MÌNH THÁNH CHÚA VÀ NGƯỜI LÍNH TRẺ LIÊN-XÔ VÔ ĐẠO

12 Tháng Sáu 20122:00 CH(Xem: 6231)

Khí hậu âm u, bầu trời ảm đạm buồn tẻ. Sự vắng lặng của đêm Giáng Sinh, mà không có gì có thể so sánh được, đang từ từ phủ xuống trên miền đất hoang vu, không có lối cho xe chạy qua được. Những đống tuyết đã tan chảy trong mấy ngày qua làm cho con đường mòn trở nên sũng ướt lầy lội. Khu rừng rậm rạp, đen tối đang đứng chắn trước mặt, che khuất cả tầm mắt chúng tôi như một đống mây đang ùn ùn kéo nhanh tới ập lên chúng tôi tựa một bức tường đang chực sập đổ xuống. Chúng tôi vội vàng đếm bước giữa mưa phùn, làm thấm ướt lạnh tới xương tuỷ.

blank

Cha An-xen-mô (Anselm) kéo chiếc mũ áo choàng ngắn cũ kỹ của ngài thật sát vào đầu. Ngài bước đi với đôi mắt lim dim và không hé môi nói lấy một lời. Sự suy niệm thầm lặng của cha làm tôi đâm ra bực bội. Bây giờ khu rừng đầy đe dọa đang gần kề. Cái lều thợ săn chỉ còn cách xa vài ba ki-lô-mét nữa thôi. Tất cả các con đường mòn cũng như những lối đi vòng quanh ở vùng này tôi đều quen thuộc... Khó mà lạc đường được! Tôi cảm thấy rùng mình lo sợ: Liệu chúng tôi có đến kịp giờ không?

Khu rừng rậm rạp đã bao trùm lấy chúng tôi và đồng thời như bảo vệ lấy chúng tôi. Vẻ dễ chịu của các chồi cây bao bọc lấy chúng tôi như mùi hương thơm. Ở chỗ quặt cuối cùng, cha An-xen-mô đã đứng im lặng và nhìn quan sát trong đêm đang từ từ trở nên tối dần.
“Còn xa nữa không?”
“Còn độ mười lăm phút nữa”, tôi trả lời, “nhưng mỗi phút là rất quan trọng! Cha cứ tưởng tượng: tối đa, anh ta chỉ còn 24 giờ để sống thôi! Không có bác sĩ, lại bị các viên đạn bắn vào người... Con đã tự hỏi là làm sao anh ta có thể sống được như thế. May là bà vợ ông kiểm lâm hiểu được tiếng Nga. Một may mắn là cậu Hannes của bà ta đã tìm gặp được cha vào đêm vọng Lễ Giáng Sinh! “

“Điều may mắn đó chính là sự quan phòng của Chúa! Chị hãy xem, chúng ta chỉ cần tin tưởng phó thác nơi Chúa việc làm và ngày giờ của mình, và rồi các phép lạ sẽ tươi nở trên mọi nẻo đường chúng ta đi. Nếu như tôi đã không cột kỹ dây đôi giày gỗ của tôi, nếu như Hannes đã không đến được... liệu chúng ta đã có thể đến kịp thời được không? “

Một ánh sáng yếu ớt nhấp nháy ở phía trái giữa bụi cây. Chỉ còn vài ba bước nữa! Và chúng tôi đã gõ vào cánh cửa được gài lại bằng một then gỗ to, được bào qua loa. Hình như bà vợ ông kiểm lâm đang chờ đợi chúng tôi sẵn, nên đã ra mở cửa lập tức.
“Lạy cha, thật cám ơn Chúa! Anh ta vẫn còn sống... ! “
Chúng tôi bước vào nhà và đồng thời là căn phòng duy nhất, được trưng bày những cái gạc nai và những súng săn. Phía trái, ở cuối phòng, một người đàn ông đầu bó băng đang nằm trên chiếc giường xếp. Nét da căng và râu còn lún phún sơ sài, cho thấy đó là một chàng thanh niên đang tuổi sung sức. Anh ta mở mắt khi nghe cánh cửa cọt kẹt mở và mỉm cười. Những vết máu to, đã khô đọng trên vành môi anh ta.

