Chú giải và chia sẻ Tin mừng Chúa Nhật V Phục Sinh – năm C

25 Tháng Tư 20132:00 CH(Xem: 3432)

Các bài chú giải và chia sẻ Tin Mừng
Chúa Nhật V Phục Sinh – Năm C
Lời Chúa:
 Cv 14, 21b-27; Kh 21,1-5; Ga 13,31-33a.34-35

***************


A. BẢN VĂN (Ga 13,31-33a.34-35):

31Khi Giu-đa ra khỏi phòng tiệc ly, Đức Giê-su nói: "Giờ đây, Con Người được tôn vinh, và Thiên Chúa cũng được tôn vinh nơi Người. 32Nếu Thiên Chúa được tôn vinh nơi Người, thì Thiên Chúa cũng sẽ tôn vinh Người nơi chính mình, và Thiên Chúa sắp tôn vinh Người.

33Hỡi anh em là những người con bé nhỏ của Thầy, Thầy còn ở với anh em một ít lâu nữa thôi. Anh em sẽ tìm kiếm Thầy; nhưng như Thầy đã nói với người Do Thái: "Nơi tôi đi, các người không thể đến được", bây giờ, Thầy cũng nói với anh em như vậy. 34Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. 35Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: là anh em có lòng yêu thương nhau."

B. CÁC BÀI CHÚ GIẢI

Bài 1. Chú giải và gợi ý suy niệm của Lm PX Vũ Phan Long, ofm:
ĐIỀU RĂN MỚI

1- Ngữ cảnh

Đoạn văn chúng ta đọc hôm nay thuộc về phân đoạn 1 của Phần ii, “Sách về Giờ của Đức Giêsu” (ch. 13–20).

Sau khi Giuđa bỏ bàn tiệc đi ra (Ga 13,30), có lẽ sau rửa chân và trước khi lập bí tích Thánh Thể, bắt đầu các biến cố đưa tới việc Đức Giêsu bị bắt, bị kết án và bị xử tử thập giá. Ngọn thủy triều của sự từ khước, đã dâng lên dần dần từ lâu, nay đổ ập xuống trên Đức Giêsu. Cứ nhìn từ bên ngoài, Người đã bị hủy diệt tan tành; bản thân Người và công trình của Người đã tiêu tan thành mây khói. Tuy nhiên, Đức Giêsu lại nói cho các môn đệ biết, dù bề ngoài tình hình ngặt nghèo như thế, chuyện gì thực sự đang xảy và đâu là nhiệm vụ chính yếu của các ông khi các ông không còn thấy Người hiện diện hữu hình giữa các ông nữa.

2- Bố cục

Bản văn có thể chia thành ba phần:

1) Cuộc tôn vinh (13,31-32);

2) [Chuẩn bị] ra đi (13,33[a]);

3) Điều răn Yêu thương (13,34-35).

3- Vài điểm chú giải

- Con Người đã được tôn vinh (31): Đức Giêsu quá chắc chắn là sẽ tìm được sự sống trong cái chết, và tìm được danh dự trong ô nhục, đến độ Người nói về việc tôn vinh Người như một sự kiện đã được thực hiện: “Con Người đã được tôn vinh (edoxasthê)”. Ta có thể giải thích thì quá khứ aorist tác giả dùng để diễn tả một điều còn thuộc về tương lai như sau: Đức Giêsu tín nhiệm vào tính hữu hiệu của những định đoạt của Cha Người hơn là vào những hậu quả kể từ nay không thể tránh được do cuộc phản bội của Giuđa.

- Con Người (31): Tác giả cố tình dùng danh xưng “Con Người” này. Một đàng danh hiệu này vẫn có ý nghĩa thiên sai của các TMNL, một đàng lại có một nghĩa chính xác hơn khi được tác giảGa vận dụng: trong 10 đoạn có danh xưng này, luôn luôn do Đức Giêsu nói ra (Ga 1,51; 3,13.14; 5,27; 6,27; 6,53.62; 8,28; 12,23; 13,31 – Bốn câu cuối liên hệ đến thập giá), danh xưng này luôn hàm chứa một gợi ý đến vinh quang đang chờ Ngôi Lời nhập thể, nhằm đáp lại việc Người đã hạ mình là “một người con của loài người”, dù là người con tuyệt vời nhất.

- Thiên Chúa được tôn vinh nơi Con Người (31): Câu này có thể hiểu bốn cách: (a) Qua Đức Giêsu, Thiên Chúa đang được loài người tôn vinh; (b) Thiên Chúa được Đức Giêsu tôn vinh, chẳng hạn, bằng sự vâng phục của Người; (c) Thiên Chúa đã nhận được danh dự cho mình nơi Đức Giêsu; (d) Thiên Chúa đã mạc khải vinh quang của Ngài ra nơi Đức Giêsu.

Vinh quang luôn hàm ý việc tỏ bày hữu hình sự uy hùng của Thiên Chúa ra nơi các hành vi quyền lực. Cả hai điểm này đều được ghi nhận nơi cái chết và sự sống lại của Đức Giêsu, vì đó là một hành vi thuộc quyền riêng của Người (x. 10,17-18). Tuy nhiên, vì quyền lực của Đức Giêsu cũng đồng thời là quyền lực của Thiên Chúa, ta có thể thấy ý nghĩa đầy đủ của câu này là một tổng hợp nghĩa hai và bốn trên đây. Như thế, nơi Đức Giêsu, trong cái chết của Người trên thập giá, “Thiên Chúa được tôn vinh”, nghĩa là Thiên Chúa được mạc khải ra như là Cha.

- Thiên Chúa cũng sẽ tôn vinh Người nơi chính mình (32): Nếu Thiên Chúa đã được tôn vinh nơi Đức Giêsu (trong cuộc Thương Khó và trong cuộc trở về với Cha Người xuyên qua cái chết; x. 7,39; 12,16.23), đáp lại, Đức Giêsu cũng sẽ được tôn vinh nơi chính Thiên Chúa. Khi Đức Giêsu tôn vinh Thiên Chúa qua cái chết của Người, thì Thiên Chúa, tác giả của mạc khải, cũng sẽ tôn vinh Đấng Mạc khải, tức Con của Ngài.

- sắp (32): “tức khắc” (euthys). Cuộc Thương Khó, cái chết và Lên trời được coi như một hành vi ngắn ngủi duy nhất (x. “một ít lâu nữa thôi” của c. 33) đưa tới vinh quang tương lai trước nhan Chúa Cha.

những người con bé nhỏ (teknia; 33): Kiểu gọi này xuất hiện 7 lần trong 1 Ga, nhưng chỉ 1 lần ở đây. Đây là kiểu gọi của Đức Giêsu hay là một sáng tạo của tác giả? Chúng ta không thể trả lời dứt khoát, nhưng biết rằng một vị thầy Do-thái có thể gọi học trò của mình là “con”. Trong Mc(10,24), Đức Giêsu đã gọi các môn đệ là “các con tôi” (tekna, thay vì kiểu giảm nhẹ teknia); còn trong Mt (18,3; 19,14), Đức Giêsu khuyên các môn đệ hãy sống như các em bé.

một ít lâu nữa thôi (33): Xem Ga 7,33; 12,35;14,19; 16,16. Đây là một công thức Cựu Ướcđược các ngôn sứ sử dụng để nói bằng giọng lạc quan rằng chỉ còn một thời gian ngắn nữa là ơn cứu độ của Thiên Chúa sẽ đến (x. Is 10,25; Gr 51,33).

điều răn (34): Đề tài “điều răn” thường được đề cập đến trong Bài Diễn từ cuối cùng (6-7 lần) và trong các Thư Gioan (18 lần).

yêu thương nhau (35): Để nói về tình yêu giữa các môn đệ Đức Giêsu với nhau, tác giả Galuôn luôn dùng động từ agapaô, “yêu thương” cùng với sự hy sinh, tự hiến. Nhưng trong TM IV, từ này chỉ được dùng 36 lần (so với pisteuô là 98 lần). Do đó, vì từ agapaô được dùng trong TM IV nhiều lần hơn các TMNL (Mc 5 lần; Mt 8 lần và Lc 13 lần), nên tuy có thể gọi TM IV là “Tin Mừng về tình yêu” khi so với các TM ấy, ta vẫn phải ưu tiên gọi TM này là “Tin Mừng về đức tin” khi xét về nội dung.

4- Ý nghĩa của bản văn

* Cuộc tôn vinh (31-32)

Sau khi Giuđa ra đi, Đức Giêsu nói cho các môn đệ biết những điều hệ trọng, một điều vang lên như một tin chiến thắng: “Giờ đây”, đã đến “Giờ” Người đạt tới đích điểm của cuộc đời của Người. Trong tất cả những gì Người đã làm, Đức Giêsu luôn nêu bật dây liên kết giữa Cha và Con, giữa Đấng sai phái và Đấng được sai phái: các lời nói và các việc làm của Con đều đến từ Cha và cho thấy dây liên kết Con với Cha. Điều này cũng đúng cho cuộc Thương Khó và cái chết của Người. Các biến cố này không cho thấy rằng Đức Giêsu bị tách khỏi Cha và bị Cha bỏ rơi, nhưng chúng mạc khải dây liên kết hỗ tương giữa Đức Giêsu và Cha, nay đã đến đỉnh cao. Con tôn vinh Cha và Cha tôn vinh Con. Trong hành vi Đức Giêsu hiến dâng mạng sống cùng với những hậu quả của hành vi này, Cha và Con trở nên hữu hình trong quan hệ hỗ tương giữa hai Đấng với nhau và quan hệ của hai Đấng với loài người. Đây là đặc tính chân thật của cái chết của Đức Giêsu, và ta cần phải nhận ra như thế nhờ đức tin.

Con Người được tôn vinh vào lúc Người hy sinh mạng sống. Không phải bằng lời nói, nhưng xuyên qua biến cố thực hữu và tuyệt đối hệ trọng này, Người tỏ mình ra như là Con được liên kết với Cha bằng một niềm tín thác vô biên. Đối với Người, cái chết này là hành vi quay về với Cha (13,1). Đức Giêsu không bám víu vào điều gì cả, Người ngoan ngoãn phó thác cho Cha, ngay cả vào lúc Người phải đương đầu với cái chết. Ngay vào lúc đó, Người bày tỏ tình yêu vô biên của Người đối với loài người (13,1), như người mục tử nhân lành, không giữ lại gì cho mình, nhưng ban tặng chính mạng sống cho chúng ta. Nhưng nơi Con Người, Chúa Cha cũng được tôn vinh. Xuyên qua hành vi của Con, Thiên Chúa tự mạc khải như là Cha, Đấng đáng được ta tin tưởng, và là Đấng duy nhất ta phải tin tưởng. Và hành vi Đức Giêsu trao hiến mạng sống cho thấy tình yêu vô biên của Thiên Chúa đối với thế gian (3,16). Tiếp hành vi mạc khải của Đức Giêsu là hành vi Thiên Chúa tôn vinh Đức Giêsu. Sau khi chết, Con Thiên Chúa được Cha đón vào đời sống thần linh, trong vinh quang mà Người đã thuộc về trước muôn thuở (17,5). Nhưng Đức Giêsu còn được Cha tôn vinh do Người tỏ mình ra như là Đấng được treo cao trên thập giá, trong sức mạnh cứu độ hữu hiệu của Người. Từ Người, tuôn trào các dòng sông ban nước sinh sống. Người ban Thánh Thần, là sức mạnh đưa đến sự sống đời đời (7,38-39), và lôi kéo mọi người về với Người (12,32).

* [Chuẩn bị] ra đi (33[a])

Chỉ vào lúc này, khi sắp từ biệt các môn đệ, Đức Giêsu mới gọi các ông là “các con bé nhỏ”, mộtgiọng điệu phải nói là chan hòa sự ân cần chăm sóc yêu thương như mẹ hiền. Cho tới nay, Người vẫn ở giữa các ông và che chở các ông (17,12); bây giờ Người đi đến cái chết. Như thế, chấm dứt sự hiệp thông của các ông với Người về phương diện hữu hình. Các ông không đi theo Người vào cái chết và vào trong vinh quang ngay lúc này được (x. 13,26; 21,18-19). Người muốn chuẩn bị các ông cho thời gian xa cách bên ngoài.

* Điều răn Yêu thương (13,34-35).

Với điều răn “Anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (13,34), Đức Giêsu để lại cho các môn đệ ý muốn cuối cùng và di chúc của Người: Người sẽ nhắc lại thêm hai lần nữa (x. Ga 15,12.17). Người cho các môn đệ thấy một cách thức theo đó Người sẽ tiếp tục hiện diện giữa các ông và Người quy định cách sống của các ông. Các môn đệ phải quy hướng bản thân về tình yêu của Người, là tình yêu mà mỗi ông đã trải nghiệm. Trong tình yêu này, mỗi ông phải là Giêsu cho người khác, phải chấp nhận người khác, giúp đỡ người ấy, quan tâm đến điều thiện hảo của người ấy, như chính Đức Giêsu đã làm. Như thế, các ông sẽ làm cho Đức Giêsu hiện diện cho nhau trong cái đặc điểm tiêu biểu của Người: tình yêu. Các môn đệ được ngỏ lời với như là một cộng đoàn, các ông phải định hướng đời mình theo sự hiệp thông đời sống mà các ông đã có thể có với Đức Giêsu.

Thật ra, trong Cựu Ước, đã có một điều răn được diễn tả tương tự: “Ngươi phải yêu đồng loại như chính mình” (Lv 19,18). Nhưng nếu nói đến kinh nghiệm từ đó phát xuất ra điều răn của Đức Giêsu, cũng là kinh nghiệm nâng đỡ điều răn này, kinh nghiệm giúp đo lường điều răn này, thì phải nói điều răn của Đức Giêsu hoàn toàn mới mẻ. Chỉ các môn đệ của Đức Giêsu mới trải nghiệm tình yêu của Người, và chỉ trong cái chết của Đức Giêsu, tình yêu của Đức Giêsu và tình yêu của Thiên Chúa mới được mạc khải ra trọn vẹn (13,1.31). Trên nền tảng là tình yêu các ông nhận được từ Chúa Cha và Chúa Con, các môn đệ phải yêu thương nhau. Đức Giêsu không ban cho các ông một điều răn thuần túy và đơn giản, nhưng trước tiên cống hiến cho các ông kinh nghiệm về tình yêu của chính Người và tạo ra cho các ông một không gian sống mới, bằng cách ban tặng chính sự sống của Người và mạc khải cho thấy tình yêu của Thiên Chúa. Nếu mở lòng ra với tình yêu và với việc tôn vinh của Đức Giêsu, các môn đệ có thể yêu thương nhau như Người đã yêu thương các ông. Như thế các ông càng chứng tỏ các ông đúng là môn đệ của Người hơn. Nhờ tình yêu hỗ tương giữa các ông với nhau, Đức Giêsu tiếp tục hiện diện giữa các ông, và hướng dẫn các ông sống và cư xử.

+ Kết luận

Sự hiệp thông hữu hình cho đến nay giữa Đức Giêsu và các môn đệ, bây giờ đến lúc chấm dứt. Chính điểm kết thúc này lại cho thấy rõ ràng Đức Giêsu gắn bó với các môn đệ và yêu thương các ông đến độ nào. Người từ biệt các ông, nhưng không bỏ các ông. Người sẽ ở lại với các ông nhờ tình yêu của các ông đối với nhau, và các ông sẽ tiếp tục gắn bó với Người. Đức Giêsu dạy các môn đệ đừng yêu thương người khác bởi vì những người ấy xứng đáng với tình yêu của họ, nhưng bởi vì những người ấy cần tình yêu của họ. Tuy nhiên, điều thật sự mới mẻ trong điều răn này là Đức Giêsu là người đầu tiên thành lập một “hội” dựa trên nguyên tắc yêu thương như Người đã yêu thương.

