Tháng Hoa Và Mẹ Tôi

11 Tháng Năm 20193:30 CH(Xem: 5065)

Tháng Năm, tháng Hoa dâng kính Đức Mẹ lại về, làm tôi nhớ đến Mẹ tôi và liên tưởng đến một kỷ niệm đẹp thời niên thiếu.maria_11-thumbnail

Hồi đó, mỗi năm đến tháng Hoa, đối với tôi là cả một tháng tìm tòi sáng kiến để trang trí bàn thờ Đức Mẹ. Mẹ tôi giao “công tác” trong tháng Năm cho tôi là trang trí bàn thờ, chưng hoa đèn nến cho bốn lần đọc kinh dâng kính Đức Mẹ tại nhà tôi.

Công việc không có gì là to lớn cho lắm, nhưng tôi cũng muốn chứng tỏ cho gia đình, nhất là Mẹ và bà con trong xóm biết đến khả năng “có hoa tay” của tôi. Tôi dặn Mẹ mua đủ thứ giấy màu, đèn, nến…để tuỳ nghi xử dụng.

Tôi cắt giấy bìa cứng làm sườn rồi dán giấy màu lên. Lúc thì làm theo kiểu nhà thờ có mái vòm, lúc kiểu khác như cửa tam quan, hay có lúc như dáng một chiếc thuyền. Thực ra cũng không phải là sáng kiến của tôi, mà là “copy” lại những kiểu mẫu trang trí bàn thờ Đức Mẹ trong nhà thờ, hay dựa theo những bức ảnh trong báo rồi sửa đổi đôi chút cho dễ làm. Buổi chiều tối hôm đọc kinh, tôi đã chuẩn bị xong bàn thờ, chỉ còn kiếm ít hoa chưng lên nữa là xong. Tôi lấy chiếc xe đạp cũ kỹ chạy một vòng đến nhà mấy anh em bà con hàng xóm, xin mỗi thứ một ít rồi đem về chưng lên bàn thờ.

Nhìn tôi loay hoay xếp dọn, Mẹ chỉ mỉm cưòi không nói gì cả, tôi hiểu là Mẹ rất bằng lòng. Sau giờ đọc kinh, bà con còn ngồi lại chuyện trò giải trí, uống bát nước trà, ăn miếng kẹo lạc…Lần nào tôi cũng được bà con khen lấy khen để về cái bàn thờ Đức Mẹ. Tôi biết là họ khen thực chứ không phải là nịnh mà thôi, vì tối nào trong Tháng Năm, tôi và em gái cũng theo Mẹ đi đến từng nhà để tham dự giờ đọc kinh, hầu hết nhà nào cũng chỉ trang trí hoa đèn nến mà thôi, chứ không trang trí bàn thờ một cách đặc biệt đầy “màu sắc, kiểu cách” như nhà tôi cả.

Tôi không biết chắc là Mẹ có chủ tâm gì không, nhưng quả tình sau mấy năm tích cực trong công tác đó, thì lòng sùng kính Đức Mẹ trong tâm hồn tôi tăng triển lên rất nhiều. Rồi đi đâu, tôi cũng xem chừng bàn thờ Đức Mẹ để “lấy kiểu”, để ý đến những bài suy niệm, những bài thánh ca về Đức Mẹ và ngay cả chương trình một buổi đọc kinh rồi về “học lại” cho Mẹ nghe. Mẹ sẵn sàng làm theo ý tôi và còn khuyến khích tìm hiểu thêm nữa.

Càng lớn lên, tôi càng nhận ra người Mẹ của tôi thật tuyệt vời, từ trong cách cư xử, xếp đặt việc nhà đến tình thương dành cho con cái. Tuy vậy cuộc đời của Mẹ đầy gian nan và đau khổ.