“Lạy Đức Mẹ, Mẹ đã không dối con”, anh ta nói bằng tiếng Nga: “Vị Linh mục đã đến! Mẹ thật nhân hậu!”
Cha An-xen-mô cởi chiếc áo choàng ướt đẵm nước mưa, để xuống đất và đi lại phía người hấp hối:
“Hỡi con, Đức Mẹ luôn luôn trung tín. Bây giờ cha đến để giúp con. Vậy, cha có thể làm gì được cho con? “
Anh ta nói tiếng Nga rất đúng giọng :
“Thưa cha, con tên là Andruscha. Con không muốn chết như một con chó!”
“Không ai chết như một con chó cả. Linh hồn của con thì bất tử; Chúa Cứu Thế đã trả cho nó bằng một giá rất đắt!”
“Vâng, thưa cha, con muốn được như những người có đức tin, như một Kitô hữu thực sự.”
“Con đã chịu phép rửa tội chưa? “
“Thưa, không ạ!”
“Con có biết đức tin là gì không?”
“Thưa, không ạ!”
“Con có biết cầu nguyện không?”

Người thanh niên bổng mĩm cười và khuôn mặt anh ta rực sáng lên :
“Dạ, có ạ! Con cầu nguyện luôn luôn! “
Bà vợ người kiểm lâm cầm tay tôi và kéo ngồi gần bên bà trên một cái bao tải to đựng lộn xộn đầy khoai tây. Tôi đâm tò mò và hỏi bà: “Bà đã gặp được người thanh niên này ở đâu vậy? “Quân đội Liên Sô tiếp tục các cuộc chiến đấu; các trận đánh vừa rồi xảy ra trong vùng này. Bà ta đặt ngón tay lên môi và nói nhỏ: “ Chờ chút nữa lại nói! “Tôi liếc mắt quan sát bà ta, kiểu nói trang trọng đặc biệt của bà ta làm tôi không khỏi ngạc nhiên. Đó không phải là một người đàn bà nhanh nhẹn và nói nhiều, mà tôi quen được từ bé tới giờ. Tự nhiên tôi có cảm giác là cái lều này tựa như một ngôi nhà thờ vậy, đầy những Đấng vô hình. Cái cảm giác đó thật rõ ràng và sống động! Trong khi đó cuộc trao đổi giữa cha An-xen-mô và người thanh niên đang hấp hối vẫn tiếp tục. Nhưng sự thể có thực sự nguy hiểm cho anh ta không? Giọng anh ta từng yếu ớt và không nói ra lời, đã trở nên mạnh mẽ, làm vang cả căn phòng rất rõ ràng. Tất cả mọi chuyện quanh tôi như hoàn toàn biến đổi hết. Tôi đã thoát ra khỏi thời gian, hoàn toàn đang cận kề một bờ bến khác, mà tất cả chúng ta đều phải vươn tới.

“Andruscha, nếu con biết cầu nguyện, con đã có đức tin rồi đó. Con biết gì về Thiên Chúa?”
“Con chỉ biết Ngài ở trong con. Con cảm nhận được Ngài. Vì thế con đã trả lời Ngài!”
Phải chăng đây là ảo giác của một kẻ sắp chết? Người thanh niên mở rộng mắt và nhìn vị Linh mục với tất cả sự cảm động. Anh ta xem có vẻ đắn đo từng tiếng và chấm dứt sự im lặng trước một hố sâu bất khả vượt qua; theo cách anh ta diễn tả thì đó là một điều không mấy tốt đẹp. Anh ta tỏ ra không quen với cách nói các chuyện đạo đức.

Cha An-xen-mô trừng mắt dò xét anh ta. Bỗng chốc ngài quì xuống bên cạnh người hấp hối.
“Con đừng quá lo lắng. Cha rất hiểu con!”

Đó không phải là xưng tội, nên tôi cảm thấy không cần phải bịt tai như trước kia với các người hấp hối khác. Tôi có bổn phận phải đi với cha An-xen-mô. Ngài không sinh ra ở miền này, còn tôi với tư cách là một nữ cựu hướng đạo sinh, tôi quen thuộc các lối đi, các ngõ đi tắt và các lối rẽ giữa khu rừng rộng mênh mông.

Andruscha nằm nhắm mắt, không động đậy. Nếu anh ta không thở ra mỗi lần mỗi mạnh thêm, thì tôi cho là anh ta đã chết. Người vợ viên kiểm lâm quì xuống và tôi cũng quì theo bà.