5- Gợi ý suy niệm

1. Sau khi Giuđa đi rồi, ở lại phòng tiệc, chỉ còn những người bạn thân tín nhất của Đức Giêsu. Người tâm sự về lẽ sống của Người: Người sống hết mình cho Chúa Cha và cũng hết mình cho các môn đệ. Đây là mẫu gương người mục tử tốt lành. Và đấy cũng là vinh quang của Người, bởi vì trong Kinh Thánh, “vinh quang” có nghĩa là phẩm chất của con người, tầm mức quan trọng, giá trị, sự uy dũng: Người được như thế do Người hoàn toàn chấp nhận thánh ý của Chúa Cha, vì yêu mến Chúa Cha và vì yêu thương loài người. Mỗi Kitô hữu, khi thực hiện chương trình của Thiên Chúa về mình, cũng đạt được “trọng lượng”, tầm quan trọng, giá trị, sự cao cả.

2. Không phải là chỉ với Đức Giêsu, người ta mới được kêu gọi yêu thương nhau. Với sách Lv vàĐnl, Dân Chúa đã được kêu gọi yêu thương nhau rồi. Nhưng điều răn yêu thương Đức Giêsu ban, có thể được gọi là “mới”, do chỗ nó mô phỏng cụ thể tình yêu của Đức Giêsu, cũng là tình yêu của Thiên Chúa tỏ hiện nơi Đức Giêsu. Như thế, khi yêu thương, người Kitô hữu tỏ bày Thiên Chúa ra cho loài người. Và nói ngược lại, nếu không yêu thương nhau, các Kitô hữu đã làm biến dạng gương mặt của Đức Giêsu và của Thiên Chúa.

3. Tình yêu được diễn tả qua động từ agapaô (x. agapê) là tình yêu quảng đại, hàm chứa sự tự hiến, sự hy sinh. Chính Đức Giêsu đã làm chứng về tình yêu này khi Người cúi xuống rửa chân các môn đệ và ra đi chịu chết cho các ông và mọi người. Các Kitô hữu được mời gọi bắt chước Người mà yêu thương như Người. Tình bác ái là sự nối dài trong lòng ta tình yêu của Đức Kitô đối với chúng ta (“như Thầy đã yêu thương anh em”) và tình yêu của chúng ta đối với Đức Kitô (“ở điểm này, mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy”).

4. Kể từ nay, Đức Giêsu cư ngụ trong các môn đệ như là tình yêu, Người sẽ yêu thương trong các ông. Người không chỉ ban cho các ông một lời để tuân giữ, nhưng Người ban chính mình. Với việc ban điều răn mới, Đức Giêsu ban chính sự hiện diện của Người. Cũng như bí tích Thánh Thể, điều răn mới chính là sự hiện diện thực hữu của Đức Giêsu.

5. Một điều răn là một sự áp đặt? Hẳn là chúng ta sẽ không nghĩ như thế, khi hiểu rằng điều răn của Đức Giêsu chỉ cho chúng ta cách tìm ra hạnh phúc tại đây và lúc này. Thế giới sẽ ra sao, nếu như tất cả mọi người đều sống theo điều răn này? Hẳn là các gia đình sẽ đoàn tụ; mọi người sống hài hòa với nhau; các cộng đoàn Kitô hữu sẽ thân thiện và vui tươi; xã hội sẽ được biến đổi.

 

Bài 2. Chú giải và gợi ý suy niệm của Lm Inhaxiô Hồ Thông

Cả ba bài đọc của Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật V Phục Sinh đều làm chứng theo cách riêng của mình cái mới mẻ tận căn mà mầu nhiệm Phục Sinh đem lại.

Cv 14: 21-27

Bài đọc I, được trích từ sách Công Vụ, kể lại phần cuối cuộc hành trình truyền giáo thứ nhất của thánh Phao-lô. Dân Thiên Chúa mặc lấy một diện mạo mới bởi việc lương dân gia nhập vào Giáo Hội.

Kh 21: 1-5

Chủ đề lớn của sách Khải Huyền sắp đến hồi kết thúc: cuộc khải hoàn của Con Chiên Vượt Qua đã làm biến mất trời cũ đất cũ, thế giới tội lỗi. Thiên Chúa sáng tạo trời mới đất mới. Một thành thánh Giê-ru-sa-lem mới từ trời xuống để là nơi Thiên Chúa ở giữa nhân loại.

Ga 13: 31-35

Tin Mừng là phần đầu Diễn Từ Cáo Biệt của Đức Giê-su với các môn đệ Ngài trong Tiệc Ly, trong đó Chúa Giê-su ban cho họ một điều răn mới: “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em”, nghĩa là, yêu thương nhau cho đến mức hiến dâng mạng sống mình cho nhau như Ngài đã hiến thân mạng sống mình vì nhân loại. Điều răn mới này làm chứng Chúa Giê-su vẫn hiện diện ở giữa loài người.

BÀI ĐỌC I (Cv 14: 21-27)

Vào Chúa Nhật trước, sách Công Vụ kể lại phần đầu cuộc hành trình truyền giáo thứ nhất của thánh Phao-lô ở miền Tiểu Á (ở An-ti-ô-khi-a miền Pi-xi-đi-a); bản văn hôm nay kể lại phần cuối cuộc hành trình này.

Vì bận lòng cũng cố những Giáo Đoàn còn non trẻ mà hai ông đã thiết lập, thánh Phao-lô và thánh Ba-na-ba quyết định trở lại những thành phố ở đó họ đã bị bắt, trước khi trở về An-ti-ô-khi-a miền Xi-ri-a, điểm khởi hành của họ. Hai ngài không còn rao giảng trong các hội đường, nhưng chỉ trong các cộng đoàn Ki-tô hữu, củng cố niềm tin của các tân tòng và khuyến khích họ can đảm và kiên vững.

1. Những quấy nhiễu và bách hại:

Cả hai ngài nói bằng cung giọng nghiêm trọng. Thánh Phao-lô cho các thính giả hiểu rằng sự thù hận chống đối họ chưa chịu lùi bước, nhưng “Ta phải qua nhiều gian khổ mới vào được Nước Thiên Chúa”. Chính thánh nhân mới đây đã kinh nghiệm về sự tàn bạo này: ở Lýt-ra, thánh nhân đã bị ném đá, rồi bị lôi ra ngoài thành, vì tưởng ngài đã chết (Cv 14: 19). Sau này, thánh Phao-lô viết cho Ti-mô-thê: “Anh đã biết những cơn bắt bớ, nhũng sự đau khổ tôi đã gặp ở An-ti-ô-khi-a, I-cô-ni-a, Lýt-ra, đã biết tôi chịu bắt bớ như thế nào. Nhưng Chúa đã giải thoát tôi khỏi tất cả” (2Tm 3: 11).

Khi viết những dòng này, thánh Lu-ca biết những cộng đoàn miền Tiểu Á này đã phải chịu và còn đang chịu biết bao những quấy nhiễu và bách hại.

2. Thiết lập các Kỳ Mục:

“Hai ông chỉ định những kỳ mục đứng đầu mỗi Giáo Đoàn…”. Về phương diện lịch sử, bản văn này rất quý; cơ cấu Giáo Hội đang bắt đầu hình thành. Giáo Đoàn Giê-ru-sa-lem có các kỳ mục rồi; Giáo Đoàn Ê-phê-sô sẽ có những kỳ mục của mình. Sau này, khi thánh Phao-lô viết cho Ti-tô, cộng tác viên của mình, mà thánh nhân đã giao phó cho ông Giáo Đoàn Cơ-rê-ta: “Tôi đã để anh ở lại đảo Cơ-rê-ta, chính là để anh hoàn thành công việc tổ chức, và đặt những kỳ mục trong mỗi thành, như tôi đã truyền cho anh” (Tt 1: 5).

Chắc chắn cơ cấu Giáo Đoàn được gợi hứng từ định chế của các cộng đoàn Do thái, theo đó mỗi cộng đoàn đều có một Kỳ Mục chủ trì. Đoạn văn Công Vụ chúng ta đọc là đoạn văn duy nhất cung cấp sự chỉ dẫn về cách thức chỉ định các Kỳ Mục: “Trong mỗi Hội Thánh, hai ông chỉ định cho họ những kỳ mục, và sau khi ăn chay cầu nguyện, hai ông phó thác những người đó cho Chúa, Đấng họ đã tin”.

Những phận sự của các kỳ mục này là gì? Thánh Phao-lô tóm tắt những phận sự này, khi thánh nhân giả biệt các kỳ mục ở Ê-phê-sô: “Anh em hãy ân cần lo cho chính mình và toàn thể đoàn chiên mà Thánh Thần đã đặt anh em làm người coi sóc, hãy chăn dắt Hội Thánh của Thiên Chúa, Hội Thánh Người đã mua bằng giá máu của chính mình” (Cv 20: 28).

3. Trở về từ sứ vụ:

Chính cộng đoàn An-ti-ô-khi-a miền Xi-ri-a đã cử thánh Phao-lô và ông Ba-na-ba đi thi hành sứ vụ. Chính ở cộng đoàn này mà hai ông trở về tường thuật mọi sự việc và những thành quả các ông đã đạt được: “Thiên Chúa đã thực hiện với hai ông, và nhất là Người đã mở đường cho các dân ngoại đón nhận đức tin thế nào”.

Chúng ta ghi nhận rằng những lời này thánh Lu-ca đặt chính xác vào giữa tác phẩm của mình.

BÀI ĐỌC II (Kh 21: 1-5)

Sau khi đã mô tả một cách biểu tượng những cuộc chiến đấu của Giáo Hội, thánh Gioan phác họa cũng một cách biểu tượng thị kiến về Thánh Thánh Giê-ru-sa-lem trên trời, tức là thị kiến về cuộc khải hoàn đang chờ đón Giáo Hội khi Giáo Hội đã trải qua những gian nan thử thách ở dưới thế.

Những chương cuối cùng sách Khải Huyền (20, 21, 22) toan tính diễn tả bằng những từ ngữ và hình ảnh thường lấy lại giáo huấn của các ngôn sứ, dự định lớn lao của Thiên Chúa là ở với loài người, trong một thế giới được giải thoát khỏi mọi tội lỗi.

1. Trời mới đất mới:

Cuộc xử án đã xảy ra; sự ác đã bị tiêu diệt; trời cũ đất cũ chứng kiến tội lỗi đã biến mất để nhường chỗ cho trời mới đất mới. Sự Dữ không còn nữa trong cuộc tạo dựng mới này được chỉ ra: “không còn biển nữa”; theo quan niệm thời xưa, biển là nơi cư ngụ của các thủy quái nguyên thủy, các quyền lực sự dữ.

Đề tài về cuộc tạo dựng mới vào thời cánh chung thường hằng trong các sách khải huyền Do thái. Đề tài này xuất xứ từ các ngôn sứ, nhất là ngôn sứ I-sai-a đệ tam: “Này đây Ta sáng tạo trời mới đất mới, không còn ai nhớ đến thuở ban đầu và nhắc lại trong tâm trí nữa…Phải, này đây Ta sẽ tạo Giê-ru-a-lem nên nguồn hoan hỷ và dân ở đó thành nỗi vui mừng…Nơi đây, sẽ không còn nghe thấy tiếng khóc kêu la” (Is 65: 17-19).

Vị ngôn sứ viết sấm ngôn này chẳng bao lâu sau năm 538 trước Công Nguyên, năm đã chứng kiến một đoàn người lưu đày đông đảo hồi hương trở về Giê-ru-sa-lem. Ấy vậy, vào lúc đó, Giê-ru-sa-lem không còn Đền Thờ, Đền Thờ đã bị tàn phá bởi các đạo quân Ba-by-lon vào năm 587 trước Công Nguyên. Vị ngôn sứ đọc thấy ở đây một dấu chỉ: Thiên Chúa dự định đổi mới và ông mô tả một thành thánh Giê-ru-sa-lem lý tưởng. Trong viễn cảnh cận kề, vị ngôn sứ nghĩ đến cuộc tái thiết Thành Thánh từ những hoang tàn đổ nát; nhưng lời sấm vượt qua bên kia lịch sử hiện thời mà trở thành sứ điệp cánh chung. Đây là nét đặc trưng của ơn linh hứng ngôn sứ.

Khi thánh Gioan viết sách Khải Huyền của mình, hoàn cảnh cũng tương tự: Giê-ru-sa-lem đã bị các đạo quân Rô-ma triệt hạ và Đền Thờ bị tàn phá (năm 70 sau Công Nguyên). Lịch sử ở đây vẫn còn là dấu chỉ.

2. Thánh Thánh Giê-ru-sa-lem mới:

Thánh Thánh Giê-ru-sa-lem mới xuống từ trời, vì Thánh Thánh là dấu chỉ sự hiện diện của Thiên Chúa, như thánh thánh Giê-ru-sa-lem lịch sử trên trần thế đã là. Thiên Chúa sắp canh tân Giao Ước của Ngài với dân Ngài: Giê-ru-sa-lem trang điểm như tân nương sửa soạn đón tân lang, nhưng lần này, trong niềm vui vĩnh viễn: “Sẽ không còn sự chết; cũng chẳng còn tang tóc, kêu than và đau khổ nữa, vì những điều cũ đã biến mất!”.

Thành Đô Giê-ru-sa-lem tương lai sẽ là Thành Đô của Thiên Chúa và Thánh Đô của con người:“Đây là nơi Thiên Chúa ở cùng nhân loại. Người sẽ ở cùng họ. Họ sẽ là dân riêng của Người, còn chính Người sẽ là Thiên-Chúa-ở-cùng-họ”. Đây là kiểu nói Giao Ước được mượn ở Lv 26: 11-12: “Ta sẽ đặt chỗ ở của Ta ở giữa các ngươi…Ta sẽ là Thiên Chúa của các ngươi, còn các ngươi sẽ là dân của Ta”. Chúng ta cũng gặp thấy ở Dcr 8: 8: “Ta sẽ dẫn chúng về, cho cư ngụ ở giữa Giê-ru-sa-lem. Chúng sẽ là dân của Ta; còn Ta, Ta sẽ là Thiên Chúa của chúng”. Thành Đô Giê-ru-a-lem tương lai sẽ là Giáo Hội hoàn vũ.

3. Thiên Chúa ở cùng nhân loại:

“Thiên Chúa ở cùng họ” là danh xưng “Em-ma-nu-en”. Đó là sự hoàn tất Lịch Sử Cứu Độ, đó là dự định của Thiên Chúa khi sáng tạo con người, đó là hình ảnh về thiên đàng địa giới ở đó Thiên Chúa đàm đạo với con người. Cái trở ngại là tội lỗi. Nhưng Con Chiên bị sát tế đã chiến thắng Xa-tan, ý định của Thiên Chúa được thực hiện vĩnh viễn. Kinh Thánh bắt đầu với thị kiến về vườn Địa Đàng và kết thúc với thị kiến về Thành Đô Giê-ru-sa-lem mới; như vậy, Kinh Thánh được hoàn tất ở nơi khởi điểm của mình.

TIN MỪNG (Ga 13: 31-35)

Các nhà chú giải chia sách Tin Mừng Gioan thành hai phần: phần thứ nhất (từ chương 1 đến chương 12) được gọi “Sách Các Dấu Chỉ”, phần thứ hai (từ chương 13 đến chương 21) được gọi “Sách Vinh Quang”. Bản văn chúng ta đọc hôm nay thuộc về Sách Vinh Quang.

Vinh quang của Đức Giê-su chính là Giờ Ngài “phải bỏ thế gian mà về với Chúa Cha” và Giờ Ngài sắp làm chứng cho những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian là “Ngài yêu thương họ cho đến cùng” (Ga 13: 1). Từ giờ này, sự phản bội của Giu-đa đặt cuộc Tử Nạn của Ngài vào chuyển động. Đoạn văn này được trích từ phần đầu của bài Diễn Từ Từ Biệt của Chúa Giê-su cho các môn đệ trước khi Ngài bước vào cuộc Tử Nạn của mình.

1. Bữa Tiệc Ly. Giu-đa ra đi:

Chúa Giê-su đồng bàn với các môn đệ lần sau cùng, trong đó Ngài báo trước cho họ “một người trong họ sẽ phản bội Ngài”. Bữa ăn chưa chấm dứt khi Giu-đa ra đi. Chúa Giê-su cảm thấy như trút đi một gánh nặng; Ngài sắp nói những lời từ biệt với các môn đệ Ngài và trao gởi những lời tâm huyết của Ngài cho các ông mà không có sự hiện diện của Giu-đa.