Như bao cô thôn nữ khác, Mẹ lấy chồng chưa tròn hai mươi tuổi, và ở xã hội thời bấy giờ vào thập niên Bốn Mươi, miền Bắc, Việt Nam, Mẹ cũng chiụ bao nhiêu sự cực nhọc từ công việc ruộng đồng đến cáng đáng gia đình nhà chồng. Mẹ luôn âm thầm chịu đựng ngay cả những bất công phi lý của cảnh Mẹ chồng nàng dâu, anh chị em nhà chồng mà ca dao Việt Nam đã diễn tả một cách rõ ràng chẳng úp mở:

“Một trăm ông chú không lo,

“Lo vì một nỗi mụ O nỏ mồm”!…


Thế rồi chính biến 1954 xảy ra, sau những khó khăn, cha mẹ tôi đã theo chân được nhiều người khác bỏ làng xóm, lên đường vào Nam với trên tay hai đứa con thơ. Cha tôi lâm bệnh nặng trong những ngày tháng đầu tiên ở một miền đất vừa khai hoang xa lạ đầy chướng khí, chẳng có được mấy người ruột thịt thân thích, vì hầu hết bà con Nội Ngoại đều ở lại nơi quê Cha đất Tổ, chỉ có chú và bác cùng đi, mà cả hai đều độc thân cả. Một mình Mẹ vừa phải lo cho hai đứa con, vừa săn sóc cho Cha tôi. Có lần một người bạn quen đồng cảnh ngộ người ngoại đạo đã khuyên Mẹ, nên bỏ lại hai đứa con cho ông chồng bệnh hoạn “thế nào cũng có người lo”, rồi tìm bến khác neo thuyền cho cuộc đời bớt khổ cực, thế nhưng Mẹ đã trả lời cho người bạn đó rằng:

-Mình là người có Đạo, lấy chồng là theo chồng, dù cực khổ thế nào cũng chịu chứ không thể như bên lương được!

Và Mẹ đã can đảm chiụ đựng suốt cuộc đời như thế. Những năm tháng tiếp theo, Cha tôi luôn đau ốm, Mẹ lo lắng nghĩ rằng vì khí hậu những vùng mới khẩn hoang không tốt, nên xếp đặt gia đình dời cư đi vùng khác. Vốn liếng không có và cũng không quen để tới những miền thành thị, loanh quanh từ Phan Thiết ra Bình Tuy rồi lên tận Đức Minh, Buôn-mê-thuột. Cuối cùng gia đình tôi cùng hai chú bác định cư tại Bình Giã, một vùng đất đai tương đối phì nhiêu, nhưng cũng là một trong những vùng mới khai hoang. Lúc đó, chính phủ miền Nam rất quan tâm đến những người dân di cư, từ miền Bắc vào Nam để tránh nạn Cộng sản, nên gia đình tôi cũng như mọi gia đình khác, được trợ cấp nhà ở, thực phẩm cho những năm đầu mới định cư.

Mẹ tôi vừa chăm sóc mảnh vườn nhỏ, vừa đi tới những vùng lân cận như Xuân Sơn, Ngãi Giao để làm thuê kiếm thêm tiền trang trải cho cuộc sống gia đình. Không biết có phải vì chưóng khí của vùng đất hoang hay không mà liên tiếp mấy năm sau bác tôi cũng ngã bệnh và qua đời. Mẹ tôi cũng là người đã săn sóc thuốc thang cho bác vào những ngày cuối cùng.

Chị em tôi lớn lên trong sự tảo tần của Mẹ. Là đàn bà, Mẹ làm bất cứ một công việc nặng nhọc nào mà đúng ra phải là sức đàn ông mới đương nổi. Có lúc Mẹ cũng kiệt sức vì yếu đuối. Lần đó, chị em tôi cũng khá lớn và đều đi học cả, một mình Mẹ gánh mạ ra đồng cấy lúa. Buổi chiều mưa to gió lớn, có người từ ruộng về ghé qua nhà nhắn Cha tôi là: Mẹ trúng gió ngoài ruộng. Chị và anh tôi vội vã choàng áo mưa chạy ra đồng đưa Mẹ về. Quả thực tôi không thể tưởng tượng được sự đau đớn Mẹ phải chiụ. Mẹ kêu van đau đớn ở các khớp xưong tay chân, nhất là hai cổ tay. Hồi đó tôi không hiểu Mẹ bị đau bệnh gì cả. Chị tôi chạy đi mời Y sĩ đến khám bệnh chích thuốc cho Mẹ. Cơn đau làm Mẹ rên rỉ suốt cả đêm, đây là lần đầu tiên tôi nghe Mẹ rên rỉ vì đau bệnh, từ trước tới giờ chưa bao giờ Mẹ than van một lời, ngay cả những lúc sốt nặng.