Bấy giờ, Andruscha liền mở to đôi mắt sáng quắc. Hầu như trọn linh hồn anh ta được biểu lộ qua ánh nhìn của anh ta vào cha An-xen-mô với một lời thỉnh cầu âm thầm nào đó. Anh ta bắt đầu đem hết chút sức lực còn lại, cố gắng nói với từng tiếng đứt quãng:
“Con có một điều đang mang trên ngực đây. Con đã từng mang nó theo như một kho báu. Con đã không ngừng cầu xin Đức Mẹ cho con có dịp để trao nó lại cho một vị Linh mục. Và Đức mẹ đã nhậm lời con!”
Tôi nghĩ rằng anh ta đã đãng trí, nhưng cha An-xen-mô lại không nghĩ thế. Đang khi đang nói những lời đó, Andruscha trở mình và nhẹ nhàng lật chiếc chăn đang đắp trên mình anh ta, mở chiếc sơ mi dính đầy máu của anh ta và lấy tay tháo ra khỏi cổ sợi dây có buộc một chiếc túi nhỏ mà anh từng mang theo trên mình.

“Đó là cái gì vậy?”, anh ta hỏi nhỏ, “Vâng, đó điều con muốn trao lại cho cha! Lạy Đức Mẹ, con tạ ơn Mẹ.”
Với cái dao xếp bỏ túi, cha An-xen-mô đã cắt sợi dây, cầm lấy cái túi nhỏ, đi lại phía chiếc bàn, mở mấy chiếc kim găm gài bốn mặt chiếc túi nhỏ lại và tự nhiên quì sụp xuống. Và tôi cũng lập tức quì gối xuống. Kìa, trong chiếc túi nhỏ đựng toàn Mình Thánh Chúa dính đầy máu.
Andruscha đưa mắt chăm chú quan sát chúng tôi. Chúng tôi hết sức ngạc nhiên khi nghe anh ta hỏi:
“Đó là cái gì vậy?”
“Các bà hãy ở lại đây và cầu nguyện!” Cha An-xen-mô nói như ra lệnh. Bà vợ viên kiểm lâm hơi lùi lại một chút và quì gối xuống, hai tay chấp lại và nước mắt chảy dài trên má. Còn tôi không thể rời mắt khỏi tấm khăn nhỏ đầy máu, một chiếc khăn bất xứng đã thay thế cho chiếc khăn thánh Corporale.
“Đó là cái gì vậy?”, người thanh niên đang hấp hối lại hỏi tiếp.

Cha An-xen-mô không trả lời anh ta. Sự im lặng của ngài làmn tôi hơi bực mình. Ngài vẫn quì gối thờ lạy Mình Thánh Chúa bị đẫm máu.
Bổng chốc tôi hoài nghi tự hỏi: Số Mình Thánh này từ đâu tới? Có thực sự là Mình Thánh đã được truyền phép rồi hay chưa? Còn Andruscha không hề biết điều gì anh đã từng mang theo trên mình bấy lâu nay.
“Hỡi con, con hãy nói cho cha biết, ai đã trao cho con thứ này?”
“Một Linh mục, ngài trao cho con để con trao lại cho một Linh mục khác. Con hằng lo sợ là sẽ không thực hiện được điều đó!”
Anh ta thở ra dồn dập và từng hạt mồ hội to chảy dài trên trán, tiếp tục nói sau nhiều lần cắt quãng:
“Đó chính là ở Lviv, chúng con đóng quân ở Lviv. Một buổi sáng nọ, con thả bộ đi dạo loanh quanh trong vùng. Chúng con không được phép đi xa khỏi trại đóng quân, nhưng ở gần đó có những cây cối và những khu rừng thưa thớt. Trên một con đường dẫn lên một triền dốc có một ngôi nhà thờ. Vì do những bóng cây chung quanh che phủ, nên ngôi nhà thờ hơi tối. Đứng trước bàn thờ là một vị Linh mục mặc áo trắng. Ngài làm các cử chỉ và đọc lầm rầm gì đó; con chẳng hiểu gì cả. Nhưng điều đó làm con rất thích, lòng con cảm thấy đầy vui mừng. Con quì gối xuống trong một góc và lặp đi lặp lại kinh của Chúa Giêsu: “Gaspadi pomyluy: Lạy Chúa Giêsu, xin thương xót con!” Bà nội con đã dạy cho con kinh đó. Đó là tất cả con biết được, bởi vì bà con chết lúc con còn bé xíu.
Trong nhà thờ không có ai khác ngoài con và vị Linh mục ra. Sau lễ phụng vụ, vị Linh mục đến chỗ con và hỏi con làm gì ở đây. Con trả lời là con đọc kinh của Chúa Giêsu và con cảm thấy sung sướng khi cầu nguyện như thế. Ngài cũng hỏi con là con có phải là một Kitô hữu không, và con trả lời là không, con không được chịu phép rửa tội, bởi vì cha mẹ con thuộc Komsomol và những người bezbojniki, những người vô đạo. Bấy giờ vị Linh mục nói với con: “Nếu con muốn, cha sẽ rửa tội cho con! Nhưng trước hết con phải học biết Chúa Giêsu, Đấng đã cứu rỗi tất cả mọi người nhờ cái chết của Ngài trên thập giá và nhờ sự sống lại của Ngài từ cõi chết!”
Từ đó, mỗi ngày con đi đến ngôi nhà thờ để gặp Linh mục, trước hết tại bàn thờ và tiếp đến là sau ngôi nhà thờ, nơi con hằng quì gối. Linh mục nói với con, ngôi nhà thờ này có tên là “heilige Sophia”, sự khôn ngoan thánh thiện.
Con không hiểu được rõ lắm, bởi vì ngài nói tiếng Nga không được thạo lắm, nhưng điều chính yếu mà Linh mục nói thì con hiểu. Và lòng con cháy lên vì yêu mến Chúa Giêsu đã yêu con trước.