Việc Giu-đa ra đi báo hiệu cho Đức Giê-su rằng cuộc Tử Nạn của Ngài chắc chắn không thể nào tránh khỏi, nhưng đó cũng là giờ vinh quang: “Giờ đây, Con Người được tôn vinh, và Thiên Chúa cũng được tôn vinh ở nơi Ngài”. Từ “tôn vinh” được lập đi lập lại nhiều lần trong hai câu này đem lại cho lời nói của Chúa Giê-su một dấu nhấn của sự chiến thắng. Những đối thủ của Ngài và kẻ tòng phạm của họ tưởng rằng mình chiến thắng, trái lại, Thiên Chúa sắp “được tôn vinh nơi Con Một của Người và đến phiên mình Thiên Chúa sẽ tôn vinh Con của Người”.

Chúng ta đang ở giữa lòng “Thần Học Vinh Quang” của Tin Mừng Gioan: Chúa Giê-su thực hiện những công việc của Chúa Cha và mặc khải vinh quang của Chúa Cha. Đỉnh cao kế hoạch của Thiên Chúa là cứu độ con người mà Chúa Giê-su thực hiện qua cuộc Tử Nạn của Ngài. Trong Tin Mừng Gioan, thập giá là nơi Chúa Con được tôn vinh: vinh quang của Chúa Con và vinh quang của Chúa Cha là hai khía cạnh của cùng một mầu nhiệm tình yêu.

2. Huấn lệnh yêu thương:

Chúa Giê-su sắp làm chứng về một tình yêu, yêu cho đến cùng này. Ngài làm cho tình yêu tận mức này thành di chúc của Ngài: “Hỡi anh em là những người con bé nhỏ của Thầy, Thầy còn ở với anh em một ít lâu nữa thôi”. Lời xưng hô đầy trìu mến thân thương này là độc nhất trong Tin Mừng Gioan. Mối cảm xúc dâng trào tận đáy lòng của Chúa Giê-su, tâm tình yêu mến này nối kết Ngài với các môn đệ Ngài, tất cả đều được bộc lộ ở nơi những lời trìu mến này. Chúa Giê-su ngỏ lời với các môn đệ Ngài như một người cha trước khi nhắm mắt lìa đời trao gởi những ước nguyện sau cùng của mình cho các con và chỉ ra những quy luật xử thế mà ông muốn thấy các con thân yêu của mình hành xử với nhau: “Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em”.

Điều răn mới này cốt là điều gì? Người ta đọc từ lâu trong sách Lê-vi: “Ngươi phải yêu thương đồng loại như chính mình” (Lv 19: 18). Diễn ngữ “Anh em hãy yêu thương nhau” được gặp thấy trong giáo huấn của các kinh sư, đặc biệt trong giáo huấn của kinh sư Hillel danh tiếng. Nhưng Chúa Giê-su cho các môn đệ Ngài một điều răn mới, mới đến mức không thể nào đo lường được, tình yêu của nó không còn quy chiếu đến chính mình (như trong sách Lê-vi), nhưng đến tình yêu vô tận của Thiên Chúa, Đấng sắp hiến dâng trọn vẹn mạng sống mình: “như Thầy đã yêu thương anh em”.

Điều răn này còn mới theo cách khác nữa: nó làm thay đổi cuộc sống xã hội: thực hành đức ái huynh đệ sẽ làm chứng trước thiên hạ rằng người Ki-tô hữu trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Ki-tô. Đức ái rạng ngời này sẽ là dấu chỉ cho thấy Đức Giê-su vẫn tiếp tục hiện diện ở giữa loài người.


Bài 3. Chú giải của Noel Quesson

Từ đây cho đến hết Mùa Phục sinh, chúng ta sẽ đọc một số trích đoạn “cuộc nói chuyện cuối cùng của Đức Giêsu” vào chiều Thứ Năm Thánh, hôm trước ngày Người “ra đi”: đó là di chúc tinh thần của Ngài.

Khi Giuđa đi rồi, Đức Giêsu nói

Ta có cảm tưởng rằng, Đức Giêsu được tự do, Người có thể bắt đầu bày tỏ một số tâm sự… như thể sự hiện diện của kẻ phản nộp đã bít cứng cổ họng Người, khiến không có dịp thốt nên lời.

Khi chúng ta nghĩ đến những nỗi cô đơn thương đau, những khó khăn trong mối quan hệ, những tình trạng chặn nghẽn tâm lý, đôi khi ngăn cản chúng ta không thể nói hết những gì’ cần phải diễn tả… lúc đó ta hãy nghĩ đến Đức Giêsu, vì trong thân phận con người, Người đã thấu cảm những tình huống đau thương như thế.

Khi chúng ta chịu đựng những xung đột giữa người đời, trong các nhóm, những chống đối và hiểu lầm… chúng ta hãy nghĩ đến Đức Giêsu, vì Người cũng đã chịu đựng những điều như thế. Chiều hôm đó, bầu khí trong nhóm đang tụ tập chung quanh bàn ăn với Người, trở nên bi thiết: một người trong họ vừa bước ra ngoài… để phản bội nhóm. Đó là thái độ quá quắt của kẻ “không có, tình yêu”: tố cáo bạn hữu, ruồng bỏ một người mà mình đã trải qua nhiều năm tháng kết tình kết nghĩa.

Đức Giêsu không phải là không có khả năng thông cảm mọi khó khăn của ta. Người đã sống những khốn khó đó.

Giờ đây, Con Người được tôn vinh, và Thiên Chúa cũng được tôn vinh nơi Người. Nếu Thiên Chúa được tôn vinh nơi Người, thì Thiên Chúa cũng sẽ tôn vinh Người nơi chính mình, và Thiên Chúa sắp tôn vinh Người.

Đức Giêsu luôn hoàn toàn thanh thản. Trong tình trạng nguy kịch phải đường đau, Người vẫn giữ được một sự bình an siêu phàm. Lạy Chúa, xin ban cho chúng con sự bình an đó.

Sự bình an của Đức Giêsu được diễn tả trong một câu nằm giữa hai phó từ: giờ đây… sắp sửa. Những động từ ở đầu câu thuộc thời hiện tại (nhằm diễn tả một tình trạng bất định theo tiếng Hy Lạp, nghĩa là thời gian của “các vật chưa hoàn tất”), và những động từ ở cuối câu thuộc thời tương lai. Toàn thể một thái độ tinh than tiềm ẩn đằng sau cấu trúc ngôn ngữ trên. Trong giây phút hiện tại, giây phút đầu tiên của cuộc Thụ Khổ mà Giua đã mở ra… Đức Giêsu đã nghĩ đến kết quả của tiến trình sắp được thể hiện qua biến cố Phục sinh. Như thế, niềm hy vọng đã giúp ta cảm thấy trước những gì vẫn còn ở trong tương lai! “Tôi nghĩ rằng: những đau khổ chúng ta chịu bây giờ sánh sao được với vinh quang mà Thiên Chúa sẽ mạc khải nơi chúng ta” (Rm 8,18). Cũng như Đức Giêsu, ngay từ bây giờ, giữa đau khổ hiện tại, tôi có thể đã nếm cảm được thứ hạnh phúc vô biên đó, sẽ được thể hiện cách trọn vẹn, mãi mãi nhưng muộn hơn, sau này.

Giờ đây, Con Người được tôn vinh và Thiên Chúa cũng được tôn vinh nơi Người.

Chúng ta trở lại mạc khải đáng ngạc nhiên trên đây, khiến ta có dịp bước sâu vào “nội tâm của Đức Giêsu. Tiến trình cuộc Thương khó vừa mới được mở ra, do thái độ bước ra ngoài của “kẻ trao nộp Đức Giêsu”. Do đó, ngay tức khắc, đối với Đức Giêsu, vinh quang của Người đã hiện ra rồi! Đó là sự thực. Thật là khó khăn chúng ta mới tin được rằng, thập giá đã là vinh quang của Đức Giêsu. Chúng ta có khuynh hướng dễ khóc thương trong Ngày Thứ Năm, Thứ Sáu Thánh dù rằng ngay sau đó phải vội bỏ qua để sống niềm vui rộn rã của Chúa nhật Phục sinh. Thế nhưng, chính “Đấng chịu đóng đinh” đã được tôn vinh và làm vinh quang Thiên Chúa? Đến khi nào ta mới hết coi thập giá như một vật ghê tởm, cần phải tìm hết cách thủ tiêu? Thực sự, nhìn theo quan điểm của Đức Giêsu, thập giá của Người, chính là vinh quang của Người? “Không có tình yêu nào lớn hơn” (Ga 15,13). Tuy nhiên, kẻ yêu thương, theo kinh nghiệm, luôn biết rằng, tình yêu thương dẫn đến hy sinh bản thân cho người mình yêu mến. Còn kẻ chỉ biết yêu bản thân mình, sẽ không thể hiểu được.

Bạn có muốn biết mình thương yêu người nào không?

Bạn hãy tự hỏi xem bạn có thể hiến thân mình cho họ vì yêu thương không. Nhưng coi chừng, một giọng nói lừa đảo của thế giới hiện đại sẽ trấn an bên tai bạn rằng, hiến thân như thế là lầm to, bạn sẽ thành nạn nhân, sẽ mất nhân vị, bạn phải nghĩ đến mình một chút; để cho đời thêm tươi.

Hỡi anh em là những người con bé nhỏ của Thầy, Thầy còn ở với anh em một ít lâu nữa thôi

Đó là những lời đầy âu yếm, những lời nói của người mẹ. Trong tất cả các Tin Mừng, đây là lần duy nhất Đức Giêsu dùng kiểu xưng hô: “Hỡi các con bé nhỏ của Thầy…”

Đức Giêsu phải ra đi. Người biết rõ điều đó. Người đã phát biểu thành lời. Nhưng thật đáng tiếc, Sách Bài đọc đã cắt bỏ một câu như sau: ‘Anh em sẽ tìm kiếm Thầy, nhưng như Thầy đã nói với người Do Thái: Nơi tôi đi, các ngươi không thể đến được’, bây giờ Thầy cũng nói với anh em như vậy”. Thế giới ngày nay đang đặt nặng vấn đề sự vắng mặt hiển nhiên của Thiên Chúa. Đức Giêsu biết rằng, buổi chiều mà Người đang sống với các bạn hữu của mình là buổi chiều cuối cùng. Người sắp để họ ở lại một mình, không có sự hiện diện của Người cách hữu hình, nhân loại, cụ thể… nhưng rất hữu ích? Sẽ có thời gian vắng mặt. Nhưng rõ ràng, Đức Giêsu muốn nói lên điều gì về vấn đề này. Chúng ta hãy lắng nghe tiếp.

Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau

Đức Giêsu phải ra đi. Nhưng Ngài loan báo cách hiện diện mới mẻ của Ngài. “Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy. Cha của Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha của Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy” (Ga 14,23). Và thánh Gioan quảng diễn như sau: “Nếu chúng ta yêu thương nhau, thì Thiên Chúa ở lại trong chúng ta” (1 Ga 4,12).

Vâng, tình yêu đích thực là một “sự hiện diện thực sự” của Thiên Chúa. “Ở đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy, thì có Thầy ở đấy, giữa họ”. Đức Giêsu hiện diện giữa những người cùng nhau cầu nguyện (Mt 18-20). Những gì các người đã làm (cho ăn, cho mặc, viếng thăm, săn sóc) cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta, là “các ngươi đã làm cho chính Ta vậy”. Đức Giêsu luôn hiện diện trong mọi người đang cần đến tôi và tôi đang phục vụ (Mt 25,31-46).

Nếu thực là thế! Nếu thực là “Thiên Chúa đã chết”, thì sự vắng mặt của Thiên Chúa trong thế giới hiện tại chỉ là hiện tượng tình yêu đã chết”. Nhưng hãy để ý, vì tiếng nói lừa dối của thế giới hiện đại không ngừng thay đổi giọng điệu với ta, qua những làn phát sóng, trong mọi thứ quảng cáo. Người ta chỉ bàn luận, chỉ ca ngợi “tình yêu”. Nhưng là thứ tình yêu nào chứ? Éros hay Agapè, “tình yêu bản thân” hay “tình yêu kẻ khác”? tình yêu là từ hàm hồ nhất, giả dối nhất. Khi bạn nói: “Tôi thích kẹo cao su!”… bạn có thích nó thực sự hay bạn tiêu huỷ nó nhằm lợi ích cho bạn? Khi bạn yêu một người nào đó, bạn có yêu họ theo cách đó… nghĩa là chỉ vì bạn hay vì họ? Ngôn ngữ Hy Lạp ít hàm hồ hơn, vì có hai từ khác biệt nhau để diễn tả hai thực tại yêu thương đối nghịch nhau:

-Éros: Yêu mình… đó là tình yêu lợi dụng kẻ khác đến huỷ hoại họ.

-Agapé: Yêu tha nhân… đó là tình yêu sẵn sàng hy sinh cho kẻ khác.

Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em.

Chỉ một từ “như” đơn giản… nhưng đã vạch trần mọi hình thức tình yêu giả tạo của chúng ta dễ dàng lặp đi lặp lại.

Yêu như Đức Giêsu! Đó là quỳ gối xuống rửa chân cho anh em mình, một cử chỉ phục vụ thấp hèn nhất (Ga 13,14). Đó là việc Đức Giêsu vừa làm. Yêu như Đức Giêsu! Đó là “hiến mạng sống cho kẻ mình yêu thương” (Ga 10,11-15,13). Đó là điều Người sáp thực hiện, vào ngày mai, trên thập giá.

Đức Giêsu nói với thánh nữ Angèle de Foligno: “Việc cha yêu con, đâu phải trò đùa”. Tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta đã dẫn Người đến thái độ hoàn toàn từ bỏ bản thân mình.

Để yêu tha nhân đúng như con người, và nhận biết họ trong chính sự “khác biệt” của họ, chúng ta cần từ bỏ quan niệm coi mình là trung tâm mọi giá trị. Đối với Thiên Chúa, tình yêu tha nhân đã dẫn Đức Giêsu chấp nhận thập giá Thiên Chúa đã yêu thương con người đến nỗi yêu thương họ, trong cả khả năng thụ tạo nhầm lẫn của họ. Khả năng đó, “kẻ khác” đã chiếm hữu trong tự do của họ, để phủ nhận tôi, trở nên một địch thù với tôi, và kết án tử hình tôi!

Đối với Đức Gỉêsu, tình yêu không phải là cái gì cứ lặp đi lặp lại cách dễ dàng và nhàm chán đến độ vô nghĩa. Mọi người xem ra đều nói đến yêu thương. Thế mà, Đức Giêsu quả quyết, giới răn của Người thì mới mẻ. Phải, yêu như Đức Giêsu hẳn là phải rất độc đáo, rất mới lạ. Đó là một thứ luân lý mới. Người ta không khi nào biết được nơi mà tình yêu đó dẫn bạn tới.

Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: là anh em có lòng yêu thương nhau

Chỉ có ba dòng Tin Mừng, mà Đức Giêsu đã ba lần lặp lại điệp khúc: Yêu thương nhau. Sự lặp lại rất có ý nghĩa. Nhờ đó, Người đã gợi lên ba lý do bổ sung cho nhau, khiến chúng ta phải yêu thương.

1. Đó là lệnh truyền của Đức Giêsu: “Thầy ban cho anh em một điều răn mới”.

2. Đó là gương mẫu của Đức Giêsu: “Yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em”.

