thượng, Bất Bạt, Sơn Tây, chỉ biết thêm ông đỗ cử nhân Hán học, có ít ra là ba vợ. Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu là con bà thứ ba, tên là Nhã Thị Nghiêm, bà là một cô đào giỏi thi thư, nổi tiếng giai nhân tuyệt sắc, sáng tác thơ ca rất nhiều. Tản Đà còn có người anh khác mẹ là Nguyễn Tài Tích, thi đỗ Phó Bảng. Ông được người anh này dạy dỗ từ nhỏ, nên giỏi thơ văn, năm 14 tuổi đã thành thạo văn chương khi học ở Hà Nội. Ông từng viết tham luận bằng chữ Hán gửi ra ngoại quốc, và một bài nhan đề “Âu Á nhị châu hiện thế luận” đã được đăng trên một tờ báo Hoa ngữ ở Hương Cảng. Người yêu của ông họ Đỗ, là cô hàng sách ở phố Hàng Bồ, ông từng thú nhận mỗi ngày kể cả trời mưa mà không vòng qua Phố Hàng Bồ, đi qua tiệm sách ngó cô, thì không chịu được. Nhưng ông thi Hương hoài vẫn trượt tú tài, ít ra là hai khóa 1909 và 1912, nên có dịp đứng xa xa ngó đám cưới của cô hàng sách về nhà chồng. Cảnh sống bó buộc và chuyện đời nổi trôi của nhà thơ Núi Tản Sông Đà đã để lại cho hậu thế những bài thơ tuyệt tác, kể cả thơ dịch: Tống Biệt, Hoàng Hạc Lâu, Thề Non Nước,... không kể các tác phẩm Giấc mộng con, 1 và 2, Giấc mộng lớn, Đài gương truyện, Liêu trai chí dị, không kể hàng trăm bài vở đăng trên các tờ báo lớn: Đông Dương Tạp chí, Đông Pháp thời báo, và tờ An Nam tạp chí của ông, gây dựng mãi vẫn không trụ nổi với đời.

 

Cũng dịp này chúng ta biết thêm một khía cạnh của vua Tự Đức (1829-1883), người ở ngôi vua đến 36 năm, có 14 thứ bệnh khác nhau trong người, kể cả “bệnh vô sinh” (không có con), ngày nào cũng phải uống thuốc.** Ông nuôi chim hạc, và là tác giả hai câu thơ tình yêu thật ý vị, nồng nàn: “Đập cổ kính ra tìm lấy bóng/Xếp tàn y lại để dành hơi.”

 

Ới Thị Bằng ơi! Đã mất rồi!

 

Ới tình ới nghĩa, ới duyên ôi!

 

Mưa hè nắng chái oanh ăn nói

 

Sớm ngõ trưa sân liễu đứng ngồi.

 

Đập cổ kính ra tìm lấy bóng***

 

Xếp tàn y lại để dành hơi

 

Mối tình muốn dứt càng thêm bận

 

Mãi mãi theo hoài cứ chẳng thôi.

 

(Dực Tông (Tự Đức), Khóc Bằng phi)

 

Tự Đức sống giữa thời đại đầy giặc giã bên trong, bên ngoài thì Pháp xâm nhập đánh phá rồi lập nền đô hộ, mà không phải là anh hùng; nhưng được cái có công với văn học, say mê Truyện Kiều, ngâm vịnh bổ sung rồi còn ra lệnh khắc in Kiều, do đó bản Tự Đức cho in có tên là “bản Kinh,” để phân biệt với các bản của dân dã. Vua mê Kiều thì nước phải đầy Kiều, một tên chung gọi gái mại dâm, và sau Tự Đức là Phạm Quỳnh, Tể tướng đăng đàn cổ võ Kiều, tới nay thì cái nạn ấy cả trong lẫn ngoài nước đều biết. Kiều xúm xít xếp hàng cho đàn ông ngoại quốc định giá rồi nhập cảng qua Đài Loan, Hán Thành, Thái Lan... Sự việc có nguồn gốc từ “triều đình” mà ra. (Tháng 6, 2012)

 

Chú thích:

 

* Trương Tửu, Uống rượu với Tản Đà, Đại Đồng thư xã, Hà Nội, 1939.