Trong trại lính ai cũng cười ầm lên khi nghe con kể cho các bạn con nghe điều con đã cảm nhận được. Lúc bấy giờ thường có bom dội luôn; nhưng chúng con ẩn khuất dưới các lùm cây.
Một buổi sáng, Linh mục không còn mặc áo lễ và không đi lên bàn thờ nữa; ngài đi thẳng đến chỗ con và nói. “Andruscha, người ta đã phản bội cha, cha sẽ bị bắt. Vì thế, cha xin con một điều, con hãy đưa tin cho các Sơ ở công trường Thánh Yura biết. Cha sẽ giao cho con một kho tàng quý báu để đưa lại cho các Sơ, bởi vì các Sơ không còn Linh mục nữa. Con phải cắt nghĩa cho các Sơ là con đến từ thánh địa Sophia và cha Stanislas đã sai con đi với sứ vụ đó. Trường hợp con không thể đến được nơi các Sơ ở, con hãy trao lại kho tàng này cho một vị Linh mục. Con có hiểu không? Không trao cho ai khác ngoài một vị Linh mục. Với kho báu này, con mang Chúa Giêsu trên mình.”

Con hỏi ngài điều đó có nghĩa gì, nhưng ngài không còn thời giờ nữa để cắt nghĩa cho con, ngài chỉ đủ thời giờ để mở cái hộp trên bàn thờ và lấy trong đó ra cái túi nhỏ được đan bằng chỉ. Ngài đưa cho con và bảo: “Con hãy chạy đi, thật nhanh!” Người ta nghe nhiều bước chân đi. Con chạy nấp vào một cái bụi cây và nhìn thấy: Linh mục ra khỏi nhà thờ, một đám người đàn ông mặc thường phục bao vây lấy cha. Từ ngày đó, con không bao giờ nhìn thấy cha nữa. Vào buổi chiều, con đi vào trong phòng vệ sinh, một nơi không còn ai nhìn thấy con được nữa, con mở cái túi Linh mục trao cho để xem và con chỉ thấy những chiếc bánh nhỏ cắt trỏn được đựng đầy trong đó. Con đã muốn tìm các Sơ để trao lại như ngài đã dặn, nhưng chúng con không được phép rời trại lính và những ngày sau đó chúng con phải chuyển quân đi nơi khác. Con nhớ là Linh mục đã dặn. “Nếu con không thể trao lại cho các Sơ, thì con phải trao lại cho một vị Linh mục”. Nhưng con không gặp được Linh mục nào cả, và vì thế con đã xin với Đức Mẹ cho con gặp được một Linh mục… Cha xem, Đức Mẹ đã nhậm lời con, bởi vì cha là Linh mục!”