3. Sau cùng, đó là dấu chỉ Đức Giêsu: “Người ta sẽ nhận biết anh em nhờ tình yêu…”.

Như thế, Đức Giêsu thực sự mời gọi các môn đệ tiếp tục sứ vụ của Người, lúc Người rời bỏ thế gian. Tình yêu huynh hệ là “thể thức” thực sự, giúp Đức Kitô tiếp tục hiện diện suốt dòng “Thời gian cuối cùng”, mở đầu bằng cài chết của Người. Gioan đã không thuật lại việc lập phép Thánh Thể, như ta mong đợi. Nhưng bù lại, ông đã tường thuật việc rửa chân ” và trao ban “giới răn mới quan trọng” như thể dưới mắt ông, Tình yêu là một tái diễn sự Hiện Diện đích thực của- Đức Kitô, cũng thực sự và hữu hiệu, như dấu chỉ hữu hình., của Bí tích Thánh Thể. Nhằm bổ sung những gì mà các thánh sử khác không nói đến, có thể nói thánh Gioan đã giảm thiểu tính thiêng thánh của nghi thức, để đề cao nội dung hơn”. Theo thánh Mát-thêu, Máccô và Luca, Đức Giêsu nói: “Này là Mình Thầy sẽ bị nộp, và Máu Thầy sẽ đổ ra”. Còn theo Gioan, Đức Giêsu đã nói: “Thầy rửa chân cho anh em, Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em”. Nhưng, đó cũng chính là “sự hiện diện” có tình nghi thức và thực sự. Có một điều gì đó chất vấn mạnh mẽ các Kitô hữu khi tham dự thánh lễ. Dấu chỉ mà người ta nhận ra môn đệ Đức Giêsu không chỉ là Thánh lễ. “Ở điểm này, mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy: là anh em có lòng yêu thương nhau”.

Nhờ những điều kiện nào, để người ngoài Kitô giáo có thể đọc được dấu chỉ này? Làm sao dấu chỉ này chỉ dành riêng cho những giây phút các Kitô hữu quy tụ giữa bốn bức tường của Giáo hội? Chắc chắn Đức Giêsu đã nói đến một dấu chỉ được trao gởi trong đời thường: đó là dấu chỉ duy nhất mà “mọi người” có thể nhìn thấy. Trong những điều kiện đó, chúng tá của Kitô hữu chỉ có thể được nhận biết nếu chúng ta quan tâm đến những trách nhiệm lớn lao của thế giới hiện nay: công lý, hoà bình, đói khổ, phẩm giá con người. Bí tích Thánh Thể sẽ “dẫn” chúng ta tới phố xá, các văn phòng làm việc, những nẻo đường đời, tới trường lớp và đại học ta đang theo đuổi tới mọi nơi ta đang phục vụ”.


Bài 4. Chú giải của Fiches Dominicales:
GIỚI RĂN MỚI: “CÁC CON HÃY YÊU THƯƠNG NHAU NHƯ THẦY ĐÃ YÊU THƯƠNG CÁC CON”.

VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:

1. Tiếng hô thắng trận.

Nằm ở giữa việc Đức Giêsu rửa chân và diễn từ sau tiệc ly, trong đó, nhiều ý tưởng lớn được Đức Giêsu đề cập đến, đoạn Tin Mừng này bắt đầu, ngay khi Giuđa vừa đi khỏi, bằng tiếng hô thắng trận của Đức Giêsu: “Giờ đây, Con Người được tôn vinh, và Thiên Chúa cũng được tôn vinh nơi Người”. X. Léon-dufour chú giải: “Từ lúc này trở đi, Đức Giêsu thấy cái chết đã theo ngay sau Người, Người cảm thấy được Thiên Chúa tôn vinh độc giả cũng phải sống viễn cảnh và lắng nghe Đức Kitô vinh quang lên tiếng”

Tác giả đoạn chú giải vừa rồi viết tiếp: Từ “giờ đây” đánh dấu một thời điểm. Nó diễn tả một xác tín thuở đầu. Phục sinh xác nhận một giai đoạn mới. Vượt qua cái chết, “Giờ đây”, Đức Giêsu bước vào một khúc rẽ nhiệm mầu, bỏ lại sau những điều kiện bình thường của con người bị lệ thuộc vào thời gian, nghĩa là hiện tại chỉ phát xuất từ một quá khứ và hướng tới một tương lai mờ mịt. Từ giờ trở đi, hiện tại của Đức Giêsu là một hiện diện vĩnh cửu trong vinh quang Thiên Chúa”. (“Lecture de L’Evangile se lon saint Jean, quyển III, Seuil, trg 50-51)

2. Từ “như” chỉ một cội nguồn.

Người ta thường trích lời Đức Giêsu: “Các con hãy thương yêu nhau”, nhưng lại hay bỏ nửa sau “như Thầy đã yêu thương các con”. Và nhiều người coi từ “như” này như một liên từ so sánh: các môn đệ được kêu gọi để bắt chước sự xử thế của Thầy mình.

Nhưng, liên từ “như” này của bản văn Tin Mừng không chỉ biểu thị sự so sánh, mà còn biểu thị nguồn gốc của tình yêu mà Đức Giêsu đòi hỏi nơi các môn đệ mình. Có thể diễn dịch: “Các con hãy yêu thương nhau, theo như Thầy đã yêu thương các con”, hoặc… “Các con hãy yêu thương nhau… vì Thầy đã yêu thương các con để các con yêu thương nhau như Thầy”. Hoặc “Các con hãy thương yêu nhau bằng tình yêu mà Thầy đã yêu thương các con.” X. Léon-dufour chú giải: “Tình yêu của Chúa Con đối với các môn đệ làm phát sinh lòng bác ái nơi các ông. Chính tình yêu của Người lưu chuyển đến họ làm cho họ yêu thương anh em, và họ được mến yêu. Tình yêu của Đức Giêsu triển nở nơi các tín hữu mang dấu ấn tình yêu Chúa Cha”. (sđd, trg 82-83).

3. Tính cách mới mẻ của giới luật yêu thương.

Yêu đồng loại. Cựu ước đã biết đến đòi hỏi này. Các triết gia ngoại giao trước Đức Giêsu đã rao giảng tình yêu tha nhân, cả đến tình yêu đối với thù địch.

Thế thì, tính cách mới mẻ trong giới răn yêu thương huynh đệ của Đức Giêsu là gì? điều mới mẻ này chính là nơi bản chất của tình yêu huynh đệ mà các môn đệ Đức Giêsu thể hiện: đó là tình yêu của chính đức Giêsu thể hiện nơi họ. X. Léon-dufour kết luận: “Một kỷ nguyên mới đã khởi đầu. Qua các môn đệ của Chúa Con mà tình yêu mạc khải từ nay hiện diện trong nhân loại… tình yêu nhau giữa các môn đệ sẽ tỏ bày cho mọi người, nghĩa là cho cả những người lân cận chưa tin – họ thuộc về Đức Kitô và nhờ Người mà nhân loại vượt qua cái chết để tới sự sống” (Sđd, trg 84-85).

BÀI ĐỌC THÊM:

1. Hãy làm cho giới luật yêu thương sáng lên

Từ nay, qua việc chăm sóc người bất hạnh, người nghèo, Giáo Hội và các cộng đoàn tỏ bày tình thương của Thiên Chúa đối với con người và đồng thời tỏ bày ý hướng cứu rỗi họ. Phải, Giáo Hội đã nhận lãnh sứ mệnh đem vào hiện hữu và lịch sử con người một luật có khả năng làm sống động nhân loại bằng chính sự sống của Thiên Chúa. Luật ấy là thế này: Hãy thương yêu nhau như Thầy đã yêu thương các con. Thiên Chúa biết thời đại chúng ta đang kêu gào lớn tiếng một luật sống khác với luật sống của máu lửa, sắt thép đang huỷ diệt khắp chốn. Hãy biết khiêm tốn để làm sáng lên trong đời chúng ta, trong nhiệm vụ của chúng ta, trong gia đình, cơ quan, nơi vui chơi giải trí, trong lãnh vực kinh tế, chính trị, một chút gì đó của giới luật yêu thương.

2. Tình yêu-bác ái. lời giảng đầu tiên của việc Phúc Âm hoá

Chỉ vương quyền bác ái mới có thể thay đổi thế giới, mới biến hận thù thành yêu thương, chiến tranh thành hoà bình. Chỉ “hãy yêu thương nhau như Thầy đã thương yêu các con” mới có thể tạo lập một mẫu người và xã hội huynh đệ. Bác ái không thể định nghĩa được bằng ngôn từ cảm tính hay sùng mộ. Olivier Clément viết: Bác ái “không phải là đường mà là muối “. Ngôn từ của bác ái “không phải là bạc nhược, nhưng là tự chủ và dũng cảm”. Thế giới này nghĩ bác ái là điều khó và thậm chí không thể thực hiện được. Bác ái đích thực không tránh né bạo lực, mà là chuyển đổi nó thành sự phấn đấu trong cuộc sống, là tạo lập Công bình và Thẩm Mỹ.

Tình yêu, bác ái là công trình của lòng tin, là dấu chỉ hữu hình và cần thiết để chứng tỏ sự thuộc về Đức Kitô Phục sinh. Nó là lời giảng đầu tiên của việc Phúc âm hoá, là sự hiện diện trước tiên có thể cảm nhận được của Đức Kitô.

Nền văn minh tình yêu là một mầm cây được trồng nơi thửa đất gọi là Giáo Hội, là đầu cầu dẫn vào vương quốc, với điều kiện là trước hết, các Kitô hữu phải tập và có kinh nghiệm yêu thương nhau, rồi mới có thể yêu thương mọi người.

Tình yêu, bác ái là năng lực vô song làm cho con người và xã hội có được sức sống mới. Cuộc viếng thăm một hội đường Do Thái ở Rôma của Đức Giáo Hoàng đã nhắc nhở chúng ta điều này. Công cuộc giải phóng của Kitô giáo phải hoàn toàn được hướng dẫn bởi tính năng động của giới luật yêu thương vĩ đại này.

Bài 5. Chú giải của Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt: “ĐIỀU RĂN MỚI” (Ga 13,31-33a.34-35)

1. Khi Giuda ra khỏi nhà tiệc ly, có lẽ sau lúc rửa chân và trước khi thiết lập phép Thánh thể, Chúa Giêsu nói: “Bây giờ con người đã được tôn vinh và Thiên Chúa đã được tôn vinh nơi Ngài”. Thốt lên những lời tuyên bố buồn bã về một người trong nhóm 12 sẽ phản bội, câu nói ấy, đối với các tông đồ, vang lên như một bài ca khải hoàn. “Bây giờ” là lúc cuộc xung đột giữa Chúa Giêsu và satan, mà Giuda là dụng cụ (x.13,37), vừa thực sự bùng nổ qua việc tên phản bội quyết tâm ra đi thi hành dự tính của mình; “bây giờ” là lúc Chúa Giêsu đối diện với “giờ” của Ngài, Giờ mà vì đó Ngài đã đến trong thế gian và không ai có quyền cho xảy ra sớm hơn hay trễ hơn (7,30; 8,20; 12, 23-27; 13,1; Dt 10,3-7; Lc 13,3-33). Cho đến khi ấy, đời Chúa Giêsu chỉ là một chuẩn bị, “bây giờ” mới bắt đầu thảm kịch cứu rỗi.

Nghĩ đến ơn cứu rỗi loài người và vinh quang Cha Ngài (3,15.17; 8,49-50; 10,10; 12,47), tâm hồn Chúa Giêsu cảm thấy hài lòng đến nỗi – coi cuộc khổ nạn như một thoáng qua và Thập giá như chiếc ngai vàng. Ngài đã nhiều lần chơi chữ khi dùng từ ngữ: giương cao” (exalter, hupsoun) vừa có ý nghĩa “nâng lên” (élever) và “tôn vinh” (glorifier), để cho thấy Ngài sẽ bước lên thập giá chúng ta tư thế một kẻ chinh phục (3,14; 8,28; 12,32-34; 12,23.24). Ngài thâm tín sẽ tìm thấy sự sống trong cái chết và vinh quang trong ô nhục đến nỗi nói về sự vinh hiển của Ngài như là một điều gì đã hoàn tất: “Con người sẽ được tôn vinh ”. Thì quá khứ này, để diễn tả một việc sẽ xảy ra, có thể giải thích dễ dàng nhờ lòng tin tưởng tuyệt đối của Đức Kitô vào hiệu quả chương trình của Chúa Cha hơn là nhờ các hậu kết bất khả kháng gây ra do việc Giuda phản bội.

Có lẽ đừng nghĩ đến các chứng tá Chúa Cha đã ban cho Con Ngài thì đặt trong viễn cảnh đó thì câu nói đến việc Chúa Giêsu đã tôn vinh Chúa Cha bằng cách chu toàn bổn phận khi còn sống (4,34; 17,4), bằng việc mạc khải Chúa Cha (17,6) và vinh quang của Người (2,11; 11,4.40; 17,4), qua lời nói (1,18; 3,32-34; 5,24.38.47; 6,45.63; 7,16; 8,38.40-47.55…) và hành động (3,21; 5,19-20.30.36; 8,28; 9,3.4; 10,25.32.37.38; 14,10-11; 15,24). Nhưng chữ “bây giờ” bắt đầu câu 31 cho thấy một cái gì mới mẻ vừa khởi phát với việc Giuda bội phản: cuộc khổ nạn – phục sinh của Chúa Giêsu được xem như sự tôn vinh tuyệt hảo nhất, và sự tôn vinh tột bực này một cách nào đó đã được chiêm ngắm trong ý nghĩa thần học của nó. Như thể đã được thực hiện trong mầm mống qua việc phản bội của Giuda. Để xác quyết điều này, chỉ cần nhớ lại chứng tá Chúa Cha vài ngày trước đó: “Ta đã tôn vinh danh Ta và Ta sẽ còn tôn vinh danh Ta nữa” (12,28). Trong trường hợp này, chính Chúa Giêsu đã tuyên bố đã đến giờ Con Người sắp được tôn vinh; hiển nhiên đây là lời tiên báo trực tiếp vào cuộc khổ nạn Ngài sắp chịu và vinh quang Ngài sắp lãnh nhận (12,23-25).

Chính Chúa Giêsu ở đây đã có ý tự xưng là “Con Người”. Mặc dù vẫn có nghĩa thiên sai như trong các phúc âm tước hiệu này dưới ngòi bút của Gioan, mang một ý nghĩa chính xác hơn. Trong mười đoản văn mà chúng ta gặp nó luôn luôn trên miệng Đức Kitô, tước hiệu “Con Người” đã ám chỉ đến vinh quang đang chờ đợi Ngôi lời nhập thể, để đáp lại việc Ngài hạ cố làm thân phận con người, dù là con người tuyệt hảo hơn hết. Và trong 4 lần, tước hiệu này trực tiếp ám chỉ đến sự vinh hiển nhờ thập giá (1,51; 3,13.14; 5,27; 6,27; 6,54.63; 8,28; 12,23; 13,31).

Nếu Đức Kitô đã được tôn vinh, chính là vì “Thiên Chúa đã được tôn vinh nơi Ngài”. Mọi việc con người phụng sự Thiên Chúa sẽ trở lại với con người dưới dạng thức vinh quang. Đó là luật, luật này trước tiên liên hệ đến Đức Kitô, và vì thế “Thiên Chúa cũng sẽ tôn vinh Ngài (Đức Kitô) trong chính mình Người (Thiên Chúa)”. Nghĩa là gì? Nghĩa là Ngài sẽ ban vinh quang thuộc về Ngài, khi đón nhận Ngài “trong chính Người”. Con Người sẽ được thông phần vào các đặc quyền của sự sống thần linh, các đặc quyền mà Ngài sẽ nhắc tới trong lời nguyện: “Con đã tôn vinh Cha dưới đất, đã chu toàn công việc Cha giao phó cho Con làm. Và bây giờ xin Cha tôn vinh Con nơi Cha trước khi có thế gian” (17,4-5). Ở đây có sự đối chiếu giữa tình trạng của Đức Kitô lúc còn ở “dưới đất” và tình trạng “trên trời” mà Ngài xin cho được. Từ đó ta hiểu tại sao nói “Con Người” và “Thiên Chúa” thay vì nói Con và Cha. Đúng ra Chúa Con đã bao giờ mất vinh quang đã có ở Chúa Cha ngay trước khi tạo dựng vũ trụ; nhưng nhờ sự vinh hiển mà Đức Kitô đạt được cho nhân tính mình, Thiên Chúa đã nâng con người lên chính Ngai của Thiên Chúa. Chính đấy là nơi mà từ nay các tín hữu đầy lòng tin và đạo đức sẽ tìm đến gặp Ngài. Chính từ đó mà Ngài đã mạc khải cho vị tử đạo tiên khởi của Ngài. Vị này nói khi chết: “Tôi thấy các tầng trời mở ra, và Con Người đứng bên hữu Thiên Chúa” (Cv 7,56).

