Ba và kỷ niệm

17 Tháng Sáu 20122:00 CH(Xem: 5141)

Tôi không là một đứa con gần cha lẫn gần mẹ trong gia đình. Nghĩa là, so với các anh chị em khác, tôi là đứa ít khi tâm sự với Ba Má những chuyện riêng tư của mình. Nhưng tôi có nhiều kỷ niệm với Ba tôi hơn là với Má, nhiều hơn so với những chị em gái trong nhà.

blank

Kỷ niệm đầu tiên tôi có về hình ảnh của Ba là ngày Má tôi từ Mỹ Tho hốt hoảng trở về, nói, “Ba bị người ta bắt rồi!” Tôi nhớ ngày đó tôi còn nhỏ lắm, chỉ chừng 7, 8 tuổi, tôi đứng tựa nơi một góc giường. Bật khóc. Khóc vì một nỗi sợ hãi. Khóc vì một điều gì trống hoác mở ra... Ba bị bắt vì tội “buôn lậu dầu dừa” để kiếm tiền nuôi đám con 7 đứa. Để rồi vài ngày sau, khi Ba trở về, tôi nhìn thấy Ba. Lại bật khóc. Tôi mừng.

 

Kỷ niệm về Ba là những chiều Ba đậu xe trước trường Phạm Đình Hổ hay Võ Văn Tần chờ đón tôi tan những buổi theo học các lớp chuyên Văn. Những lúc có tiền, Ba ghé vào chợ Thái Phiên cho tôi ăn chè mè đen. Tôi biết trên đời này có cái món chè đen thui lui, nóng hôi hổi, thơm ngát mùi mè là từ những ngày đó.

 

Tôi nhớ một lần, đón tôi xong, Ba chở tôi đến chợ đồng hồ trên đường Hùng Vương để mua cho Má một chiếc đồng hồ mới.

 

Đút chiếc đồng hồ vào túi, trên đường về, Ba lại ghé cho tôi ăn chí mè phủ. Như một sự ăn mừng. Chén chè chưa nuốt trôi khỏi cổ, Ba chợt giật mình thảng thốt: cái đồng hồ đã rớt biến tự lúc nào.

 

Tôi nhớ hoài nét mặt thất thần của Ba tôi. Nhớ ánh mắt thảng thốt. Nhớ miệng Ba cứ kêu, “Mất rồi! Rớt mất tiêu rồi!” Nhớ hai tay Ba cứ lần tìm kiếm hết trong túi quần đến túi áo xem cái đồng hồ nơi đâu. Chiếc đồng hồ khi đấy không phải là gia tài, nhưng để mua được nó là điều không dễ dàng đối với Ba Má tôi ngày đó.

 

Tôi không còn ăn chè mè đen kể từ buổi ấy, cho đến hơn 10 năm sau, mang theo trong đầu gương mặt thẫn thờ của Ba tôi.

 

Kỷ niệm về Ba là những chiều Ba chở tôi đến phòng khám ngoài giờ của bệnh viện Chợ Rẫy để chờ đợi khám căn bệnh viêm xoang mũi cho tôi. Tôi nhớ gương mặt đau khổ của Ba khi cầm lấy toa đi mua thuốc. Bệnh con thì phải chữa, không thể để nó ôm đầu than đau than nhức, nhưng đồng tiền kiếm ra được không dễ dàng cho việc mua lấy những thứ thuốc trụ sinh. Tận bây giờ, có những lúc cảm thấy đắn đo trong việc cân nhắc xem có đủ tiền mua cho con một món đồ gì nó thích hay không, tôi lại nhớ đến gương mặt Ba tôi khi đó. Quặn thắt.