“Andruscha, con đã làm gì với cái túi đựng đầy Minh Thánh, mà con vừa trao lại cho cha?”
“Con đã từng quẳng nó đi, vì khi đi tắm, mấy thằng bạn con hay tò mò muốn biết đó là cái gì, vì con thường mang nó trên ngực. Bấy giờ con đã lấy chiếc khăn mùi-soa của con và đặt những chiếc bánh nhỏ đó vào đó, dùng mấy chiếc kim găm gài chặt lại tứ phía, để không một chiếc bánh nào bị mất. Tại mỗi lần dừng chân con luôn đi tìm một Linh mục, nhưng con chẳng tìm gặp được vị nào cả, và con cũng không được phép rời toán quân của con. Bấy giờ con đã cầu nguyện cùng Đức Mẹ, đừng để con chết trước khi làm tròn được sứ mệnh mà cha Stanislas ủy thác cho con.
Giọng của Andruscha từ từ lạc đi và rất khó lòng có thể hiểu được nữa. Tôi nghĩ rằng là một trách nhiệm lương tâm đòi hỏi khi tôi khẳng định là tôi phải ghi lại từng lời, điều anh ta đã kể lại. Bây giờ anh im lặng, nhắm mắt lại, rồi lại mở mắt to ra và hỏi lần thứ ba:
“Đó là cái gì vậy?”
Cha An-xen-mô tóm tắt lại như thể ngài vừa tỉnh lại từ một giấc ngủ say. Thay vì trả lời câu hỏi của Andruscha, ngài lại nêu lên một câu hỏi khác. Tôi cảm thấy hầu như tức giận ngài luôn.
“Andruscha, tại sao người ta không đưa con vào bệnh viện sau khi bị thương như thế?”
“Bởi vì con không muốn. Bởi vì con sợ người ta sẽ lấy mất cái túi nhỏ và con sẽ không bao giờ gặp được vị Linh mục nào nữa. Máy bay đã bay rất thấp để tấn công chúng con dữ dội; quả thật người ta phải vất vả vì đủ thứ việc phải làm, như khiêng các người bị thương lại một chỗ.”
“Và đã xảy ra cho con ra sao?”
“Con không cử động được nữa. Ai cũng tưởng con đã chết!”
“Và sau đó?”
“Sau đó, họ kéo đi hết, và con lòng đầy vui mừng được bỏ lại một mình, ôi thật vui mừng! Vì điều đó muốn nói rằng thế là con sẽ có dịp gặp được một Linh mục. Con rất đau đớn, nhưng lòng con tràn đầy vui mừng… Cha xem, thân xác con thuộc về tổ quốc, còn linh hồn con lại thuộc về Thiên Chúa! Vào buổi chiều người ta đã nhặt con và khiêng vào túp lều này!”
Giọng cương quyết, cha An-xen-mô nói: “Andruscha, con hãy nghe đây, suốt thời gian qua con đã mang Chúa Giêsu trên người con. Ngài đã thương con, đến nỗi Ngài đã trở nên bánh để làm của nuôi chúng ta. Ngài ẩn mình dưới những tấm bánh này. Con có tin vậy không?”
Một cái mỉm cười lạ lùng làm rạng rỡ của khuôn mặt người lính trẻ.
“Vâng, con tin điều đó! Con đã cảm thấy con mang trên mình một kho báu. Ngày đêm rồi lại ngày đêm, con đã cảm thấy phải lặp đi lặp lại lời kinh của Chúa Giêsu. Và lời kinh đã làm cho lòng con ấm áp vô cùng. Con chắc chắn rằng Đức Mẹ đã thương nhậm lời con xin!”

“Andruscha, con có muốn được rửa tội không?”
“Dạ, dạ, con muốn lắm!…”
Không được phép để một phút nào qua đi vô ích! Mũi anh ta đã thu nhỏ lại, nét mặt đã tái nhợt, hơi thở hổn hến như muốn xé lồng ngực anh ra, tất cả đều báo trước cái chết đang tới, chỉ còn đôi mắt sáng rực lạ lùng của anh ta là dấu chỉ của sự sống đang thu về trong thẳm sâu của linh hồn anh.
“Vâng, con muốn lắm!” anh ta nhắc lại cách thành khẩn.
Cha An-xen-mô quay lại phía người vợ viên kiểm lâm đang đưa cho ngài bát nước.
“Andreas, cha rửa con nhân danh Cha và Con và Thánh Thần!”
Tiếp đến, ngài nhấn mạnh từng lời:
“Con yêu quý, giờ đây cha trao cho con Đấng con đã mang trên mình bao ngày tháng qua, Bánh Hằng Sống. Đây là Đấng mà chẳng bao lâu nữa sẽ đón nhận con. Con có tin rằng Ngài hiện diện trong những tấm Bánh này không?”