Theo yêu cầu của Mẹ, Cha tôi cho mời Cha xứ đến để xức dầu Thánh, chiụ các phép cho Mẹ rước Mình Thánh Chúa. Thấy Cha xứ và bà con đông đủ đọc kinh cho Mẹ, tôi cứ nghĩ là Mẹ sẽ chết, vì từ xưa tới nay, ở trong làng, chỉ có những người bệnh nặng sắp chết mới mời Cha xứ đến xức dầu, giải tội. Tôi lặng lẽ ngồi khóc cuối chân giường Mẹ nằm. Tôi cầu xin Đức Mẹ hãy ban ơn cho Mẹ khoẻ lại. Lúc đó, tôi cầu nguyện thật tha thiết, tôi tin rằng chỉ có Chúa và Đức Mẹ mới cứu được Mẹ tôi mà thôi. Tôi cũng nghe loáng thoáng tiếng xì xầm của bà con, người thì bảo rán chịu đến sớm mai kêu xe đò chở đi bệnh viện tỉnh, người thì bảo e không qua khỏi đêm nay. Tôi còn nhỏ, chẳng biết làm gì chỉ khóc và cầu nguyện cho đến khi ngủ thiếp đi.

Mẹ tôi được đưa đi bệnh viện vào sáng sớm hôm sau, và chỉ hơn một tuần lễ nằm bệnh viện, Mẹ khoẻ hơn, rồi lại trở về tiếp tục công việc thường ngày như là chưa bao giờ bệnh hoạn cả.

Mấy năm sau, chị em tôi cũng đã khôn lớn, chị tôi đã quán xuyến được việc nhà giúp Mẹ, rồi chị cũng lấy chồng. Gia đình tương đối đỡ cơ cực thì Cha lại bệnh nặng và chẳng bao lâu thì mất. Tôi thương Mẹ, luôn âm thầm chịu đựng chẳng bao giờ than van một điều.

Tôi đã từng nghe một bà cô, em họ Cha tôi nói: “Người khác thì chỉ lấy một chồng, chứ Mẹ tụi bay thì lấy những ba chồng”!

Quả là bà cô đã nói cường điệu mà đúng! Lấy chồng gánh vác nhà chồng, vất vả lo cho con cái, lại còn lo thêm cho chú và bác nữa, chắc chẳng mấy ai như Mẹ tôi. Lúc chú bệnh nặng, tôi rất thương Mẹ, nhớ lại Mẹ đã chiụ khó thuốc thang săn sóc cho Bác, cũng như cho Cha suốt mấy năm trời, giờ lại đến phiên Chú, lúc này tôi cũng đã khôn lớn, tôi thay thế cho Mẹ rất nhiều để đỡ đần cho Mẹ trong việc thuốc thang cho Chú. Mặc dù vậy, Mẹ vẫn qua lại thường xuyên để trông nom coi sóc hỏi han cho đến lúc Chú mất.

Đôi khi tôi cũng tự hỏi không hiểu sao Mẹ lại có một sức chịu đựng đến như thế. Tôi nghĩ chỉ còn một cách giải thích: “ Mẹ quá nhiều tình cảm”. Nhạc sĩ Y Vân đã diễn tả tượng hình về tình thương của một bà Mẹ rất cảm động và dễ hình dung hơn cả:

“Lòng Mẹ bao la như biển Thái Bình…”