 

Kỷ niệm về Ba là những ngày Ba chở tôi đi đến Viện Tai Mũi Họng, rồi đến bệnh viện Nhi Đồng 1, rồi lại đến Chợ Rẫy để “chọc xoang.” Đến giờ này, tôi vẫn không quên được cảm giác đau đớn khi một chiếc kim thật lớn được đâm thẳng vào lỗ mũi, nghe “rốp” một tiếng như bánh tráng bị giẫm bể. Rồi người ta bơm vào đó một thứ thuốc hay nước gì đó, và từ bên lỗ mũi còn lại máu mủ gì cứ tuôn nhau chảy ra theo thứ nước đó, trong lúc hai tay tôi phải ôm lấy một cái thau nhỏ kê dưới cằm mình để hứng lấy. Ba nói những khi ấy, Ba cũng muốn rụng rời, đau buốt.

 

Kỷ niệm về Ba là ngày tôi đậu đại học, Ba chở tôi ra một tiệm nón trên đường Lê Lai mua cho tôi một chiếc nón rộng vành, kiểu nón nhìn đài các và đầy vẻ tiểu thư thời thượng lúc đó. Tôi đội nó đến trường từ lúc vành nón còn hồ cứng, đến lúc mắc mưa, lúc tôi giặt, vành nón mềm xuống như tàu lá, chiếc nơ phía sau cũng tuôn chỉ phải kết lại. Cho đến ngày tôi bỏ quên nó trong hộc bàn ở giảng đường...

 

Kỷ niệm về Ba là một ngày tôi đang ở đại học năm thứ 3. Ba đưa tôi 50 ngàn, “Má thích dầu thơm hiệu Salome, con coi ra chợ An Đông mua cho Má.”

 

Tôi mang 50 ngàn đồng ra chợ. Dầu thơm Coryse Salome Nuit D'Orient không có giá đó. Phải gấp 4 lần trở lên. Tôi trở về. Nhiều tiền hơn Ba không có. Đó là lần đầu tiên trong đời, tôi cảm thấy bức bối về sự không đầy đủ. Tôi lớn lên, không biết bao lần tôi đi mua nước hoa, và cũng không ít lần, tôi nhớ sự thất vọng của Ba khi không mua được cho Má chai dầu thơm khi ấy. Một nỗi gì vừa thương yêu vừa xót xa cứ sâu xoáy trong tôi.

 

Kỷ niệm về Ba là ngày Ba từ Sở Ngoại Vụ trở về sau khi hoàn tất thủ tục cắt tên tôi ra khỏi danh sách đi xuất cảnh cùng gia đình năm 1993.

 

Thuyết phục điều gì, trách cứ điều gì, la mắng điều gì, Ba Má tôi đã nói hết những ngày trước rồi, nên ngày hôm đó lại là một ngày lặng lẽ đến nghẹt thở.

 

Tôi nhớ Ba trở về, chỉ nói với mọi người một cách nhẹ nhàng, “Xong rồi. Bây giờ có thay đổi cũng không được.” Tôi nhớ tôi không dám nhìn thẳng vào Ba. Nhưng tôi nhớ câu Ba nói, “Xong rồi, con lo chuyện của con đi. Chuyến đi sắp tới của gia đình không có con.”

 

Kỷ niệm về Ba là một ngày trước khi Ba đi Mỹ định cư, tôi về thăm nhà. Ba gọi tôi lên gác, đưa cho tôi một xấp giấy tờ, trong đó có thẻ IOM, có bản copy passport, có một số giấy tờ liên quan đến hồ sơ xuất cảnh của tôi, “Con giữ làm kỷ niệm.”

 

Rồi Ba đưa tôi một gói giấy nhỏ, “Trong này có một chỉ vàng, Ba cho con để dành. Ba không có gì khác để cho con.”

 

Tôi cầm tất cả. Nước mắt tôi chảy xuống. Ba xoa đầu tôi, “Hãy nhớ là lúc nào Ba cũng thương con hết.”

 

Chiếc nhẫn đó, tôi giữ nguyên trong gói giấy. Thỉnh thoảng tôi cầm lấy chiếc nhẫn tròn đưa lên nhìn, nhớ Ba tôi, rồi lại cất vào, theo nếp gấp cũ.