 

** Bùi Minh Đức, Lịch sử nhìn lại dưới góc độ Y khoa, Nxb Văn hóa-Văn nghệ, 2012.

 

***Câu này Tự Đức ảnh hưởng câu của Trần Danh Án (1754-1794): Phá toái lăng hoa tầm cựu ảnh. (Theo Nguyễn Tường Phượng-Bùi Hữu Sủng, Văn-học-sử Việt Nam hậu bán Thế kỷ XIX, nxb Nguyễn Khuyến, Sài gòn, 1956).

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh ("Tây tiến", thơ Quang Dũng) Xa nhìn thấp thoáng trong mây muôn bóng quân Nam chập chùng... (1) Câu hát ấy, từ bao năm nay vẫn cứ theo tôi, theo tôi mãi. Câu chuyện bắt đầu tư những ngày xa xưa, thuở tôi còn là cậu học trò nhỏ vừa bước vào năm học đầu tiên của một trường trung học ở thành phố cao nguyên có cái biệt danh nghe buồn buồn là "Buồn-muôn-thuở". Cậu học trò ấy, vào mỗi sáng thứ Hai, cùng chúng bạn đứng xếp hàng ngay ngắn trước sân cờ nao nức chờ đợi phút giây được tham dự vào nghi thức thượng kỳ đầu tuần trong bầu không khí thật trang nghiêm giữa sân trường thuở ấy.
“Thế là cậu đã nhẹ nhàng ra đi, rời xa cái thế giới mà cậu đã để lại rất nhiều sau hơn 80 năm góp mặt và đã sống tràn đầy từng phút từng giây. Trước hết, là một nhạc sĩ, cậu đã để lại hơn 200 nhạc phẩm, đã làm phong phú đời sống tinh thần và tình cảm của hàng triệu người nghe, và sẽ còn làm rung động tâm hồn hàng triệu người yêu nhạc nữa trong những thế hệ mai sau. Là một nghệ sĩ tài danh, cậu không kiêu căng lập dị. Trái lại, cậu đã luôn luôn cư xử khiêm tốn, nhún nhường, tôn trọng người khác như tác phong của con người có văn hóa, một đức tính đã khiến cậu được nhiều người mến mộ và noi gương. Là một nghệ sĩ chân chính, cậu đã không để đồng tiền làm vẩn đục tâm hồn. Cậu không đòi hỏi những ca sĩ trình diễn nhạc phẩm của mình phải trả tiền tác quyền mà chỉ nhận tiền của những ban nhạc lớn nhưng hầu hết số tiền thu được cậu đã đem tặng cho các hội từ thiện.
Thầy Cô thân mến, (Nếu được sự đồng ý của các bạn đồng lớp) Ngày mùng ba tết Năm Tân Sửu, con và các bạn học cùng lớp mừng tuổi Thầy Cô. Chúng con không có rượu, không có bánh tét, không có cặp trứng để mừng tuổi Thầy Cô, chỉ có mấy hàng chữ mà Thầy đã dạy chúng con học viết trong những năm tại trường Tấn Đức và lòng tôn trong với một người Thầy Giáo khả kính, hiền lành.
1. Nếu chịu khó đọc đủ nhiều và nghiên cứu sách tỉ mỉ, bạn sẽ không cần và không thích nghe bất cứ diễn giả nào chia sẻ. Nói cách khác, tất cả những gì một diễn giả, một nhà đào tạo nói với bạn đều có sẵn trong sách. 2. Diễn giả, nhà đào tạo ở ta là những kẻ nói lại sách của người khác để trục lợi. Có thể họ nói hùng hồn và dễ hiểu hơn nhưng phần lớn không sâu sắc và không đủ ý. Kiến thức mà thiếu ý là thứ kiến thức nguy hại. Giống như thầy lang đọc sách đau bụng uống nhân sâm. 3. Diễn giả đẳng cấp là kẻ phải ham đọc và ham viết. Họ thường là tác giả có tầm cỡ. Đương nhiên, diễn giả rởm cũng tỏ ra vẻ như mình đọc nhiều sách và khoe mình hay đọc sách. Chết là ở đó. Nhưng tinh ý, bạn sẽ biết họ đọc nhiều thật hay đang nói dối. Ngồi cạnh người đọc sách nhiều và đúng cách, bạn sẽ học được ít nhiều chỉ sau 5 phút. Kẻ đọc sách nhiều không đay nghiến và kì thị ai quá đáng. Họ ghét ai cũng là cái ghét từ bi. Yêu ai cũng không vồ vập.