Tôi cũng hiểu và biết rằng có một sức mạnh khác giúp cho Mẹ vượt qua mọi gian nan thử thách trong cuộc đời, đó là Mẹ thường ngày đi xem lễ, luôn cầu nguyện và lần hạt. Chính vì tin tưởng vào sức mạnh siêu nhiên đó, Mẹ cũng luôn nhắc nhở con cái đi xem lễ, đọc kinh, xưng tội vào các dịp lễ trọng. Tôi cũng là người tế nhị sớm nhận ra tình thương và sự hy sinh của Mẹ nên luôn giúp cũng như nghe theo lời khuyên của Mẹ. Tôi gia nhập đoàn Thiếu Nhi Thánh Thể từ lúc xưng tội lần đầu và sinh hoạt mãi cho đến lúc trở thành một Huynh Trưởng, rồi cuối cùng là Đoàn trưởng. Tôi nghĩ sở dĩ có ơn bền đỗ như vậy có lẽ là nhờ lời cầu nguyện của Mẹ, chẳng những luôn nhắc nhở những ngày lễ trọng, những sinh hoạt thường xuyên hàng tuần mà còn khuyên bảo những điều đạo đức khác nữa. Lúc đó các anh chị tôi đã lập gia đình, chỉ còn đứa em gái và tôi ở chung với Mẹ, công việc gia đình nhiều khi rất bận rộn, nhưng tất cả các công tác sinh hoạt đoàn thể, Mẹ đều cho phép và khuyến khích tham gia. Mười mấy năm trời từ một em Ấu nhi trở thành Đoàn trưởng, tôi chẳng bao giờ nghe Mẹ phàn nàn một điều gì về việc để nhiều thì giờ vào các sinh hoạt đoàn thể. Trái lại Mẹ còn quan tâm đến giờ giấc hội họp của tôi nữa. Có một lần vào vụ mùa gặt lúa, tôi xin phép Cha Tuyên Úy cho các Huynh trưởng được nghỉ một buổi sáng họp Chủ nhật thường lệ. Sáng Chủ nhật đó, tôi còn nghe nhạc đọc sách, Mẹ nhẹ nhàng nhắc khéo:

-Gần đến giờ họp rồi, liệu chừng trễ các em nó cười cho!

Tôi thực sung sướng và cảm động xen lẫn phần nào ân hận đã không nói với Mẹ từ hôm qua, để Mẹ biết sáng hôm nay nghỉ họp.

Bản tính Mẹ ít nói, không nhiều chuyện, nên Mẹ cũng khuyên bảo tôi trong lúc sinh hoạt, giao tiếp nhiều người phải ý tứ ăn nói: “Biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe”; “Bệnh là bởi miệng vô, hoạ là bởi miệng ra”; “Nghe nhiều thì học được nhiều, nói nhiều thì mang vạ nhiều”…những lời đó thực ra tôi cũng đã được học ở trường lớp hay đọc trong sách vở rồi, nhưng nghe từ miệng Mẹ nói tôi ghi nhớ vào trong tâm trí và cảm thấy quí báu vô ngần.

Lòng đạo đức và tình thương của Mẹ ảnh hưởng đến cuộc đời tôi rất nhiều, tôi luôn chứng tỏ cho Mẹ thấy tôi nghe lời và cố gắng sống theo gương Mẹ. Sức khoẻ Mẹ theo ngày tháng càng lúc càng kém, còn tôi càng ngày càng lớn lên, tuy vậy Mẹ cũng vẫn luôn săn sóc tôi như thuở tôi còn bé vậy. Những lần tôi cảm mệt, không muốn ăn cơm, Mẹ đi ra phiên chợ nhỏ đầu làng mua ít bánh mướt hay tô bún riêu. Buổi chiều tối nào từ ruộng về mà trời mưa to gió lạnh, Mẹ đã nấu sẵn nước nóng cho tôi tắm rửa để đỡ lạnh. Tôi rất thích ăn cháo cá hoặc chè đậu xanh mỗi buổi tối, Mẹ biêt ý nấu cháo hay chè vài ba lần một tuần. Thỉnh thoảng, buổi tối đi họp về khuya, cả nhà ngủ cả, tôi thấy nồi cháo còn nóng sốt trên bếp, vừa ăn vừa rưng rưng nước mắt nghĩ Mẹ thương mình vô cùng..