Bấy giờ đã xảy một điều hoàn toàn không ai ngờ trước được. Andruscha ngồi dậy, chấp hai tay và kêu:
“Vâng, con xin tin, con rất tin điều ấy! Xin cha hãy mau ban cho con Bánh Hằng Sống!”
Cha An-xen-mô cầm Mình Thánh. Từ chỗ tôi đang quì, tôi nhìn thấy rõ đó là Mình Thánh Chúa có một vết đỏ! Cha An-xen-mô tiến lại gần người hấp hối, hai mắt anh ta rực sáng lên như hai ngôi sao, và ngài đã cho anh ta rước lễ…
Andruscha nằm ngã xuống nặng nề trên chiếc giường xếp của anh ta và khép nghiền hai mắt lại. Anh ta không còn mở nó ra bao giờ nữa. Chúng tôi đều quì xuống trên nền nhà và không còn dám thở nữa. Cái cảm tưởng mà tôi có được khi mới bước chân vào cái lều này, đã trở nên mạnh mẽ trong tôi. Thế giới vô hình bao trùm lấy chúng tôi với sự hiện diện thực sự của nó, một sự hiện diện tác động một cách toàn diện hơn cả những chiều kích cụ thể của chúng ta.
Sau một vài giây lát, cha An-xen-mô bắt vào mạch của Andruscha. Ngài yên lặng đứng dậy và làm dấu Thánh Giá.
“Chúng ta hãy cầu nguyện! Anh ta sẽ phù hộ cho chúng ta.”
Quỳ gối và hết sức cẩn thận, cha đã đặt lại Mình Thánh vào chiếc khăn mùi-soa, xếp lại và để vào túi áo khoác của ngài.
“Tôi không được phép ở lại đây lâu hơn nữa”, cha An-xen-mô nói thế và quay lại phía bà vợ người kiểm lâm: “Xin bà lo cho anh ta một lễ nghi an táng theo đúng phép đạo!”
Người đàn bà ngước mặt giàn giụa nước mắt về phía chúng tôi, bà lẩm bẩm: “Thật phúc đức biết mấy cho ngôi nhà này!”
Chúng tôi bắt buộc phải có mặt ở nhà trước khi luật giới nghiêm bắt đầu; chúng tôi không được phép làm mất thời giờ. Cha An-xen-mô kéo cái mũ trùm đầu sát vào đầu, bởi vì trời đang mưa phùn.

Trong khi sắp tới nhà, ngài đã quay về phía tôi và nghiêm giọng nói:
“Thế mà vẫn có những kẻ điên khùng còn hồ nghi điều này: Tự bản chất, linh hồn con người thuộc về Chúa Kitô, và trong chúng ta được đóng ấn một hình ảnh không thể phá bỏ được, hình ảnh của Chúa Giêsu, “hình ảnh thật sự của Thiên Chúa vô hình” (Cl 1,15).
“Vâng, thưa cha!”
Tôi không còn nói được nữa, vì cổ tôi nghẹn lại rồi.

(Trích trong: Maria Winowska, “Blut an den Händen” (Máu nơi tay)

Paulusverlag Freiburg Schweiz, 1975, trang 75-85)