Thật khó hình dung được thời gian qua nhanh, đã hơn mấy chục năm sống cuộc đời lưu vong tại Calgary, Alberta, miền Tây Canada. Dẫu muốn hay không cũng phải chấp nhận nơi đây là quê hương thứ hai, nơi đã mang và nuôi dưỡng chúng tôi hơn nửa đời người. Tạ ơn Chúa và Canada. Sự kiện đặc biệt đang xảy ra tại vùng này là trong suốt mấy chục năm qua chưa từng có một mùa Đông có nhiều ngày nắng và ấm như thế. Vào những ngày này của tháng giêng, mặt trời chiếu tỏa từ sáng tới chiều và nhiệt độ ấm lên từ 5c-6c vào khoảng một giờ chiều và đã kéo dài hơn hai tuần nay. Toàn tỉnh đang bị lockdown vì covid-19 mà có những ngày đẹp trời cũng tạo cho tâm lý bà con vui vẻ hơn; người người bước ra ngoài để hớp những không khí trong lành của thiên nhiên. Trẻ em thì háo hức chơi đủ trò trên tuyết – người lớn thì đi bộ dọc hai bên đường cùng với những chú chó bị nhốt lâu ngày trong nhà nay có dịp ra ngoài.
Tên nàng là Nhung Nữ. Dân làng đặt tên nàng là Nhung Nữ vì nàng có mái tóc dài, gợn sóng, nhung huyền, gần chấm đất những khi nàng cong tấm lưng thon, biểu diễn điệu múa quyến rũ, mỗi lần làng họp chợ. Nàng là một kỳ công tuyệt diệu của tạo hóa, với sóng mắt xếch như mang theo sự huyền bí của miền Đông Á. Da nàng là màu nắng mặt trời. Tóc nàng, nhung đen như đêm Ba Tư thần thoại, một suối nhung huyền trên tấm lưng thanh nhã, lượn sóng trên bờ eo nhỏ mỗi khi nàng dạo bước trên bãi biển. Môi nàng lúc nào cũng như tiềm ẩn một nụ cười, chờ đợi một chuỗi cười hồn nhiên, và viền môi cong như đón mời một nụ hôn nồng nàn làm tiêu tan nghị lực. Khuôn mặt nàng ẩn giấu nét rộn rã của đứa trẻ nhỏ, nhưng đồng thời chung quanh khóe mắt đẹp và hơi buồn đã thấp thoáng những nét nhăn như chứng tích của sự trưởng thành. Nàng là đàn bà trẻ thơ.
Sài Gòn vẫn rất dễ thương Cái tên dù lạ con đường vẫn quen Tôi hay “viện dẫn” hai câu thơ của mình mỗi khi phải hồi âm một cánh thư xa nào đó, thường là câu hỏi “Sài Gòn bây giờ ra sao?” Thật ra trong cảm nhận của tôi, Sài Gòn vẫn thế. Bởi dù trải qua nhiêu bao biến cố thăng trầm, thì Sài Gòn, Hòn Ngọc Viễn Đông, thủ đô trong những trái tim miền Nam ngày nào vẫn không bao giờ thay đổi. Sài Gòn của một thời tôi mới lớn, những “con đường tình ta đi” Duy Tân, Trần Quý Cáp, Tú Xương, Công Lý. Những chiều bát phố Lê Lợi, Tự Do. Những rạp cine. Món bánh tôm hẻm Casino (Sài Gòn). Những xe bò viên Nguyễn Thiện Thuật. Bánh mì thịt trước chợ Trương Minh Giảng, gỏi đu đủ – khô bò – nước mía Viễn Đông (góc Lê Lợi – Pasteur)…