 

Chiếc nhẫn theo tôi sang đây. Vẫn nằm yên trong gói giấy trắng.

 

Lần nhà bị mất trộm đầu năm 2010, nguyên hộp nữ trang mất sạch. Tôi nói với con gái, “Mẹ chỉ tiếc chiếc nhẫn của ông ngoại. Định khi con lớn, mẹ cho con làm kỷ niệm.”

 

Vậy mà sáng nay, tôi lại kéo hộc tủ, định lấy cái gói giấy ấy

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh ("Tây tiến", thơ Quang Dũng) Xa nhìn thấp thoáng trong mây muôn bóng quân Nam chập chùng... (1) Câu hát ấy, từ bao năm nay vẫn cứ theo tôi, theo tôi mãi. Câu chuyện bắt đầu tư những ngày xa xưa, thuở tôi còn là cậu học trò nhỏ vừa bước vào năm học đầu tiên của một trường trung học ở thành phố cao nguyên có cái biệt danh nghe buồn buồn là "Buồn-muôn-thuở". Cậu học trò ấy, vào mỗi sáng thứ Hai, cùng chúng bạn đứng xếp hàng ngay ngắn trước sân cờ nao nức chờ đợi phút giây được tham dự vào nghi thức thượng kỳ đầu tuần trong bầu không khí thật trang nghiêm giữa sân trường thuở ấy.
“Thế là cậu đã nhẹ nhàng ra đi, rời xa cái thế giới mà cậu đã để lại rất nhiều sau hơn 80 năm góp mặt và đã sống tràn đầy từng phút từng giây. Trước hết, là một nhạc sĩ, cậu đã để lại hơn 200 nhạc phẩm, đã làm phong phú đời sống tinh thần và tình cảm của hàng triệu người nghe, và sẽ còn làm rung động tâm hồn hàng triệu người yêu nhạc nữa trong những thế hệ mai sau. Là một nghệ sĩ tài danh, cậu không kiêu căng lập dị. Trái lại, cậu đã luôn luôn cư xử khiêm tốn, nhún nhường, tôn trọng người khác như tác phong của con người có văn hóa, một đức tính đã khiến cậu được nhiều người mến mộ và noi gương. Là một nghệ sĩ chân chính, cậu đã không để đồng tiền làm vẩn đục tâm hồn. Cậu không đòi hỏi những ca sĩ trình diễn nhạc phẩm của mình phải trả tiền tác quyền mà chỉ nhận tiền của những ban nhạc lớn nhưng hầu hết số tiền thu được cậu đã đem tặng cho các hội từ thiện.
Thầy Cô thân mến, (Nếu được sự đồng ý của các bạn đồng lớp) Ngày mùng ba tết Năm Tân Sửu, con và các bạn học cùng lớp mừng tuổi Thầy Cô. Chúng con không có rượu, không có bánh tét, không có cặp trứng để mừng tuổi Thầy Cô, chỉ có mấy hàng chữ mà Thầy đã dạy chúng con học viết trong những năm tại trường Tấn Đức và lòng tôn trong với một người Thầy Giáo khả kính, hiền lành.
1. Nếu chịu khó đọc đủ nhiều và nghiên cứu sách tỉ mỉ, bạn sẽ không cần và không thích nghe bất cứ diễn giả nào chia sẻ. Nói cách khác, tất cả những gì một diễn giả, một nhà đào tạo nói với bạn đều có sẵn trong sách. 2. Diễn giả, nhà đào tạo ở ta là những kẻ nói lại sách của người khác để trục lợi. Có thể họ nói hùng hồn và dễ hiểu hơn nhưng phần lớn không sâu sắc và không đủ ý. Kiến thức mà thiếu ý là thứ kiến thức nguy hại. Giống như thầy lang đọc sách đau bụng uống nhân sâm. 3. Diễn giả đẳng cấp là kẻ phải ham đọc và ham viết. Họ thường là tác giả có tầm cỡ. Đương nhiên, diễn giả rởm cũng tỏ ra vẻ như mình đọc nhiều sách và khoe mình hay đọc sách. Chết là ở đó. Nhưng tinh ý, bạn sẽ biết họ đọc nhiều thật hay đang nói dối. Ngồi cạnh người đọc sách nhiều và đúng cách, bạn sẽ học được ít nhiều chỉ sau 5 phút. Kẻ đọc sách nhiều không đay nghiến và kì thị ai quá đáng. Họ ghét ai cũng là cái ghét từ bi. Yêu ai cũng không vồ vập.