Khi loan báo “Thiên Chúa sắp tôn vinh Ngài”, Chúa Giêsu ám chỉ đến chứng tá hùng hồn Chúa Cha ban cho Ngài khi cho Ngài phục sinh từ cõi chết. Ngoài ra, việc phục sinh này đối với Ngài chỉ là bước đầu tiên trong cuộc sống hiển vinh mà cuộc khổ nạn sắp đưa Ngài vào.

2. Trước khi từ giã các môn đệ, Đức Kitô đã cho họ biết ý muốn tối thượng của Ngài: “Ta ban cho các ngươi một điều răn mới là hãy yêu mến nhau. Như Ta đã yêu mến các ngươi, các ngươi cũng hãy yêu mến nhau” (c.34). Ngài nói trong tư thế một sư phụ trăn trối những lời cuối cùng trước khi ra đi (x.Mt 24,45.51), và trong tư thế một người cha hằng lo bảo đảm hạnh phúc cho con cái mà ông sắp giã từ. Nếu được chấp hành tốt, điều răn này sẽ đền bù cho các môn đệ, trong mức độ có thể, sự mất mát không còn thấy Thầy cách khả giác, và sẽ làm họ xứng đáng gặp lại Ngài. Giới luật bác ái huynh đệ mà ở đây Chúa Giêsu gọi là giới luật “mới” ít lúc nữa sẽ được Ngài gọi là “giới luật của Ngài” (15,12).

Chính nhờ giới luật mới, nên Đức Kitô mới có thể tuyên bố là của Ngài. Luật tự nhiên dạy đừng làm cho ai điều ta không muốn họ làm cho mình. Luật Môisen đã thừa nhận khoản luật tự nhiên đó, khi dạy phải yêu tha nhân như chính mình (Lv 19,18). Nhưng đối với ai người Do thái, tha nhân là anh em, đồng bào, bạn hữu mà họ cần phải sống an hoà với, không thì sẽ bất an khi cùng đi đường. Luật trực tiếp liên hệ đến người Do thái, nhưng không gạt bỏ ngoại kiều (Mt 5,43. Trong các điều kiện trên, tình yêu tha nhân có tính cách tiêu cực nhiều: tránh tất cả những gì có thể gây thù oán, báo phục. Nếu tình yêu được thể hiện cách tích cực bằng hành động, thì cũng không kém vụ lợi; tựu trung, qui tắc là yêu chính bản thân mình. Chính giáo sĩ Hiller, nhà luân lý Do thái nhân bản nhất đã hiểu như thế: “Điều chi ngươi ghét, ngươi chớ làm cho tha nhân. Chính đó là tất cả lề luật, các điều khác chỉ là lời chú giải” (Chabbath, f.31).

Để xác quyết, Chúa Giêsu đã hơn một lần nhắc lại luật căn bản của mọi tương giao xã hội (Mt 7,12; 19,19; 22,39-40), nhưng Ngài đã vượt qua luật đó, hay ít ra, đã đưa nó về lại nội dung ban đầu, khi tố giác lối chú giải hẹp hòi và cứng nhắc mà các thày ký lục đã đề ra (Mt 5,43). Không phải chỉ yêu thương bạn hữu, mà còn phải muốn điều lành cho mọi người, kể cả kẻ thù mình; bằng không, không phải là Kitô hữu (Mt 5,46-48).

Với “giới luật mới”, Chúa Giêsu còn thêm nhiều điều trong những đòi buộc của tình bác ái huynh đệ; yêu tha nhân như chính mình chưa đủ người kitô hữu phải yêu tha nhân như Đức Kitô đã yêu họ (c.34). Mà tình yêu Đức Kitô đối với chúng ta là ân cần, vô vụ lợi, tận tâm (Ga 13,13-16; 15,16.19; Rm 15,13). Ngài đã hiến mình cho loài người đến cùng, nghĩa là cho đến chết (Ga 13,1; 15,12-14). Thánh Gioan đã ghi rõ ràng: “Chính do điều này mà ta nhận ra được lòng yêu mến: là Đấng ấy (Đức Kitô) đã thí mạng vì chúng ta; nên ta cũng thí mạng vì anh em mình” (1Ga 3,16).

Giao ước mới đã được đóng ấn với máu của tác giả giao ước (1Co 11,25). Điều trong trình thuật rửa chân trước đó được giới thiệu như một việc “phục vụ”, ở đây được gọi là “tình yêu”; nhưng tựu trung chỉ có một vấn đề: hiến thân hoàn toàn, không hạn chế. Tình yêu Chúa Giêsu dành cho chúng ta là tình yêu thần linh, không chỉ vì Ngài là Thiên Chúa, vì Ngài yêu chúng ta như là tạo vật và Con Thiên Chúa (Ga 17,6.9.10); nhưng còn vì Ngài mô phỏng theo tình yêu Chúa Cha dành cho Ngài: “Như Cha yêu mến Ta, Ta cũng yêu mến các ngươi” (Ga 15,9). Nói tóm lại có nghĩa là: “Hãy yêu thương nhau, như Ta đã yêu thương các ngươi, cho đến hy sinh mạng sống; hãy yêu thương nhau như chính Thiên Chúa đã yêu Ta”.

Một khi được hiểu và thực hành như vậy, tình bác ái huynh đệ phải tạo ra giữa loài người mối hiệp nhất theo gương Thiên Chúa: “Để hết thảy chúng được nên một, cũng như, Lạy Cha, Cha ở trong Con và Con ở trong Cha, ngõ hầu chúng ở trong chúng ta” (Ga 17,21). Mà Đấng cầu nguyện như thế cũng đã nói: “Cha và Ta là một” (10,30).

Ngoài ra, Đức Kitô của Thánh Gioan ở đây không dạy điều gì khác các điều chúng ta đã học trong các phúc âm nhất lãm. Bài diễn từ trên núi tóm tắt toàn bộ lý tưởng Kitô hữu: “Các ngươi hãy nên trọn lành như Cha các ngươi trên trời là Đấng trọn lành” (Mt 5,48). Đoạn này cũng nói yêu kẻ thù là dấu chỉ phân biệt người Kitô hữu (Mt 5,46-48). Để yêu người như Chúa Giêsu muốn, phải yêu Thiên Chúa trên hết mọi sự. Vì thế vị tôn sư đã đặt tình yêu Thiên Chúa và tình yêu tha nhân một cách nào đó ngang hàng với nhau (Mt 22,39). Gioan và Phaolô, hai môn đệ Ngài, đã nhất trí dạy rằng: người yêu tha nhân là giữ trọn lề luật (1Ga 2,7-11; 3,10-11.14-16; Rm 13,9-10).

“Chính nơi điều này mà mọi người sẽ nhận ra là các ngươi là môn đệ Ta: ấy là các ngươi có lòng yêu mến nhau” (c.35). Bác ái giữa người Kitô hữu với nhau phải hiện thực và rõ ràng đến nỗi tự nó cho thấy họ là môn đệ Chúa Giêsu, ngay cả đến những người không biết gì về Kitô giáo (Ga 14,31; 17,21; 1Ga 2,7-11; 4,02-21). Tình yêu được truyền dạy ở đây chỉ có thể được hiện hữu giữa những người tin vào Chúa Giêsu Kitô. Một lần nữa, giới luật là giới luật “mới”.

Lịch sử Giáo hội sơ khai là lời chú giải tuyệt hảo nhất về câu nói đó. Luật bác ái đã được hiểu rất sớm và đã phát sinh ra nhiều hoa quả xây dựng mà Chúa mong chờ. Tác giả sách công vụ đã nói lên đặc điểm của nhóm Kitô hữu đầu tiên: “Các kẻ tin hết thảy đều coi mọi sự như của chung” (Cv 2,44). Theo chứng từ của Tertullien, người ta đã nói về họ: “Hãy xem họ thương nhau biết bao và sẵn sàng hiến mạng cho nhau chừng nào” (Apolog.39; Pl 1,53a). Sau này, những người ở ngoài sẽ gọi họ là Kitô hữu, còn họ vẫn gọi nhau là “anh em” (Cv 11,26.29). Họ ý thức việc họ được bác ái liên kết, đến nỗi đã dùng chữ “Agapê” (tình yêu) để đặt tên cho bữa ăn chung, được đó họ ăn và uống Mình, Máu Chúa (Giuda 12; Ignatiô, thơ gởi tín hữu Rm 7).

KẾT LUẬN

Trước ngày tử nạn, Chúa Giêsu đã ban luật sống mới cho môn đệ mình. Đây là một luật mới vì đặt cơ sở trên một biến cố mới, bất ngờ và điên đảo: cái chết của Chúa, và vì trong cộng đoàn nhân loại không có chi tương tự như thế. Do đó, luật sống này là đặc điểm của cộng đoàn môn đệ vừa thành lập: “chính nơi điều này mà mọi người sẽ nhận ra các ngươi là môn đệ Ta”. Và các chứng tá trong Giáo hội sơ khai chứng nhận rằng luật tình yêu này, thực sự đã được chấp hành tốt.

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1. Sau khi Giuda ra đi, Chúa Giêsu liền công bố, như thể cuộc ra đi của Giuda là dấu hiệu của một điều gì quan trọng: “Bây giờ Con Người đã được tôn vinh và Thiên Chúa đã được tôn vinh nơi Ngài”. Hãy biết rằng, trong thánh kinh, vinh quang của Thiên Chúa hay vinh quang của một người nào đó không cùng ngôn ngữ như trong ngôn ngữ chúng ta. Trong ngôn ngữ chúng ta, vinh quang có nghĩa: nổi danh, đắc nhân tâm và được tiếng tốt. Trong Thánh kinh, vinh quang chỉ phẩm cách, thế lực, ảnh hưởng hiện diện và quyền năng của nhân vật. Với ý nghĩ đó, vinh quang cao cả, cơ sở của mọi vinh quang khác, chỉ thuộc về Thiên Chúa, Đấng thông ban vinh quang như ý Ngài muốn. Trong mức độ thực hiện chương trình Thiên Chúa, mỗi người nhận được giá trị và thế lực, và lớn lên trong vinh quang.

2. Việc tìm hiểu các tự nguyện đó giúp chúng ta quán triệt ý nghĩa các lời nói của Đức Kitô. Chúa Giêsu đã được tôn vinh. Ngài chấp nhận điều Giuda phải làm. Từ đó, Ngài được vinh hiển, vì hoàn toàn chấp nhận cuộc Vượt qua bằng cái chết. Việc Ngài vâng phục thánh ý Chúa Cha làm cho Ngài được “vinh quang” và nói lên việc Người nhiệt tâm yêu mến Thiên Chúa. Đồng thời khi minh chứng mức độ tình yêu Ngài đối với loài người bằng việc trao ban Chúa Con, Chúa Cha cũng “đã được tôn vinh” trong con người Chúa Giêsu.

3. Việc phúc âm và phụng vụ nhấn mạnh đến tính cách mới mẻ của luật bác ái huynh đệ đòi buộc chúng ta xét mình xem chúng ta thực thi Luật đó đến mức nào và bằng cách nào. Nó giả thiết đức ái này tiếp nối tình yêu Đức Kitô dành cho chúng ta (“như thày đã yêu mến các con”) và tiếp nối tình yêu chúng ta đối với Chúa Giêsu (vì chính trong điều đó mà người ta nhận ra các con là môn đệ Thày…). Lòng thương cảm tự nhiên khác xa tình yêu anh em siêu nhiên mà chúng ta phải có. Yêu thương họ vì họ (trong môi trường và điều kiện sống họ đang sống) không ngăn cản việc yêu thương họ trong Thiên Chúa và trong Đức Kitô. Và ngược lại, yêu thương họ như thế không giảm bớt lòng kính trọng và tình cảm tự nhiên. Yêu cách siêu nhiên không có nghĩa là yêu cách nhạt nhẽo, hững hờ, “để được Chúa thưởng”. Nhưng là yêu người khác hết lòng, không phải vì họ dễ thương, xinh đẹp, tốt lành… nhưng là vì họ là chi thể quí giá của Chúa Giêsu, là công dân Gierusalem thiên quốc. Vì các đặc điểm trên có giá trị cho mọi người, nên phải yêu mọi người với tình yêu siêu nhiên.

4. Trong thế giới ích kỷ, bạo tàn, ham mê tiền bạc, bóc lột nghèo, người Kitô hữu phải làm sáng rực như ánh lửa, tình yêu họ đối với tha nhân, niềm cảm thông với người cùng khổ, lòng dịu và tha thứ cho kẻ nghịch thù. Nếu làm như vậy, Kitô hữu sẽ nổi bật lên giữa bao người khác. Một khi cảm nghiệm cách cụ thể tình yêu đó, thiên hạ sẽ nhận ra người Kitô hữu là môn đệ đích thật của Đức Kitô, sức nóng của tình yêu, họ sẽ được đưa dẫn về với Đức Kitô. Chỉ tình yêu mới có thể xây dựng đô thành huynh đệ loài người hằng mơ ước.

 

ChuaNhat5PSC_2

C. CÁC BÀI CHIA SẺ

Bài 1. Điều mới lạ
Trầm Thiên Thu

Con người luôn ưa thích những điều “mới”, mà điều gì mới thì thường đồng nghĩa với “lạ”. Tình trạng “mới” liên quan động thái thay đổi, từ ngoại tại tới nội tại. Người ta sửa soạn nhà cửa mỗi khi Tết đến, đó là thay đổi bề ngoài. Người ta chuẩn bị tinh thần bằng cách tĩnh tâm mỗi dịp đại lễ hoặc dịp quan trọng của đời người, đó là thay đổi bề trong. Phương diện nào cũng có tầm quan trọng nhất định và cần thiết, nhưng thay đổi nội tại là điều khó!

Thấy nhiều sự lạ, người ta gọi ông Banaba là thần Dớt, gọi ông Phaolô là thần Héc-mê, và nói hai ông là “thần linh mặc lốt người phàm”. Sau khi đã loan Tin Mừng cho thành Đéc-bê và nhận khá nhiều người làm môn đệ, hai ông trở lại Lýt-ra, I-cô-ni-ô và An-ti-ô-khi-a. Hai ông củng cố tinh thần các môn đệ, và khuyên nhủ họ giữ vững đức tin. Hai ông nói: “Chúng ta phải chịu nhiều gian khổ mới được vào Nước Thiên Chúa” (Cv 14:22). Quả thật, kinh nghiệm cuộc đời cho chúng ta biết: Không có nụ cười nào mà không có nước mắt, không có hạnh phúc nào mà không có đau khổ, không có sự thành công nào mà lại không có thất bại.

Khi hai ông vượt biển về An-ti-ô-khi-a, nơi trước đây các ông đã được giao phó cho ân sủng của Thiên Chúa để làm công việc vừa mới hoàn thành, hai ông đã “tập họp Hội Thánh và kể lại tất cả những gì Thiên Chúa đã cùng làm với hai ông, và việc Người đã mở cửa cho các dân ngoại đón nhận đức tin” (Cv 13:46-47). Tự giúp mình trước rồi trời sẽ giúp, tự làm mới chính mình rồi Thiên Chúa sẽ cho đạt mục đích.
 

Tác giả Thánh Vịnh xác nhận: “Chúa là Đấng từ bi nhân hậu, Người chậm giận và giàu tình thương. Chúa nhân ái đối với mọi người, tỏ lòng nhân hậu với muôn loài Chúa đã dựng nên” (Tv 145:8-9). Cũng vậy, ngày nay chúng ta đã quen với cách nói “Thiên Chúa giàu lòng thương xót”. Vì thế, muôn loài Chúa dựng nên phải dâng lời tán tạ, kẻ hiếu trung phải chúc tụng Ngài, và nói lên rằng: Triều đại Ngài vinh hiển, xưng tụng Ngài là Đấng quyền năng, để nhân loại được tường những chiến công của Chúa, và được biết triều đại Ngài rực rỡ vinh quang (Tv 145:10-12).