LM. Nguyễn Hữu Thy

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Khi nhận lệnh động viên, tôi về thăm gia đình trước khi lên đường nhập ngũ. Ngày tôi ra đi, mẹ tôi cho tôi một chuỗi Mân Côi, nói: “Biết con không tin gì ở những lời cầu nguyện với chuỗi Mân Côi, nhưng mẹ cho con chuỗi này và xin con một điều là luôn để chuỗi trong túi áo. Biết có chuỗi này trong túi áo con thì mẹ được an tâm.” Đó là loại chuỗi rất đẹp, dây bằng kim loại óng ánh, hạt bằng ngà trắng trong. Nghe lời mẹ, tôi để chuỗi vào túi áo và xem đó như một món trang sức kín đáo luôn mang theo người. Khi vào lính thì cuộc sống thành khác xưa. Áp lực cộng việc, những chuyến đi xa, những hiểm nguy về thời tiết, về đối phương lúc nào cũng rình rập quanh mình khiến lòng trí tôi luôn bị chi phối và dính chặt vào thực tế hàng ngày. Xâu chuỗi lúc nào cũng nằm trong túi áo.
Edward J. Barr là Giáo sư Đại Học, có bằng Cao học Thần học tại Học viện Thánh Augustinô. Ông cũng là một nhà văn Công Giáo. Văn của ông chuyên về thể loại văn chương châm biếm, chua chát. Ông cho rằng đó có thể là kết quả của những tháng ngày cận kề cái chết khi còn là một Thủy Quân Lục Chiến, và sau đó là một sĩ quan tình báo. Xin giới thiệu với quý vị và anh chị em một bài văn trào phúng mới nhất của ông. Nguyên bản tiếng Anh có thể xem tại đây. Dưới đây là bản dịch toàn văn sang Việt Ngữ. The Devil Came to Mass this weekend
🌹 Quà sinh nhật Trong năm đứa con của má, chị nghèo nhất. Chồng mất sớm, con đang tuổi ăn học. Gần tới lễ mừng thọ 70 tuổi của má, cả nhà họp bàn xem nên chọn nhà hàng nào, bao nhiêu bàn, mời bao nhiêu người. Chị lặng lẽ đến bên má : "Má ơi, má thèm gì, để con nấu má ăn?" Chưa tan tiệc, Má về sớm, nói vì mệt. Ai cũng chặc lưỡi : "Sao má chẳng ăn gì?" Về nhà, mọi người tìm má. Dưới bếp, má đang ăn cơm với tô canh chua lá me và đĩa cá bống kho tiêu chị mang đến... 🌹 Con Nuôi Thầy giáo lớp 1 thảo luận với lớp về một bức hình chụp, có một cậu bé màu tóc khác mọi người trong gia đình. Một học sinh cho rằng cậu bé trong hình chính là con nuôi. Một cô bé nói : - Mình biết tất cả về con nuôi đấy. Một học sinh khác hỏi : - Thế con nuôi là gì ? Cô bé trả lời: - Con nuôi nghĩa là mình lớn lên từ trong tim mẹ mình chứ không phải từ trong bụng. 🌹
Đám cưới dài dằng dặc trên con đường thấp lè tè phủ bóng mát từ những hàng cây cao ở bờ dốc các trang trại. Đôi tân hôn đi đầu rồi đến cha mẹ, khách mời và người nghèo trong vùng, cuối cùng là bọn trẻ con. Chúng lượn quanh đám rước như những con ruồi, hoặc chen vào giữa hàng hay leo lên cành cây để nhìn cho rõ. Chú rể là một anh chàng bảnh trai tên là Jean Patu, chủ trại giàu nhất vùng. Nhưng trước hết đó là một anh thợ săn cuồng nhiệt, say mê săn bắn đến độ sẵn sàng tiêu những khoản tiền lớn cho chó săn, toán gác, cho chồn sương và súng ống mà không cần tính toán. Cô dâu, Rosalie Roussel, đã được khá nhiều đám ở các vùng lân cận ngấp nghé dạm hỏi vì họ thấy cô xinh đẹp, và họ biết cô có của hồi môn đáng kể, nhưng cô chỉ chọn Patu, có lẽ vì anh nầy được lòng cô hơn, hay đúng hơn, theo thói suy tính hơn thiệt của người Normandie, là vì anh có nhiều tiền.
Mùa Giáng Sinh về, có lẽ tâm hồn ai cũng rộn lên một niêm vui nào đó trong bầu khí cuối năm, khi tiết trời thay đổi… Xin góp một vài câu chuyện sưu tầm về mùa Giáng Sinh làm món quà nhỏ cho quý bạn đọc… Chúc các bạn tìm được niềm vui Giáng Sinh thật sự trong tâm hồn mình…. Có một cô bé mồ côi cha sống với mẹ tại một vùng quê hẻo lánh. /post 22 Tháng Mười Hai 2017(Xem: 964)/