Thật khó hình dung được thời gian qua nhanh, đã hơn mấy chục năm sống cuộc đời lưu vong tại Calgary, Alberta, miền Tây Canada. Dẫu muốn hay không cũng phải chấp nhận nơi đây là quê hương thứ hai, nơi đã mang và nuôi dưỡng chúng tôi hơn nửa đời người. Tạ ơn Chúa và Canada. Sự kiện đặc biệt đang xảy ra tại vùng này là trong suốt mấy chục năm qua chưa từng có một mùa Đông có nhiều ngày nắng và ấm như thế. Vào những ngày này của tháng giêng, mặt trời chiếu tỏa từ sáng tới chiều và nhiệt độ ấm lên từ 5c-6c vào khoảng một giờ chiều và đã kéo dài hơn hai tuần nay. Toàn tỉnh đang bị lockdown vì covid-19 mà có những ngày đẹp trời cũng tạo cho tâm lý bà con vui vẻ hơn; người người bước ra ngoài để hớp những không khí trong lành của thiên nhiên. Trẻ em thì háo hức chơi đủ trò trên tuyết – người lớn thì đi bộ dọc hai bên đường cùng với những chú chó bị nhốt lâu ngày trong nhà nay có dịp ra ngoài.
Tên nàng là Nhung Nữ. Dân làng đặt tên nàng là Nhung Nữ vì nàng có mái tóc dài, gợn sóng, nhung huyền, gần chấm đất những khi nàng cong tấm lưng thon, biểu diễn điệu múa quyến rũ, mỗi lần làng họp chợ. Nàng là một kỳ công tuyệt diệu của tạo hóa, với sóng mắt xếch như mang theo sự huyền bí của miền Đông Á. Da nàng là màu nắng mặt trời. Tóc nàng, nhung đen như đêm Ba Tư thần thoại, một suối nhung huyền trên tấm lưng thanh nhã, lượn sóng trên bờ eo nhỏ mỗi khi nàng dạo bước trên bãi biển. Môi nàng lúc nào cũng như tiềm ẩn một nụ cười, chờ đợi một chuỗi cười hồn nhiên, và viền môi cong như đón mời một nụ hôn nồng nàn làm tiêu tan nghị lực. Khuôn mặt nàng ẩn giấu nét rộn rã của đứa trẻ nhỏ, nhưng đồng thời chung quanh khóe mắt đẹp và hơi buồn đã thấp thoáng những nét nhăn như chứng tích của sự trưởng thành. Nàng là đàn bà trẻ thơ.
Sài Gòn vẫn rất dễ thương Cái tên dù lạ con đường vẫn quen Tôi hay “viện dẫn” hai câu thơ của mình mỗi khi phải hồi âm một cánh thư xa nào đó, thường là câu hỏi “Sài Gòn bây giờ ra sao?” Thật ra trong cảm nhận của tôi, Sài Gòn vẫn thế. Bởi dù trải qua nhiêu bao biến cố thăng trầm, thì Sài Gòn, Hòn Ngọc Viễn Đông, thủ đô trong những trái tim miền Nam ngày nào vẫn không bao giờ thay đổi. Sài Gòn của một thời tôi mới lớn, những “con đường tình ta đi” Duy Tân, Trần Quý Cáp, Tú Xương, Công Lý. Những chiều bát phố Lê Lợi, Tự Do. Những rạp cine. Món bánh tôm hẻm Casino (Sài Gòn). Những xe bò viên Nguyễn Thiện Thuật. Bánh mì thịt trước chợ Trương Minh Giảng, gỏi đu đủ – khô bò – nước mía Viễn Đông (góc Lê Lợi – Pasteur)…