Càng lớn lên, tình thương của Mẹ càng làm cho tôi thấy thấm thía tình Cha nghĩa Mẹ trong câu ca dao:

“Công Cha như núi Thái sơn

“Nghĩa Mẹ như nước trong nguồn chảy ra”…


Và lòng đạo đức của tôi có được chắc chắn nhờ ở tình thương đó. Sự nhạy cảm của tâm hồn làm tôi thông cảm và hiểu Mẹ ngay từ hồi còn nhỏ. Những buổi tối theo Mẹ đi đọc kinh luân phiên trong tháng Hoa hoặc tháng Mân Côi, cho đến bây giờ vẫn còn gây xúc cảm cho tôi những khi nhớ đến Mẹ. Hầu như tôi đặt trọn tâm tình vào từng lời kinh câu hát trong những buổi đọc kinh đó. Ngồi kề bên Mẹ, tôi nghe từng hơi thở, từng cung giọng Mẹ cất lên. Lời Mẹ hát tôi nghe như Mẹ đang tha thiết nài van:

“Lạy Mẹ xin yên ủi chúng con luôn luôn, Mẹ từ bi xin phá những nỗi u buồn. Vì đời con gieo rắc biết bao đau thương, và tràn lan gai góc vướng trên con đường…”

Tôi có cảm tưởng Mẹ đang buồn, vì quả thực cuộc đời Mẹ phải cực khổ quá nhiều. Tuy vậy, ở nhà cũng có lúc tình cờ tôi nghe Mẹ hát nho nhỏ một mình:

“Lạy Mẹ Maria, Mẹ Thiên Chúa Mẹ Đồng trinh”…

Những lúc đó, tôi biết Mẹ đang vui, tự nhiên tôi cũng cảm thấy niềm vui tràn ngập trong lòng. Từ những tâm tình của tôi với Mẹ, và với những lời kinh tôi gần gũi với Đức Mẹ hơn, tôi thấy Mẹ tìm sự an ủi nơi Đức Mẹ, phó thác tất cả cho Đức Mẹ. Lời kinh : “Xin hãy nhớ xưa nay chưa từng nghe có người nào chạy đến cùng Đức Mẹ mà Mẹ chẳng nhậm lời”…Ngày nào cũng được đọc lên, tôi nghe thật thân tình. Tôi có cảm tưởng Đức Mẹ đang hiện thân trong Mẹ vậy, bởi vì chính Mẹ đã cho tôi những gì Mẹ có.

Sự liên tưởng đó, bây giờ lớn lên tôi mới cảm nghiệm đươc, Đức Mẹ Maria chính là một người Mẹ thực sự của mỗi người, mặc dù ai cũng có một bà Mẹ sinh ra mình, nhưng diễm phúc hơn nữa có Mẹ Maria là Mẹ Thiên Chúa và cũng là Mẹ chung của mỗi người. Tôi nghĩ tình thương của Mẹ Maria cũng như của các bà Mẹ rất giống nhau : thương con, lo lắng cho con, để ý từng nụ cười giọng nói, nghe ngóng từng nhịp đập của quả tim con…

“Mẹ là suối mát…Mẹ là trăng thanh…Mẹ là hy vọng…”

maria_hangcuugiupBài Thánh ca này ca tụng Đức Mẹ, nhưng mỗi lần nghe hát, tôi cứ tưởng tượng tác giả cùng một lúc diễn tả một người Mẹ siêu nhiên và một người Mẹ bình thường trong tất cả những bà Mẹ. Có lẽ sự khác biệt là Đức Mẹ đã được hiển Thánh, được Thiên Chúa lựa chọn trong số những bà Mẹ để trở nênĐấng cao trọng, làm Mẹ của Đấng Cứu Thế.

Trong các tước hiệu về Đức Mẹ, Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp là tước hiệu tôi cảm thấy sống động, gần gũi, gợi tình âu yếm Mẹ con hơn cả. Không biết có phải tại vì từ thuở nhỏ, tôi thường hay nhìn xem bức ảnh cổ truyền: Đức Mẹ bồng Chúa Giêsu, một bên chân sút cả dép làm cho tôi có ấn tượng đó hay không. Tôi đã đọc lời giải thích về nguồn gốc bức ảnh cổ truyền Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp và ý nghĩa của bức ảnh đó.. Thế nhưng tôi vẫn có một cảm nghĩ riêng về bức ảnh:

Một bà Mẹ rộng lượng, dễ dãi, đơn sơ thực thà cũng như bao nhiêu bà Mẹ khác vậy. Rộng lượng trong ân tình, ân nghĩa. Dễ dãi trong nghiêm phép phân minh. Đơn sơ trong sự kín đáo tế nhị và thực thà trong sự khôn ngoan chính chắn.