Chắc chắn không ai như Thiên Chúa, không một thần linh nào có thể so với Ngài: “Triều đại Ngài thiên niên vĩnh cửu, vương quyền Ngài vạn đại trường tồn. Chúa thành tín trong mọi lời Chúa phán, đầy yêu thương trong mọi việc Người làm” (Tv 145:13). Thiên Chúa đầy uy quyền và dũng lực nhưng lại là Thiên Chúa đầy nhân hậu và xót thương.

Chàng trai trẻ Gioan kể lại thị kiến: “Bấy giờ tôi thấy trời mới đất mới, vì trời cũ đất cũ đã biến mất, và biển cũng không còn nữa. Và tôi thấy Thành Thánh là Giêrusalem mới, từ trời, từ nơi Thiên Chúa mà xuống, sẵn sàng như tân nương trang điểm để đón tân lang” (Kh 21:1-2). Tất cả đều mới, người làm cho mới không ai khác hơn là chính Thiên Chúa giàu lòng thương xót.

Rồi Thánh Gioan nghe từ phía ngai có tiếng hô to: “Đây là nhà tạm Thiên Chúa ở cùng nhân loại, Người sẽ cư ngụ cùng với họ. Họ sẽ là dân của Người, còn chính Người sẽ là Thiên-Chúa-ở-cùng-họ. Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt họ. Sẽ không còn sự chết; cũng chẳng còn tang tóc, kêu than và đau khổ nữa, vì những điều cũ đã biến mất” (Kh 21:3-4). Tất cả đều đổi mới, từ thể lý đến tinh thần. Tuyệt vời biết bao!

Chính Đấng ngự trên ngai đã xác nhận: “Này đây Ta đổi mới mọi sự” (Kh 21:5a). Rồi Người bảo Thánh Gioan những điều quan trọng: “Ngươi hãy viết: Đây là những lời đáng tin cậy và chân thật. Xong cả rồi! Ta là An-pha và Ô-mê-ga, là Khởi Nguyên và Tận Cùng. Chính Ta sẽ ban cho ai khát được uống nơi nguồn nước trường sinh, mà không phải trả tiền. Ai thắng sẽ được thừa hưởng hồng ân đó. Ta sẽ là Thiên Chúa của người ấy, và người ấy sẽ là con của Ta. Còn những kẻ hèn nhát, bất trung, đáng ghê tởm, sát nhân, gian dâm, làm phù phép, thờ ngẫu tượng, và mọi kẻ nói dối, thì phần dành cho chúng là hồ lửa và diêm sinh cháy ngùn ngụt: đó là cái chết thứ hai” (Kh 21:5b-8).

Những lời này rõ ràng, và đồng thời xác định hệ lụy của việc đổi mới hoặc không đổi mới. Thiên Chúa minh định sự cần thiết của việc đổi mới, canh tân hoặc tái tạo. Vật chất còn cần tiểu tu, trung tu hoặc đại tu, tất nhiên tinh thần cũng vậy!

Đêm xưa năm ấy, khi Giuđa đi rồi, Đức Giêsu nói những lời từ biệt với các môn đệ còn lại: “Giờ đây, Con Người được tôn vinh, và Thiên Chúa cũng được tôn vinh nơi Người. Nếu Thiên Chúa được tôn vinh nơi Người, thì Thiên Chúa cũng sẽ tôn vinh Người nơi chính mình, và Thiên Chúa sắp tôn vinh Người” (Ga 10:31-32).

Chúa Giêsu tha thiết nhắn nhủ: “Hỡi anh em là những người con bé nhỏ của Thầy, Thầy còn ở với anh em một ít lâu nữa thôi. Anh em sẽ tìm kiếm Thầy; nhưng như Thầy đã nói với người Do-thái: ‘Nơi tôi đi, các người không thể đến được’, bây giờ, Thầy cũng nói với anh em như vậy” (Ga 10:33). Lúc đó chẳng ai hiểu được Ngài muốn nói gì, có thể có người còn cho Ngài là “bị chạm dây”. Nhưng tất cả đều diễn biến đúng như điều Ngài đã nói.

Cuối cùng, Chúa Giêsu nhắn nhủ điều đặc biệt nhất: “Thầy ban cho anh em một điều răn mớilà anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: là anh em có lòng yêu thương nhau” (Ga 10:34-35).

Hoàn toàn mới, mới thật. Vì Cựu ước dạy và cho phép người ta “trả đũa” những điều người khác làm cho mình: “Mắt đền mắt, răng đền răng, tay đền tay, chân đền chân” (Xh 21:24; Lv 24:20), thậm chí là “mạng đền mạng” (Đnl 19:21). Còn “luật mới” của Chúa Giêsu là “tha bảy mươi lần bảy” (Mt 18:22), là phục vụ (Mc 10:45), là thương xót (Mt 18:1; Lc 10:29-37; Lc 15:4-31). Đó là dấu hiệu để nhận biết ai là môn đệ đích thực của Đức Kitô.

Lạy Thiên Chúa, xin giúp chúng con biết can đảm và tự nguyện thực thi “luật mới” mà Đức Kitô đã truyền dạy, đồng thời sẵn sàng thay đổi từ trong ra ngoài càng ngày càng hoàn thiện hơn. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô Phục Sinh, Thiên Chúa cứu độ của chúng con. Amen./.


Bài 2. CHÌA KHÓA VẠN NĂNG
Giêrônimô Nguyễn Văn Nội

I. DẪN VÀO PHỤNG VỤ

Từ ngàn xưa, người La-mã đã có câu: “Homo homini lupus” nghĩa là “con người đối xử với nhau chẳng khác gì chó sói”. Nhìn vào thực tế, ở tầm mức quốc tế, quốc gia rộng lớn cũng như ở tầm mức cá nhân nhỏ bé, chúng ta thấy người ta tìm hết mọi cách để chèn ép, giẫm đạp lên nhau, bóc lột nhau, tranh giành của cải, quyền lực như những người khùng điên. Phải chăng vì thế mà khi nghe nói tới “trời mới, đất mới” thì đại đa số giáo dân đều nghĩ rằng hoặc đó là “chuyện ảo tưởng”, hoặc đó là “chuyện đời sau” chứ ở trên thế gian này, làm sao có chuyện “trời mới, đất mới”. 
Nhưng Lời Chúa rành rành ra đó, không ai có thể chối cãi được: “Tôi thấy trời mới đất mới, vì trời cũ đất cũ đã biến mất, và biển cũng không còn nữa.” Lời Chúa còn khẳng định “Này đây Ta đổi mới mọi sự." Thiên Chúa “đổi mới mọi sự” nhờ/bằng cuộc sống và cái chết của Chúa Giê-su Ki-tô. Nhưng Thiên Chúa cũng “đổi mới mọi sự” nhờ/bằng con người và cuộc sống của chúng ta. Chìa khóa vạn năng mà Chúa Giê-su trao cho chúng ta để chúng ta cùng với Thiên Chúa “đổi mới mọi sự” là: “Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: là anh em có lòng yêu thương nhau!”

II. LẮNG NGHE LỜI CHÚA TRONG BA BÀI THÁNH KINH

2.1 Lắng nghe Lời Chúa trong bài đọc 1 (Cv 14, 21b-27): Hai Tông đồ tập họp Hội Thánh và kể lại tất cả những gì Thiên Chúa đã cùng làm với hai ông.

2.2 Lắng nghe Lời Chúa trong bài đọc 2 (Kh 21,1-5): Thiên Chúa lau sạch nước mắt họ.

2.3 Lắng nghe Lời Chúa trong bài Tin Mừng (Ga 13,31-33a.34-35): Thầy ban cho anh em một điều răn mới, là anh em hãy yêu thương nhau.

III. KHÁM PHÁ CHÂN DUNG VÀ SỨ ĐIỆP CỦA THIÊN CHÚA TRONG BA BÀI KINH THÁNH

3.1 Chân dung của Thiên Chúa

3.1.1 Bài đọc 1 (Cv 14, 21b-27) là đoạn Sách Tông Đồ Công Vụ miêu tả hoạt động của hai Tông Đồ Phao-lô và Bác-na-ba tại nhiều nơi như Đéc-bê, Lýt-ra, I-cô-ni-ô và An-ti-ô-khi-a, Pi-xi-đi-a, Pam-phy-li-a v.v… Ở các nơi mà hai Tông Đồ hoạt động thì công việc chính của các ngài là xây dựng các cộng đoàn môn đệ tức các cộng đoàn nhìn nhận Chúa Giê-su là Chúa, tôn thờ Gia-vê là Thiên Chúa Duy Nhất và là Cha của Chúa Giê-su Ki-tô. Những thành viên của các cộng đoàn môn đệ ấy sống điều răn mới mà Chúa Giê-su đã ban cho họ tức sống tình yêu thương huynh đệ với nhau, coi nhau như anh em một nhà!

Trong đoạn sách Cv 14, 21b-27 trên chúng ta có thể nhận ra sự hiện diện và hành động hiệu quả của Thiên Chúa trong các tâm hồn và các cộng đoàn. Nếu không có Thiên Chúa hiện diện và hành động mạnh mẽ và hữu hiệu nơi các tâm hồn và trong các cộng đoàn thì các Tông Đồ Phao-lô và Ba-na-ba chẳng làm được gì, và các tín hữu vẫn chỉ là những cá nhân riêng lẻ, rời rạc và ích kỷ.

3.1.2 Bài đọc 2 (Kh 21,1-5) là thị kiến của Tông Đồ Gio-an về Vương Quốc của Thiên Chúa giữa loài người. Vương Quốc ấy được gọi là trời mới đất mới, vì mọi sự, mọi người đã được chính Thiên Chúa đổi mới bằng sức mạnh của Thánh Thần. Vương Quốc ấy đến từ Thiên Chúa và được biểu trưng bằng hình ảnh huy hoàng của Thành thánh Giê-ru-sa-lem. Chính hình ảnh này cũng được nhân cách hóa thành một con người vừa đẹp đẽ vừa dễ thương là “cô dâu” chuẩn bị đón chàng rể.

Trong đoạn Sách Kh 21,1-5 trên, chúng ta thấy nổi bật tấm lòng và hành động yêu thương của Thiên Chúa đối với con người: “Đây là nhà tạm Thiên Chúa ở cùng nhân loại, Người sẽ cư ngụ cùng với họ. Họ sẽ là dân của Người, còn chính Người sẽ là Thiên-Chúa-ở-cùng-họ. Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt họ. Sẽ không còn sự chết; cũng chẳng còn tang tóc, kêu than và đau khổ nữa, vì những điều cũ đã biến mất”.

3.1.3 Bài Tin Mừng (Ga 13,31-33a.34-35) là những lời dặn dò mà Chúa Giê-su nói với các môn đệ trước giờ chia tay. Đặc biệt là Chúa Giê-su ban cho các môn đệ điều răn mới của Người là tình yêu thương huynh đệ. Vì những lời dặn dò và điều răn mới được trao ban trong một khoảnh khắc đặc biệt thì các môn đệ càng phải nhớ kỹ và thực thi nghiêm chỉnh!

Qua Bài Phúc Âm Ga 13,31-33a.34-35 chúng ta có được những lời di chúc, những lời trăn trối của Thầy và Chúa Giê-su Ki-tô của chúng ta: “Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: là anh em có lòng yêu thương nhau!”

3.2 Sứ điệp của Lời Chúa

Sứ điệp của Lời Chúa hôm nay được tóm gọn trong lời nhắn nhủ và di chúc của Chúa Giê-su: “Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: là anh em có lòng yêu thương nhau!”

IV. SỐNG VỚI THIÊN CHÚA VÀ THỰC THI SỨ ĐIỆP CỦA NGƯỜI

4.1 Sống với Thiên Chúa Cha là Thiên Chúa Tình Yêu, với Chúa Con là Đấng đã ban cho các môn đệ giới răn yêu thương, với Chúa Thánh Thần là Đấng tác động các Ki-tô hữu để họ thực thi giới răn yêu thương.

4.2 Thực thi Sứ điệp của Lời Chúa

Để thực thi sứ điệp Lời Chúa hôm nay, tôi phải xét mình về tình yêu thương huynh đệ mà tôi đang sống với những người trong cùng một nhà, một hội đoàn, một giáo xứ, một dòng tu, một giáo phận, một giáo hội:

* Tôi có thât sự yêu thương, kính trọng những người thuộc cùng một nhà, một hội đoàn, một giáo xứ, một dòng tu, một giáo phận, một giáo hội của tôi không?

* Tình yêu thương huynh đệ Ki-tô hữu của tôi đang ở mức độ nào trong tâm hồn và đời sống của tôi?

* Tình yêu thương huynh đệ Ki-tô hữu của tôi có đủ mạnh mẽ và dễ nhận ra để khiến người khác nhận ra tôi là môn đệ của Chúa Ki-tô không?

[Để kiểm chứng tình yêu thương huynh đệ Ki-tô hữu của tôi: tôi thử làm một bài thực tập đơn sơ và đầy thách thức này: Tôi ghi ra trên giấy TÊN của tất cả những người mà tôi sẵn sàng hy sinh tất cả (thời giờ, của cải, tài năng, chức quyền, thậm chí mạng sống) vì họ. Tôi thử đếm xem được mấy người?]

V. CẦU NGUYỆN CHO THẾ GIỚI VÀ HỘI THÁNH

5.1 «Tông đồ Phao-lô và Ba-na-ba tập họp Hội Thánh và kể lại tất cả những gì Thiên Chúa đã cùng làm với hai ông, và việc Người đã mở cửa cho các dân ngoại đón nhận đức tin.» Chúng ta hãy cầu xin Chúa cho các dân, các nước chưa nhận biết Chúa, để họ sớm được hưởng niềm vui đón Tin Mừng Cứu Độ của Người.

Xướng: Chúng ta cùng cầu xin Chúa!
Đáp: Xin Chúa nhậm lời chúng con!

5.2 «Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: là anh em có lòng yêu thương nhau.» Chúng ta hãy cầu xin Chúa cho tất các cả các Ki-tô hữu, cách riêng cho Đức Giáo Hoàng Phan-xi-cô, cho các Hồng Y, Giám Mục, Linh Mục và Phó Tế, để mọi Ki-tô hữu sống một cách triệt để điều răn mới của Chúa Giê-su Ki-tô.

5.3 «Tôi là Gio-an, bấy giờ tôi thấy trời mới đất mới, vì trời cũ đất cũ đã biến mất, và biển cũng không còn nữa.» Chúng ta hãy cầu xin Chúa cho các Ki-tô hữu trong cộng đoàn giáo xứ chúng ta, nhất là cho những người tham dự Thánh Lễ này, để ai nấy tích cực xây dựng trời mới đất mới trong gia đình, giáo xứ và xã hội Việt Nam hôm nay!

5.4 «Tôi nghe từ phía ngai có tiếng hô to: “Đây là nhà tạm Thiên Chúa ở cùng nhân loại, Người sẽ cư ngụ cùng với họ. Họ sẽ là dân của Người, còn chính Người sẽ là Thiên-Chúa-ở-cùng-họ. Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt họ. Sẽ không còn sự chết; cũng chẳng còn tang tóc, kêu than và đau khổ nữa, vì những điều cũ đã biến mất.» Chúng ta hãy cầu xin Chúa cho những người bé mọn, nghèo khổ, tật nguyền, bị áp bức, bóc lột và khinh khi trong các xã hội loài người, để họ cảm nghiệm được Thiên Chúa là Đấng luôn gẫn gữi, cảm thông, và đứng về phía những kẻ yếu thế, cô thân như họ.


Bài 3. YÊU THƯƠNG NHAU
Lm. Giuse Trần Việt Hùng

Truyện kể: Một vị Giám Mục kiểm tra khả năng của một nhóm ứng viên xin lãnh nhận Bí tích Thánh Tẩy. Ngài hỏi: Bằng dấu chỉ nào các người khác nhận ra các con là người Công Giáo? Không có tiếng trả lời. Rõ ràng, không có ai ngờ một câu hỏi như thế. Vị Giám Mục lập lại câu hỏi. Và ngài lập lại thêm một lần nữa, lần này ngài làm dấu thánh giá có ý nhắc nhớ cho các người dự tòng một câu trả lời chính xác. Bất chợt một ứng viên trả lời: Đó là tình yêu. Vị Giám mục rất ngạc nhiên! Khi ngài sắp mở miệng nói “Sai”, ngài bỗng kịp thời ngậm miệng lại. Thánh giá biểu lộ tình yêu. Dấu chỉ của tình yêu là thánh giá. Đạo Công Giáo là đạo của bác ái yêu thương.