Bình sinh, cho đến bây giờ đã sang bên kia dốc cuộc đời, tôi vẫn thường tự cho mình là kẻ không đến nỗi phải xấu hổ với danh phận của một thằng đàn ông , một thương gia . Ấy vậy mà cuộc đời phiêu bạt để bỗng có một ngày đẹp trời, trên một phiên chợ vùng cao, tôi bị choáng váng vì tự thấy xấu hổ với mình khi ngồi nghe trộm câu chuyện của hai người đàn ông xa lạ. Bên một chiếc bàn gỗ mốc thếch, tôi ngồi uống rượu với một người bạn. Anh này thạo nhiều thứ tiếng dân tộc vì đã một thời chuyên đi thu mua nấm rừng, thảo quả trong các bản làng xuất sang Trung Quốc. Bàn bên cạnh có hai người đàn ông mặc quần áo chàm vừa nốc từng bát rượu đầy vừa chằm chằm nhìn vào mặt nhau. Ngồi né ra xa một chút là một người phụ nữ váy áo thêu xanh đỏ, khắp người đeo không biết bao nhiêu vòng bạc lủng lẳng.
Hoa Dã quỳ gắn với một câu chuyện truyền thuyết cảm động về tình yêu đôi lứa. Chuyện kể rằng từ xa xưa có một bộ tộc Lasiêng sinh sống ở vùng Tây nguyên xa xôi. Trong bộ tộc có nàng H’Linh xinh đẹp yêu tha thiết chàng K’Lang, ngày ngày K’Lang vào rừng săn bắn, hái lượm, còn H’Linh ở nhà se sợi dệt tấm chăn kiệu chồng (theo tục lệ của bộ tộc thì con gái trước khi lấy chồng phải dệt một tấm chăn thật đẹp để mang về nhà chồng), tối về họ lại quây quần đốt lửa và múa hát cùng dân làng. Cuộc sống vui vẻ, hạnh phúc của họ cứ thế trôi qua và chờ đến ngày trở thành chồng vợ. Nhưng tình yêu giữa hai người lại không được suôn sẻ như mong đợi, bởi trong bộ tộc có chàng LaRihn là con trai của người tộc trưởng cũng ngày đêm thương trộm, nhớ thầm H’Linh, nhưng không được nàng đáp lại. LaRihn rất hờn ghen.
Mụ Chét tất tả đi về phía Ủy Ban Xã. Hôm nay là ngày mụ được vinh dự mời lên để nhận quà. Món quà mà chỉ có gia đình liệt sĩ mới nhận được. Mấy tháng trước làng bị lụt nặng. Những cơn mưa dầm liên tiếp cả tuần, gió rít từng cơn khiến trời lạnh cóng hơn nhiều hơn năm trước. Nước từ con sông dâng lên mỗi lúc một cao. Nhà mụ chồng ghế, chồng bàn lên giường để tránh lụt. Cuối cùng mụ được đưa lên ngồi lên khu đĩ nhà, lụt mới từ từ rút lui. Nước rút, căn nhà như ruộng mới bừa xong, dơ nhớp không chịu được. Mọi thứ đều hư hại. Lúa không có bao nhiêu lại bị ngâm nước lên mộng hết phân nửa. Sắn trong nương bới không kịp cũng bị hư hết một mớ. Nhà đã nghèo lại bị tai trời, rau ngoài vườn thúi cả, gạo ẩm độn với sắn đã chạy chỉ vàng khè, cơm ăn vào nó cứ say say thế nào.
Năm 2016, tôi đến Huế. Đấy là lần đầu tiên tôi đến thăm lăng Gia Long. Tôi đã đi Huế rất nhiều, đã đi lăng Tự Đức, Khải Định vài lần. Nhưng lăng Gia Long hầu như tôi không hề đặt chân đến, chỉ vì … tôi không biết. Ngài được mặc định là nhân vật phản diện trong sách giáo khoa, trong những tài liệu chính thống, và vì thế, lăng của ngài cũng bị đưa vào quên lãng. Dịp đó là lần đầu tiên tôi đưa bạn gái ra Huế chơi. Trong vé tham quan các điểm di tích lăng tẩm, thì chỉ có lăng Minh Mạng, Tự Đức, Khải Định và thăm Đại Nội, không có lăng Gia Long. Chiều đó, tôi chở bạn gái đi thăm lăng Minh Mạng. Nhưng không hiểu sao tôi chạy lố đến một cây cầu mới xây và có biển hiệu chỉ dẫn "Lăng Gia Long". Vừa lạc, vừa tìm mãi chưa ra lăng Minh Mạng mà thấy biển chỉ lăng Gia Long.
1. Lương tâm . Con ốm, nhập viện. Làm thủ tục, bác sĩ mặt lạnh tanh. Biết ý, tay mẹ run run dúi trăm nghìn vào túi “lương y”… Bác sĩ thân mật: “Nằm giường này cháu, đừng lo có bác!”. Biết đâu mẹ đang xỉu dần vì bán máu cho con. Lương tâm? 2. Xứ lạ quê người . Qua xứ người được vài năm thì ông anh họ của tôi bắt đầu gởi tiền về, giục các con lo học tiếng Anh và vi tính đẻ mai mốt qua đó có thể dễ dàng kiếm việc làm. Hôm vừa rồi, anh gọi điện về thăm gia đình chúng tôi, tôi hỏi anh có địa chỉ eMail chưa để tiện liên lạc, giọng anh chùng hẳn xuống: ”Suốt ngày tích- cực lao-ôộng, làm thêm "over time", đâu rảnh để chơi internet!" 3. Chung Riêng. Chung một con ngõ hẹp, hai nhà chung một vách ngăn. Hai đứa chơi thân từ nhỏ, chung trường chung lớp, ngồi chung bàn, đi về chung lối. Chơi chung trò chơi trẻ nhỏ, cùng khóc cùng cười, chung cả số lần bị đánh đòn do hai đứa mãi chơi. Đi qua tuổi thơ với chung những kỷ niệm rồi cùng lớn lên… Uống chung một ly rượi mừng, chụp chung t
Bảo Trợ