Bức ảnh gây tác động trong tâm hồn tôi rất nhiều, đến nỗi từ ngày xa cách Mẹ tôi, thì bức ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp tôi luôn giữ bên mình bất cứ lúc nào. Tôi tin rằng Đức Mẹ luôn gìn giữ cứu giúp tôi, cũng như Mẹ tôi luôn nhớ và cầu nguyện cho tôi vậy.

Năm nay Mẹ tôi đã bảy mươi tuổi, không biết Mẹ còn sống được bao lâu nữa. Mặc dù đã trưởng thành, nhưng mỗi lần nghĩ đến chuyện không còn Mẹ nữa, tôi cảm thấy hơi xót xa nhớ đến hai câu thơ của Thầy Nhất Hạnh:

“Tôi thấy tôi mất Mẹ

“Mất cả một bầu trời”…


Tôi không thể nào quên được những ngày tháng sống bên Mẹ, Mẹ đã lo lắng cho tôi như thể tôi mãi mãi là một đứa bé con. Ngay cả tôi lúc đã là một thanh niên, tôi vẫn luôn quấn quít bên Mẹ, mong đem niềm vui đến cho Mẹ. Những lần Mẹ nằm bệnh, tôi lấy thuốc bưng nước cho Mẹ, dù đêm khuya, Mẹ muốn chút nước trà nóng, tôi vẫn đun củi nấu nước cho ấm lên. Đôi khi, nửa đêm tôi thức dậy đến bên giường Mẹ xem chừng giấc ngủ, có lẽ Mẹ mệt nên ngủ quên buông mùng, tôi nhẹ nhàng đắp chiếc chăn mỏng buông mùng xuống cho Mẹ.

Tôi cảm tạ Thiên Chúa đã ban cho tôi một người Mẹ thật hoàn toàn, mặc dù cả cuộc đời có nhiều gian nan, thử thách, đau khổ, nhưng luôn luôn vẫn tận tuỵ với gia đình, luôn chuyên tâm cầu nguyện, nêu gương cho con cái. Gia tài vật chất của Mẹ để lại chẳng được bao nhiêu, nhưng về tinh thần, tôi nghĩ rằng đó là tất cả hành trang tôi cần cho cuộc lữ hành tìm về quê thật, ở nơi miền đất đầy chông gai cạm bẫy này.

Những gì tôi đã cố gắng làm cho Mẹ, có lẽ chẳng đáp đền được bao nhiêu công sức của Mẹ đã lo cho gia đình, cho tôi. Trong tim tôi chứa đựng tất cả những tâm tư tình cảm, hình ảnh của Mẹ. Và trong tâm thức đó, Mẹ Maria cũng luôn ngự trị trong tâm hồn tôi. Tôi cảm thấy sung sướng, vì có đến hai bà Mẹ luôn an ủi vỗ về, nâng đỡ trong suốt cuộc đời.

Xin cảm tạ ơn Trời, xin cảm tạ ơn Người.

Đặng Xuân Hường

Video: Tháng Hoa và Mẹ Tôi


Ý kiến bạn đọc
25 Tháng Hai 201510:32 CH
Khách
Mẹ là giòng suối ngọt ngào, mẹ là tiếng hát đêm thâu, xem mà thấy thương mẹ, nhớ mẹ vô cùng.
04 Tháng Năm 20137:00 SA
Khách
(ST)
Khi con lớn lên
Bầu trời trong mắt con ngày một xanh hơn
Thì tóc mẹ tháng ngày thêm sợi bạc
Mẹ đã thành hiển nhiên như trời đất
Như cuộc đời không thể thiếu trong con
Nếu con có đi một vòng trái đất tròn
Người mong con mòi mõi không ai hơn mẹ

Mẹ
Có nghĩa là mãi mãi
Là cho đi không đòi lại bao giờ
Cổ tích thường bắt đầu rằng
..."Ngày xưa có một nàng công chúa"
Hay " Ngày xưa có một ông vua"
Cổ tích cũng bắt nguồn từ " Ngày xưa có mẹ"