Yêu thương nhau như Thầy yêu. Thiên Chúa là tình yêu. Thiên Chúa đã sai chính Con Một yêu dấu xuống thế để cứu độ nhân loại. Chúa Giêsu đã bày tỏ tình yêu Thiên Chúa một cách cụ thể trong đời sống. Tình yêu của Chúa trải rộng trong mọi khía cạnh của cuộc sống con người. Ngài đã dùng mọi cách gần gũi nhất để tỏ lòng yêu thương. Chúa sinh ra nơi máng cỏ nghèo hèn, chịu chung số phận với những người kiều cư khách lạ, sinh sống nơi làng quê nghèo và hoạt động cách bình dị âm thầm. Chúa Giêsu hòa chung những sinh hoạt hằng ngày với mọi người, đến nỗi người đồng hương chẳng nhận ra Chúa là ai. Họ nghĩ Chúa chỉ là con bác thợ mộc Giuse và mẹ là bà Maria. Thiên Chúa ẩn mình một cách thật khiêm hạ.

Chúa Giêsu đã kiên nhẫn đợi chờ trong thời gian và không gian để thi hành sứ mệnh. Ngài đã hoàn tất mọi lời tiên tri loan báo về Ngài. Chúa đã chịu mọi khổ nhục và chịu chết treo trên cây thánh giá. Chúa đã sống lại. Mọi uy quyền trên trời dưới đất được trao ban trong tay Ngài. Mọi tư tưởng, lời nói, hành động của Chúa Giêsu là lời nói hành động của Thiên Chúa làm Người. Lời của Ngài là Tin Mừng cứu độ. Trước khi rời khỏi thế gian, Chúa Giêsu đã ưu ái ban truyền cho các tông đồ: Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em (Ga 13, 34). Yêu thương nhau như Thầy yêu chúng con. Một điều răn căn cốt tóm gọm lời dạy của Chúa.

Chúa yêu thương trong mọi cử chỉ, ngôn ngữ và hành động. Những cử chỉ thân thương đối với người nghèo, kẻ bệnh tật, người phung cùi, khuyết tật, kẻ câm điếc, đui mù, quỉ ám và người đau khổ. Những bài giảng nói về đức yêu thương, yêu Chúa yêu người. Yêu thương anh chị em và yêu cả kẻ thù. Lời giảng của Chúa được cụ thể hóa qua các hành động Chúa đã thực hiện. Chúa đã tỏ lòng xót thương người tội lỗi lầm lạc và tha thứ cho những kẻ đã chống đối, nhạo cười và phản bội giết Chúa. Chúa đã chấp nhận mọi xỉ vả nhục nhã chỉ vì yêu. Kìa người ta khạc nhổ vào mặt Chúa. Chúng ta có thể chấp nhận một hành động bị khinh bỉ như thế không? Có khi nào chúng ta bị người ta khạc nhổ vào mặt chưa? Thật gớm!

Chúa Giêsu đã hiến dâng tất cả chỉ vì yêu. Chúa yêu chúng ta vô điều kiện. Chúa yêu chúng ta trước. Chúa mời gọi chúng ta học theo Chúa. Chỉ qua tình yêu, mọi người nhận biết chúng ta là Kitô hữu: Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: là anh em có lòng yêu thương nhau.”(Ga 13, 35). Chúng ta hãy tập sống yêu thương từ trong nôi ấm của gia đình trước. Khi hạt giống tình yêu nẩy mầm trong tâm, hoa trái tình yêu sẽ tỏa lan hương thơm ra những người chung quanh. Tất cả hoa trái yêu thương của ngày mai đều ẩn tàng trong những hạt giống tốt được gieo ngày hôm nay. Khi gieo trồng tình yêu thì sớm muộn gì cũng sẽ trổ sinh hoa trái yêu thương. Trong cuộc sống giao tế hằng ngày với tha nhân, chúng ta sẽ hái những gì chúng ta đã gieo. Như một đóa hoa tươi đẹp dần bị héo úa nhưng luôn để lại những hạt giống tốt trên mặt đất.

Nếu trái tim bị khô cằn và đóng khung, chúng ta khó có thể mở cửa đón nhận và cho đi tình yêu. Hạt giống tình yêu phải được vun tưới, chăm bón và tạo cơ hội để triển nở. Khi tình yêu được hòa trộn trong việc làm thì tình yêu sẽ thăng hoa. Và chính chúng ta là người đầu tiên được hưởng nếm hạnh phúc của tình yêu. Chúng ta biết rằng hạnh phúc nhất của cuộc sống này là tin chắc rằng chúng ta đang được yêu thương. Chúa yêu, cha mẹ yêu, vợ chồng yêu, con cái yêu, anh chị em và bằng hữu yêu. Chúng ta vui hưởng hạnh phúc ngay trên đường đi, chứ không phải tìm hạnh phúc ở cuối đường. Thực hành giới răn yêu thương là cốt lõi đưa dẫn chúng ta đến tình yêu và hạnh phúc thật.

Các Tông đồ với trái tim yêu thương đầy nhiệt huyết đã bước vào đời. Các ngài rao truyền tình yêu thập giá và tình yêu hiến dâng của Chúa Kitô. Các ngài gắn bó mật thiết với Chúa và với nhau để củng cố niềm tin yêu. Sách Tông Đồ Công Vụ tiếp tục ghi lại sứ vụ của các Tông đồ: Hai ông củng cố tinh thần các môn đệ, và khuyên nhủ họ giữ vững đức tin. Hai ông nói: “Chúng ta phải chịu nhiều gian khổ mới được vào Nước Thiên Chúa.”(Tđcv 14, 22). Để được chung hưởng hạnh phúc, chúng ta phải trải qua nhiều gian nan thử thách. Thánh giá là biểu tượng của tình yêu và thánh giá cũng là biểu tượng của sự hy sinh. Tình yêu không có hy sinh là tình yêu giả dối. Hy sinh mà không có tình yêu là hy sinh thừa thãi. Tình yêu và hy sinh như đồng tiền hai mặt luôn gắn kết với nhau trọn vẹn.

Bước đầu, cơ cấu tổ chức đời sống của các Kitô hữu đã được hình thành nơi các cộng đoàn. Là một tổ chức tâm linh, các tông đồ nêu gương ăn chay cầu nguyện và phó thác niềm tin vào Chúa Phục Sinh. Cậy trông vào ơn thiêng để kiên trì sống đạo, giữ đạo và hành đạo. Trong mỗi Hội Thánh, hai ông chỉ định cho họ những kỳ mục và sau khi ăn chay cầu nguyện, hai ông phó thác những người đó cho Chúa, Đấng họ đã tin (Tđcv 14, 23). Các thành viên của các cộng đồng nhỏ đã liên kết với nhau trong yêu thương và chia sẻ đời sống bác ái nâng đỡ và phụ giúp nhau sống niềm tin. Giáo Hội của Chúa đã hình thành qua dấu chỉ của sự yêu thương.

Cuộc lữ hành của Giáo Hội trần thế sẽ dẫn dắt mọi người đến Nước Trời, thành thánh Giêrusalem mới. Thánh Gioan khai mở hình ảnh về sự viên mãn: Bấy giờ tôi thấy trời mới đất mới, vì trời cũ đất cũ đã biến mất, và biển cũng không còn nữa (Kh 21, 1). Vũ trụ này sẽ qua đi. Chúng ta hiện hữu trong thời gian và không gian. Chúng ta khó có thể tưởng tượng sự thay đổi một trời mới và đất mới thế nào. Kinh nghiệm trong cuộc sống cho chúng ta biết, mọi sự trong vũ trụ đều đang thay đổi. Sự thay đổi rất tiệm tiến về sinh thái. Hằng năm, chúng ta chứng kiến biết bao nhiêu sự thay đổi ngay trước mắt. Chính chúng ta cũng đang thay đổi cả nội tâm đến ngoại hình. Sự thay đổi làm cho chúng ta nhận biết rằng cuộc sống là vô thường. Chúng ta đừng bám víu vào những giá trị mau qua chóng hết nhưng hướng đến một kết cục hằng hữu đời đời. Đó là Thiên Chúa của tình yêu.

Thiên Chúa bao dung và nhân ái. Thiên Chúa chậm bất bình và đầy ân sủng. Chúng ta đặt niềm tin yêu vào Thiên Chúa, Ngài sẽ giải thoát chúng ta: Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt họ. Sẽ không còn sự chết; cũng chẳng còn tang tóc, kêu than và đau khổ nữa, vì những điều cũ đã biến mất.”(Kh 21, 4). Đây là niềm hy vọng tuyết đối cho những ai đặt niềm tin nơi Chúa. Hạnh phúc tuyệt vời là chúng ta đang được Thiên Chúa yêu thương. Sống từng giây hạnh phúc, cuộc đời chúng ta sẽ no hưởng hạnh phúc. Khi yêu thương thật lòng, chúng ta sẽ cảm nghiệm được hạnh phúc ngay trong tầm tay.

Lạy Chúa, Chúa là suối nguồn tình yêu, xin tràn đổ tình yêu trong tâm hồn để chúng con được no thỏa. Xin cho chúng con biết đón nhận và cho đi tình yêu như dòng suối mãi tuôn chảy.


Bài 4. Để nhận ra người môn đệ chân chính
Linh Mục Inhaxiô Trần Ngà

Chúng ta có thuộc vào số những người môn đệ thật của Chúa Giê-su?

Khi sắp từ giã cõi đời, người hấp hối cố tranh thủ chút thời gian vắn vỏi còn lại và tận dụng chút hơi tàn để căn dặn người thân yêu những điều mà họ cho là quan trọng nhất, đồng thời cũng để trối lại những gì được xem là gia bảo.

Chúa Giê-su cũng thế. Khi sắp từ giã các môn đệ để chịu khổ nạn và chịu chết, Người trao cho họ những lời tâm huyết: “Hỡi anh em là những người con bé nhỏ của Thầy, Thầy còn ở với anh em một ít lâu nữa thôi.” Rồi Chúa Giê-su trối lại cho các môn đệ yêu dấu phần gia bảo quan trọng nhất, đó là Điều Răn mới: “Thầy ban cho anh em một điều răn mới, là anh em hãy yêu thương nhau… ”

Tuy nhiên, Chúa Giê-su không muốn các môn đệ yêu thương nhau bằng thứ tình yêu hời hợt bề ngoài, nhưng muốn họ yêu thương nhau thật đậm đà nên Người nói thêm: “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em.” Như thế, tình yêu Chúa Giê-su dành cho các môn đệ phải trở thành chuẩn mực cho tình yêu của các môn đệ đối với nhau.

Rồi Đức Giê-su nhấn mạnh: “Người ta sẽ căn cứ vào dấu hiệu nầy để nhận ra anh em là môn đệ của Thầy, là anh em thương mến nhau.”

Như thế, nếu kẻ nào không thương mến tha nhân thực lòng, người đó chưa phải là môn đệ thật của Chúa Giê-su.

Trên thị trường ngày nay, có rất nhiều đồ giả: vàng giả, tiền giả, thuốc giả, hàng giả xen lẫn với hàng thật khó mà phân biệt rạch ròi.

Trong đạo thánh Chúa cũng vậy. Có nhiều kitô hữu giả trà trộn giữa các kitô hữu thật như cỏ lùng mọc chung với lúa; muốn phân biệt ai giả, ai thật, đâu phải chuyện dễ dàng.

Muốn thử vàng, người ta phải dùng đến lửa. Muốn biết ai là môn đệ thật của Chúa, người ta phải nại đến tình yêu. Thế nên, Chúa Giê-su dạy: “Người ta cứ dấu nầy mà nhận biết anh em là môn đệ (thật) của Thầy, là anh em yêu thương nhau.” Thế thì, nếu ai đó xưng mình là môn đệ Chúa Giê-su mà không tôn trọng, không yêu thương người khác, thì chắc chắn người đó là môn đệ giả.

Có người nằm mơ thấy mình lìa bỏ đời nầy sang thế giới bên kia. Được biết thánh Phê-rô canh cửa thiên đàng rất nghiêm ngặt, xét hỏi kỹ càng trước khi cho vào, nên anh ta mang theo đầy đủ những giấy tờ cần thiết.

Vừa gặp thánh Phê-rô, anh liền xuất trình đủ mọi thứ giấy tờ để chứng minh mình là người công giáo, từ chứng thư rửa tội, thêm sức cho đến hôn phối… Anh hy vọng với những chứng từ nầy thì thánh Phê-rô sẽ mở cửa thiên đàng cho anh ngay. Nào ngờ, thánh nhân lại lắc đầu từ chối.

“Ngài còn đòi gì nữa? Con cũng xin thưa là ngày nào con cũng có đọc kinh lần hạt; con không bỏ lễ chúa nhật bao giờ, không gian tham trộm cắp của ai, không mê muốn vợ chồng người… Bấy nhiêu không đủ để được vào thiên đàng sao?”

Thánh Phê-rô trả lời:

“Thiên đàng chỉ đón nhận những môn đệ thật của Chúa Giê-su. Ai không mang phù hiệu người môn đệ Chúa Giê-su thì không được vào thiên đàng.”

“Phù hiệu nào vậy, thưa Ngài?”

“Thế con không nhớ lời Chúa phán dạy sao: “Người ta căn cứ vào dấu hiệu (phù hiệu) nầy mà nhận biết anh em là môn đệ Thầy, là anh em có lòng thương mến nhau.” (Ga 13, 35) Chưa có lòng thương mến nhau thì con chưa phải là người môn đệ thật của Chúa.”

Qua dụ ngôn phán xét cuối cùng, Chúa Giê-su cũng khẳng định điều nầy: Ai có lòng yêu thương giúp đỡ người khác, kẻ ấy mới được đón nhận vào thiên đàng.

“Bấy giờ Đức Vua sẽ phán với những kẻ bên phải rằng: “Nào những kẻ được Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc đã dọn sẵn cho các ngươi từ thuở tạo thiên lập địa” vì các người đã thương mến chăm sóc các anh em bé nhỏ của Ta.

Rồi Chúa quay sang lên án những người bên trái: “Quân bị nguyền rủa kia! Hãy đi cho khuất mắt Ta mà vào lửa đời đời, nơi dành sẵn cho tên Ác Quỷ và các sứ thần của nó”… vì các ngươi đã không yêu thương chăm sóc các anh em bé mọn của Ta. (Mt 25, 34-46)

Dưới ánh sáng của Lời Chúa hôm nay, chúng ta hãy rà soát lại xem mình đã tôn trọng, yêu thương và phục vụ những anh chị em chung quanh chưa? Nếu chưa thì chúng ta vẫn còn là những kitô hữu giả hiệu, chúng ta không thuộc vào số những người môn đệ thật của Chúa Giê-su và trên vương quốc thiên đàng không có chỗ dành cho chúng ta.


Bài 5. YÊU THƯƠNG LÀ PHỤC VỤ
LM ĐAN VINH

I. HỌC LỜI CHÚA

1. TIN MỪNG: Ga 13,31-33a.34-35

2. Ý CHÍNH: Bài Tin mừng hôm nay trích trong diễn từ của Đức Giê-su nói trong bữa Tiệc ly vào chiều thứ Năm Tuần thánh. Khi Giu-đa rời khỏi bàn tiệc lao mình vào bóng đêm thì Đức Giê-su tuyên bố “Giờ Người được tôn vinh đã bắt đầu” đúng theo thánh ý Chúa Cha. Sau đó Đức Giê-su ban cho các môn đệ điều răn mới là “Hãy yêu thương nhau như Thầy”. Tình yêu ấy chính là dấu chỉ để người đời phân biệt ai là môn đệ thực sự của Người.