...chỉ với Mùa Xuân chín, Hàn Mặc Tử đã luôn là một nỗi nhớ khôn nguôi của người yêu thơ, yêu cái đẹp khi xuân về. Trong làn nắng ửng: khói mơ tan, Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng. Sột soạt gió trêu tà áo biếc, Trên giàn thiên lý. Bóng xuân sang. Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời Bao cô thôn nữ hát trên đồi; Ngày mai trong đám xuân xanh ấy, Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi… Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi, Hổn hển như lời của nước mây, Thầm thì với ai ngồi dưới trúc, Nghe ra ý vị và thơ ngây… Khách xa gặp lúc mùa xuân chín, Lòng trí bâng khuâng sực nhớ làng: “Chị ấy, năm nay còn gánh thóc Dọc bờ sông trắng nắng chang chang?” Có một chàng thi sĩ tài hoa nhưng bạc mệnh sống vào khoảng nửa đầu thế kỷ 20 ở Nam Trung Bộ. 16 tuổi, chàng đã làm bài thơ đầu tiên. Chàng đã sống, đã đi, đã yêu tha thiết và đã đau đớn cùng cực.
Truyện Kiều là một tuyệt tác trong văn học sử Việt Nam, điều này ai cũng công nhận. Theo Phạm Quỳnh, “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; tiếng ta còn, nước ta còn”, nhưng ông và nhiều học giả khác không phân tích rõ Truyện Kiều hay như thế nào và tại sao tác phẩm này đặc biệt. Dù sao thì Truyện Kiều cũng có ảnh hưởng rất rộng với đại chúng, đa số người Việt biết thưởng thức thơ hay và ít quan tâm đến những phân tích phê bình của những nhà nghiên cứu. Lãng Nhân có nhận xét về một điểm vô lý trong Truyện Kiều: Khi mấy chị em đi chơi lễ Thanh Minh và thấy một nấm mồ hoang, em trai Thúy Kiều là Vương Quan chỉ là một cậu bé học trò 14-15 tuổi, vậy mà kể rành rẽ tiểu sử người kỹ nữ quá cố giống như một tay ăn chơi lão luyện: Vương Quan mới dẫn gần xa, Đạm Tiên nàng ấy xưa là ca nhi Nổi danh tài sắc một thì, Xôn xao ngoài cửa thiếu gì yến anh. Phận hồng nhan có mong manh, Nửa chừng xuân, thoắt gẫy cành thiên hương!
- Chúng ta đa số đều biết rằng các nhà văn trong Tự Lực Văn Đoàn từ 1934 - 1940 có gốc gác khởi xuất từ miền Bắc, viết văn, viết sách, thơ, truyện, thường họ chỉ dùng (GI) cho "giòng sông, giòng nước". Thí dụ như: a) Nhất Linh: "Giòng Sông Thanh Thủy". b) Tú Mỡ: "Giòng Nước Ngược". c) Thạch Lam: "Theo Giòng". - Còn các nhà văn, trí thức lớp sau, thường có xuất thân tại miền Nam, trước khi xảy ra biến cố 1975, họ hầu hết sử dụng (D) cho "dòng sông, dòng nước". Thí dụ như: a) Doãn Quốc Sỹ: "Dòng Sông Định Mệnh (1959). b) Nhật Tiến: "Tặng Phẩm Của Dòng Sông (1972). c) Đằng Phương Nguyễn Ngọc Huy: "Dòng Nước Sông Hồng" (viết 1945, in lại vào thi tập năm 1985). - Và sau hơn nữa đó là: a) Ngô Thế Vinh: "Mekong, Dòng Sông Nghẽn Mạch (2007).
Bảo Trợ