Mẹ
Có nghĩa là bắt đầu
Cho sự sống cho tình yêu cho hạnh phúc

Mẹ
Có nghĩa là duy nhất
Một bầu trời một mặt đất một vầng trăng
Mẹ Không sống đủ trăm năm
Nhưng đã cho con dư dã nụ cười,tiếng hát
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
“Phúc cho đầy tớ nào chủ gặp thấy còn tỉnh thức khi chủ trở về” (Lc 12,37). Đâu đâu trên thế giới người ta cũng đi tìm tình yêu, vì ai cũng tin rằng chỉ có tình yêu mới cứu được thế giới, chỉ có tình yêu mới làm cho cuộc đời có ý nghĩa và đáng sống. Nhưng rất ít người hiểu được tình yêu thực sự là gì và làm thế nào tình yêu nảy sinh trong tâm hồn con người. Tình yêu thường được đồng hoá với những tình cảm tốt đẹp của ta đối với người khác, hoặc là sự nhân hậu, không bạo động hay sẵn sàng phục vụ. Tuy nhiên, tất cả những tình cảm này tự chúng không phải là tình yêu.
Chúng ta được mời gọi nên thánh. “Hãy nên thánh, vì Ta là thánh” (Lv 11,44; 1Pr 1,16). Đó là đích nhắm và là thách đố cho mỗi người. Đích nhắm vì “anh em hãy nên hoàn thiện.” (Mt 5,43–48), vì nơi đó có bình an, hạnh phúc. Thách đố vì nên thánh là đi ngược lại với những mời gọi của thế trần, nơi đó luôn có nhiều hấp dẫn gọi mời. Mỗi người đều có con đường nên thánh rất riêng, tùy theo bậc sống và môi trường người ấy dấn thân. Chút chia sẻ dưới đây cho chúng ta thấy giáo dân có một con đường nên thánh rất đặc thù.
Thân phận con người là hữu hạn: “Hữu sinh, hữu tử”. Nghĩa là có sinh ắt phải có tử; nhưng ngày sinh thì biết, ngày tử thì không. Chết ở đâu, khi nào và chết bằng cách nào chúng ta không hề hay biết, chỉ biết rằng sinh ra trong cõi đời này, sống trong cõi tạm này và ngày nào đó ta sẽ phải buông bỏ tất cả để chấm dứt cuộc đời chóng qua này. Như thế, đời người được ví như một chuyến đi, một hành trình có khởi đầu và kết thúc như một “cuộc chơi” mà không ai thoát khỏi. ‘Sinh, lão, bệnh, tử’ đã trở thành quy luật của một đời người và là định mệnh của con người. Quan niệm ấy không chỉ đúng với Phật giáo nhưng còn đúng với nhiều người. Với Kitô giáo thì bệnh tật và tội lỗi là do con người. Bởi, hệ lụy này chính là sự đổ vỡ tương quan giữa Nguyên tổ với Thiên Chúa khi ông bà bất tuân lệnh Chúa truyền và họ phải chuốc lấy khổ đau, bệnh tật và sự chết (x. St 2, 7-8; 3, 1-7).
Do đại dịch, từ Chúa nhật 08/3, buổi đọc Kinh Truyền Tin của Đức Thánh Cha với các tín hữu và du khách hành hương không diễn ra tại cửa sổ Dinh Tông tòa như thường lệ, nhưng được chuyển vào Thư viện cũng của Dinh Tông tòa. Và hôm Chúa Nhật 31/5, Lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống, Đức Thánh Cha đã xuất hiện tại cửa sổ để đọc Kinh Lạy Nữ Vương với các tín hữu. Cũng như mọi lần, trước khi đọc kinh, Đức Thánh Cha có bài huấn dụ ngắn.