...chỉ với Mùa Xuân chín, Hàn Mặc Tử đã luôn là một nỗi nhớ khôn nguôi của người yêu thơ, yêu cái đẹp khi xuân về. Trong làn nắng ửng: khói mơ tan, Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng. Sột soạt gió trêu tà áo biếc, Trên giàn thiên lý. Bóng xuân sang. Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời Bao cô thôn nữ hát trên đồi; Ngày mai trong đám xuân xanh ấy, Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi… Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi, Hổn hển như lời của nước mây, Thầm thì với ai ngồi dưới trúc, Nghe ra ý vị và thơ ngây… Khách xa gặp lúc mùa xuân chín, Lòng trí bâng khuâng sực nhớ làng: “Chị ấy, năm nay còn gánh thóc Dọc bờ sông trắng nắng chang chang?” Có một chàng thi sĩ tài hoa nhưng bạc mệnh sống vào khoảng nửa đầu thế kỷ 20 ở Nam Trung Bộ. 16 tuổi, chàng đã làm bài thơ đầu tiên. Chàng đã sống, đã đi, đã yêu tha thiết và đã đau đớn cùng cực.
Truyện Kiều là một tuyệt tác trong văn học sử Việt Nam, điều này ai cũng công nhận. Theo Phạm Quỳnh, “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; tiếng ta còn, nước ta còn”, nhưng ông và nhiều học giả khác không phân tích rõ Truyện Kiều hay như thế nào và tại sao tác phẩm này đặc biệt. Dù sao thì Truyện Kiều cũng có ảnh hưởng rất rộng với đại chúng, đa số người Việt biết thưởng thức thơ hay và ít quan tâm đến những phân tích phê bình của những nhà nghiên cứu. Lãng Nhân có nhận xét về một điểm vô lý trong Truyện Kiều: Khi mấy chị em đi chơi lễ Thanh Minh và thấy một nấm mồ hoang, em trai Thúy Kiều là Vương Quan chỉ là một cậu bé học trò 14-15 tuổi, vậy mà kể rành rẽ tiểu sử người kỹ nữ quá cố giống như một tay ăn chơi lão luyện: Vương Quan mới dẫn gần xa, Đạm Tiên nàng ấy xưa là ca nhi Nổi danh tài sắc một thì, Xôn xao ngoài cửa thiếu gì yến anh. Phận hồng nhan có mong manh, Nửa chừng xuân, thoắt gẫy cành thiên hương!
- Chúng ta đa số đều biết rằng các nhà văn trong Tự Lực Văn Đoàn từ 1934 - 1940 có gốc gác khởi xuất từ miền Bắc, viết văn, viết sách, thơ, truyện, thường họ chỉ dùng (GI) cho "giòng sông, giòng nước". Thí dụ như: a) Nhất Linh: "Giòng Sông Thanh Thủy". b) Tú Mỡ: "Giòng Nước Ngược". c) Thạch Lam: "Theo Giòng". - Còn các nhà văn, trí thức lớp sau, thường có xuất thân tại miền Nam, trước khi xảy ra biến cố 1975, họ hầu hết sử dụng (D) cho "dòng sông, dòng nước". Thí dụ như: a) Doãn Quốc Sỹ: "Dòng Sông Định Mệnh (1959). b) Nhật Tiến: "Tặng Phẩm Của Dòng Sông (1972). c) Đằng Phương Nguyễn Ngọc Huy: "Dòng Nước Sông Hồng" (viết 1945, in lại vào thi tập năm 1985). - Và sau hơn nữa đó là: a) Ngô Thế Vinh: "Mekong, Dòng Sông Nghẽn Mạch (2007).
Bảo Trợ