Trước khi Chúa Giêsu rời bỏ các môn đệ, Người nói với họ rằng: “Thầy sẽ không để anh em mồ côi. Thầy đến cùng anh em. Chẳng bao lâu nữa, thế gian sẽ không còn thấy Thầy. Phần anh em, anh em sẽ được thấy Thầy, vì Thầy sống và anh em cũng sẽ được sống” (Ga 14,18-19). Cách nào đó Chúa Giêsu đã đề cập đến “Đấng Bảo Trợ”, hay Chúa Thánh Thần, Đấng mà Người sẽ ban cho các Tông đồ trong ngày lễ Ngũ tuần. Chúa Giêsu cũng nói đến cách hiện diện khác mà Ngài đã hứa sẽ “ở cùng chúng ta”.
Những bông hoa đầy màu sắc bên ngoài chỉ tỏ lòng mộ mến với Đức Mẹ. Thực ra, những bông hoa được vun tưới trong lòng bằng lời tâm tình cầu nguyện, được ấp ủ bằng kinh Mân côi, được chăm bón bằng tràng hạt, đó mới là những bông hoa sẽ được đón nhận bằng chính Trái tim yêu thương của Mẹ Maria./post 12 Tháng Năm 2013 (Xem: 43352)/
THÁNG 5. 2020 – CẦU CHO CÁC PHÓ TẾ (*) Lạy Chúa Giêsu Kitô, Đấng đã hiến mạng sống vì tình yêu. Chúng con xin dâng lời cảm tạ vì ân sủng Chúa dành cho các Phó Tế, một ơn gọi phục vụ đặc thù. Nhờ ân sủng của Thiên Chúa, các Phó Tế là những người coi sóc việc phục vụ trong Giáo Hội: phục vụ Lời Chúa, phục vụ Bàn Thánh và phục vụ người nghèo. Ơn gọi của các Phó Tế nhắc nhớ rằng đức tin, qua các hình thức khác nhau như: phục vụ cộng đoàn, kinh nguyện cá nhân, những hình thức bác ái khác nhau và trong các bậc sống: giáo dân, tu sĩ, thừa tác viên – có một chiều kích thiết yếu đó là phục vụ Thiên Chúa và con người. Thông qua các Phó Tế, Thiên Chúa muốn toàn thể Giáo Hội tái khám phá ý nghĩa phục vụ như một trong những ân sủng đặc trưng của mình. Xin cho các Phó Tế, qua bí tích của sự phục vụ Thiên Chúa và anh chị em, có thể sống ơn gọi trong gia đình, cùng gia đình, trong Giáo Hội và cùng với Giáo Hội. Amen.
Lễ Phục Sinh có một ý nghĩa vô cùng trọng đại đối với các Kitô Hữu, cho nên Hội Thánh dành cả một tuần lễ, Tuần Bát Nhật để long trọng tưởng niệm biến cố Đức Kitô vinh thắng sự chết mở đường cho nhân loại tiến vào sự sống viên mãn. Kể từ Năm Thánh 2000, Chúa Nhật sau Lễ Phục Sinh đã không chỉ đơn thuần được coi là ngày kết thúc Tuần Bát Nhật Mừng Chúa Phục Sinh nữa, nhưng thêm vào đó, ngày Chúa Nhật thứ II Mùa Phục Sinh chính thức mang tên Ngày Chúa Nhật Lòng Chúa Thương Xót. Phải có lý do chính đáng nào đó mới khiến cho Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II chọn ngày này để truyền cho cả Giáo Hội long trọng tuyên dương lòng thương xót vô bờ bến của Thiên Chúa. Cho dù những lý do đó là gì, thì cũng không khó để chúng ta nhận ra rằng đây là một chọn lựa thích hợp vì chưng tất cả các bài đọc Tin Mừng trong suốt Tuần Bát Nhật Phục Sinh đều chứa đựng những chi tiết sống động giúp chúng ta hiểu được tình yêu Thiên Chúa dành cho chúng ta vĩ đại đến mức nào.
Chợt Ngài bỗng kêu lên một tiếng lớn rồi tắt thở! Thân xác Ngài rũ xuống, thập giá rung lên nhè nhẹ! Chiều đang dần tàn, cảnh hoàng hôn thật thê lương trong ráng chiều màu tím thẫm ảm đạm! Post 30 Tháng Ba 2013(Xem: 3284)
Hãy thức với Thầy con ơi!- Thầy lo âu mà con đã ngủ vùi- Trong vườn vắng, đêm âm u lặng lẽ- Gió lạnh áo Thầy đẫm mồ hôi- Quay nhìn con, con đã ngủ rồi!-
Bảo Trợ