3. CHÚ THÍCH:

C 31-32: + Khi Giu-đa đi rồi: Có lẽ Giu-đa ra khỏi phòng tiệc sau khi Đức Giê-su rửa chân cho các môn đệ và trước khi thiết lập bí tích Thánh Thể. Từ giờ phút này, Người nói về số phận của Người và trăn trối những lời cuối cùng cho các môn đệ. + Giờ đây Con Người được tôn vinh: Cuộc thương khó bắt đầu, vì Giu-đa đã tiến hành việc nộp Người. Và Thiên Chúa cũng được tôn vinh nơi Người: Thiên Chúa cũng được vinh hiển nhờ việc Đức Giê-su “vâng lời cho đến chết trên cây thập giá” (x. Pl 2,8). + Nếu Thiên Chúa được tôn vinh nơi Người thì Thiên Chúa cũng sẽ tôn vinh Người nơi chính mình: Nếu Đức Giê-su làm cho Chúa Cha được vinh hiển nhờ cái chết của Người trên thập giá, thì Chúa Cha cũng sẽ ban cho Người được vinh hiển bằng cách cho Người sống lại vinh quang.

C 33a.34-35: + Hỡi anh em là những người con bé nhỏ của Thầy: Đức Giê-su giống như người cha trăn trối những lời sau hết cho con cái trước khi chết. + Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em: Điều răn này mới ở chỗ: thay vì lấy bản thân làm khuôn mẫu để yêu người khác như luật cũ dạy “Yêu đồng loại như chính thân mình” (x. Lv 19,18),Đức Giê-su lại đòi môn đệ phải yêu thương nhau theo khuôn mẫu tình yêu của Người dành cho họ, là hy sinh mạng sống mình vì họ. Thánh Gio-an viết: “Căn cứ vào điều này chúng ta biết được tình yêu là gì: Đó là Đức Ki-tô đã thí mạng vì chúng ta” (1 Ga 3,16). + Ở điểm này, mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy…: Tình yêu hy sinh như thế sẽ trở thành dấu chỉ đặc biệt để người đời nhận biết ai là môn đệ đích thực của Đức Giê-su.

4. CÂU HỎI1) Giu-đa có được Đức Giê-su rửa chân cho không? 2) Giu-đa có được tham dự bữa tiệc Thánh Thể không? 3) Tại sao sau khi Giu-đa rời bàn tiệc, Đức Giê-su lại nói: “Giờ đây Con Người được tôn vinh”? 4) So sánh với điều răn yêu người theo luật Mô-sê, thì điều răn yêu thương của Đức Giê-su mới ở điểm nào?

II. SỐNG LỜI CHÚA

1. LỜI CHÚA: “Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13,34).

2. CÂU CHUYỆN: ĐẶC ĐIỂM CỦA TÌNH YÊU THỰC SỰ:

- YÊU THƯƠNG LÀ QUÊN MÌNH VÌ NGƯỜI MÌNH YÊU:

Vào năm 1995, một trận động đất với cường độ mạnh đã xảy ra tại Thành phố Kô-bê Nhật Bản. khiến cho nhiều nhà cửa trong thành phố sụp đổ trở thành những đống gạch khổng lồ, gây thiệt hại rất lớn cho thành phố về người và của. Các đội cứu hộ ngày đêm làm việc khẩn trương để lôi ra từ những đống gạch đổ nát nhiều xác chết và người bị thương. Nhưng cũng chính từ tai họa này, người ta đã khám phá ra một câu chuyện cảm động về một tình yêu hy sinh quên mình như sau:

Đến ngày thứ hai của cuộc đào bới, thì từ dưới một ngôi nhà đổ nát, người ta đã đào lên được hai mẹ con vẫn còn sống thoi thóp. Đứa con nhỏ mới được vài tháng tuổi đang nằm ngủ yên trong lòng mẹ, đang khi mẹ của em lại bị hôn mê bất tỉnh. Sau khi được cứu sống, một nhà báo đã phỏng vấn bà mẹ trẻ ấy như sau: “Làm thế nào mà hai mẹ con chị có thể sống được đến hai ngày dưới đống gạch đổ nát kia?”. Chị đáp: “Tuy bị vùi dưới tòa nhà, nhưng rất may chúng tôi đã không bị đè chết. Mấy tiếng đồng hồ sau thì con tôi khóc đòi ăn đang khi tôi chẳng còn giọt sữa nào. Tôi quờ quạng tìm xem có cái gì ăn cho đỡ đói không. Bất ngờ bàn tay tôi chạn vào một con dao sắc trong cái giỏ bên mình. Tôi cầm dao rạch một đường ở ngón cái cho chảy máu, rồi ấn ngón tay bị cắt vào miệng con để bú máu thay vì sữa mẹ. Sau khi bú ngón tay của tôi được mươi phút thì cháu nằm im ngủ. Nhưng rồi lại tiếp tục khóc vì đói. Tôi liền rạch thêm một đường nữa nơi ngón tay khác và cho cháu bú. Sau đó tôi ngất đi lúc nào không biết cho tới khi cả hai mẹ con được cứu sống”. Nhà báo tiếp tục hỏi: “Thế chị không nghĩ rằng làm như thế thì chị sẽ bị mất máu chết sao?” Chị ta trả lời: “Lúc ấy, tôi không nghĩ đến mình, mà chỉ lo kiếm cái gì cho con bú để nó được sống!”.

- YÊU THƯƠNG KHÔNG ÍCH KỶ NHƯNG LUÔN NGHĨ ĐẾN NGƯỜI YÊU:

Một ông lão đang đào đất gieo trồng mấy hột đào. Cháu trai của ông thấy vậy liền thắc mắc hỏi: “Ông ơi, tại sao ông lại phải vất vả trồng đào làm chi? Liệu ông có sống được tới ngày cây đào ra trái hay không?”. Bấy giờ ông lão mới âu yếm đặt tay lên vai đứa cháu, vừa cười vừa nói: “Này cháu, trái đào chúng ta ăn bây giờ chẳng phải là do người khác sống trước chúng ta đã trồng đó sao? Chúng ta ăn trái đào do người trước trồng, thì tại sao ta lại không trồng cho người sau được hưởng? Còn nếu ai cũng nghĩ rằng: chỉ khi nào được ăn mình mới trồng, thì liệu bây giờ chúng ta có được ăn những trái đào này hay không hả cháu?”

- YÊU THƯƠNG LÀ QUẢNG ĐẠI CHO HƠN NHẬN:

Một sinh viên nghèo nọ theo học ngành mỹ thuật, ngày kia ghé thăm phòng vẽ của một danh họa Pháp. Bấy giờ căn phòng thật vắng lặng. Rồi cậu ta thấy có một lão hành khất đang ngồi ở một góc tối để chờ làm mẫu cho họa sĩ vẽ. Thấy bộ dạng tiều tụy đáng thương của người hành khất, cậu sinh viên kia động lòng trắc ẩn liền mở bóp ra và tìm mãi mới lấy ra được một quan tiền tặng cho ông lão nghèo khổ kia. Khi họa sĩ đến làm việc, người hành khất mới hỏi xem cậu sinh viên có lòng quảng đại kia là ai. Dựa theo lời của người hành khất, họa sĩ đã trả lời: “Thưa đó là một sinh viên nghèo nhưng rất hiếu học”. Chiều hôm đó, cậu sinh viên đã nhận được một món quà gói kín, trên có đề tên người gửi là “Nam tước Giắc đờ Rót-sin” (Jacques De Rothschild). Mở gói quà ra, cậu rất vui mừng đếm được tới 10 ngàn quan, kèm theo một bức thư nội dung như sau: “Đây là số tiền lời do một quan tiền mà cậu đã bố thí cho người nghèo sáng hôm nay!”. Thì ra người hành khất ngồi chờ làm mẫu cho họa sĩ vẽ chính là một nam tước ham thích hội họa. Ông cũng là một người giàu có và tốt bụng.

- TÌNH YÊU CÓ SỨC ĐỔI MỚI NGƯỜI YÊU:

Cách đây ít lâu, đài truyền hình Thành phố đã chiếu một bộ phim giáo dục rất hay, mang tựa đề “Giai điệu hạnh phúc” (La Mélodie du bonheur). Câu chuyện về một cô dự tu tên là Ma-ri. Chị được mẹ bề trên sai đi làm gia sư trong một gia đình của viên đại úy góa vợ. Mấy đứa con của viên đại úy lúc đầu tỏ ra ngang bướng khó dạy. Nhưng nhờ thái độ khoan dung vui vẻ cùng với tài nhảy múa đàn hát, nhất là nhờ một tình thương bao la, cảm thông và chia sẻ… mà cô giáo Ma-ri đã dần dần cảm hóa được lũ học trò tinh nghịch và biến chúng trở thành những học sinh chăm ngoan và tài giỏi.

- TÌNH YÊU TÁI TẠO SỨC SỐNG MỚI CHO CỘNG ĐOÀN:

Một tu viện trưởng đến thăm một vị ẩn sĩ khôn ngoan, để xin tư vấn về cách điều hành tu viện. Ông cho biết: trước đây tu viện của ông là một trung tâm thu hút nhiều khách hành hương đến viếng thăm và cầu nguyện. Nhà nguyện trong tu viện luôn vang tiếng hát cầu kinh của khách thập phương. Số người đến gõ cửa xin vào tu đông đến nỗi không còn chỗ nhận thêm. Thế nhưng hiện nay tu viện lại rơi vào tình trạng vắng tanh vắng ngắt. Các tu sĩ chỉ còn lèo tèo mười lăm người già. Ai nấy chỉ lo cho bản thân mình mà không biết nghĩ đến kẻ khác. Nói chung tình trạng tu viện hiện đã xuống cấp tồi tệ. Sau đó, tu viện trưởng đã yêu cầu vị ẩn sĩ tư vấn để tìm ra nguyên nhân để khắc phục. Vị ẩn sĩ đã góp ý như sau: “Theo thiển ý tôi thì nguyên nhân chủ yếu của tình trạng xuống cấp kia chính là tội vô tình!” và giải thích thêm: “Đức Giê-su hiện đang cải trang thành một người trong tu viện, mà không ai nhận ra Người”.

Nhận được lời giải đáp, tu viện trưởng trở về tu viện triệu tập các tu sĩ và cho biết Đức Giê-su hiện đang cải trang thành một thành viên trong nhà dòng. Ai trong cộng đoàn cũng có thể là Đức Giê-su ! Từ ngày đó, các tu sĩ đã đối xử với nhau như đối với Đức Giê-su: họ đã biết quan tâm phục vụ nhau, tôn trọng nhau và sẵn sàng bỏ qua những lỗi lầm khuyết điểm cho nhau. Bầu khí cộng đoàn dần dần nồng ấm trở lại và mọi người đều thấy an vui. Ngày ngày họ chăm chỉ lao động khiến năm ấy tu viện được một mùa nho và lúa mì bội thu. Họ chia sẻ hoa lợi cho dân nghèo chung quanh. Tấm gương đạo đức của họ đồn xa khiến khách hành hương khắp nơi lại lục tục kéo về tu viện dự lễ, nghe giảng và xưng tội. Số tu sĩ ngày một gia tăng. Chính nhờ thực hành tình yêu thương nhau cụ thể mà tu viện đã từ tình trạng mất sinh khí trở nên sinh động và ngày một nên tốt đẹp hơn.

3. SUY NIỆM:

THẾ NÀO LÀ MỘT TÌNH YÊU ĐÚNG NGHĨA: Yêu thương không dừng lại những biểu hiện bên ngoài như: Mắt nhìn đắm đuối, lời nói dịu dàng, cử chỉ âu yếm, tim đập loạn nhịp… Tình yêu đúng nghĩa biểu lộ qua các việc: Luôn nghĩ đến và làm điều tốt cho người mình yêu, quảng đại cho đi mà không tính tóan, không chấp nhất những lầm lỗi và bào chữa lỗi lầm cho người mình yêu, sẵn sàng hy sinh chịu chết cho người yêu.

YÊU THƯƠNG NHƯ THẦY: “Hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em”. Đức Giê-su đòi các môn đệ thực hành giới răn mới yêu thương như Người qua các việc làm cụ thể như sau: Rửa chân hầu hạ cho các môn đệ, cảm thông chia sẻ với môn đệ như “bạn hữu thân tình”. “Yêu cho đến cùng” qua việc hiến thân làm của ăn cho môn đệ và sẵn sàng chịu chết đền tội thay cho họ.

Các tín hữu hôm nay cũng được Chúa mời gọi: “Hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu”. Chúng ta chỉ có thể thực hành được giới răn mới này khi chúng ta cảm nghiệm được tình yêu của Chúa, ý thức giới hạn của mình để xin Chúa giúp, noi gương Người phục vụ anh em, luôn quên mình và hy sinh cho tha nhân ngay cả mạng sống của mình. Tóm lại, tình yêu “như Thầy đã yêu” không phải là thứ tình yêu vị kỷ, chiếm đoạt, lợi dụng người yêu để trục lợi (Éros), nhưng là một tình yêu quảng đại, vị tha, sẵn sàng hiến dâng và luôn hy sinh cho người yêu (Agapè).

YÊU THƯƠNG LÀ PHƯƠNG THẾ TRUYỀN GIÁO HỮU HIỆU: Có nhiều dấu hiệu để giúp người khác nhận ra người ki-tô hữu như: đeo ảnh, làm dấu thánh giá, treo ảnh Chúa trong nhà… Nhưng dấu hiệu quan trọng nhất mà Đức Giê-su dạy trong Tin mừng hôm nay chính là sống tình yêu thương. Đây cũng là một phương thế truyền giáo hữu hiệu như Lời Chúa phán: “Ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em Đấng ngự trên trời” (Mt 5,16).

Tiếc thay, hiện nay vẫn còn những bất đồng sâu sắc về đức tin giữa những người cùng tôn thờ Thiên Chúa và cùng tin vào Đức Giê-su, nhưng chưa hiệp thông với nhau, còn đang phân hóa thành các tôn giáo như: Công Giáo, Chính Thống, Anh Giáo, Tin Lành… Thậm chí còn có những mối hận thù và giết hại lẫn nhau giữa những người cùng tin vào Chúa Giê-su như hai cộng đồng Công Giáo và Tin Lành ở Bắc Ai-Len, hai bộ tộc Hu-tu và Tút-si ở Ru-ăng-đa… Biết đến bao giờ mọi tín hữu mới có thể cùng đọc chung kinh tin kính, mừng các đại lễ Giáng Sinh và Phục Sinh trong cùng một ngày, cùng cử hành một lễ nghi phụng vụ? Thế giới hiện nay giống như một sa mạc khô khan cằn cỗi vì thiếu tình yêu. Ước chi các cộng đoàn Ki-tô sẽ trở thành những ốc đảo, có những thảm cỏ xanh tươi và suối nước trong lành, cuốn hút các con chiên lạc quay về sống trong đại gia đình có Thiên Chúa là Cha và mọi người là anh em như lời cầu nguyện của Đức Giê-su: “Xin cho chúng nên một” (Ga 17,21).

4. THẢO LUẬN: 1) Bạn thích câu chuyện nào nhất trong các câu chuyện kể trên và rút được bài học vào về tình yêu chân chính? 2) Bạn có hài lòng về bầu khí yêu thương theo lời Chúa dạy trong gia đình, hội đòan, xứ đạo của bạn hiện nay chưa? Tại sao? 3) Bạn cần làm gì để loan báo Tin Mừng tình thương, giúp người lương nhận ra Chúa đang hiện diện trong cộng đòan của bạn?

5. NGUYỆN CẦU

LẠY CHÚA GIÊ-SU, xin dạy chúng con biết yêu thương và hợp tác với người khác trong việc xây dựng Nước Trời ở trần gian. Xin cho chúng con biết đến với tha nhân không chút thành kiến, nhưng luôn tin tưởng họ. Khi làm việc chung, xin cho chúng con biết nhìn thấy Chúa ở giữa chúng con để sẵn lòng bỏ qua những tự ái, ích kỷ nhỏ nhen hay những thành kiến hẹp hòi về người khác.

LẠY CHÚA, ước chi chúng con dám quên mình đến với tha nhân. Xin cho chúng con đón nhận được ơn Thánh Thần sẵn sàng mở rộng đôi tai để lắng nghe người khác, mở lòng để đóan nhận mọi người và mở rộng tay để nối vòng tay lớn. Xin cho thánh ý Chúa sớm được thực hiện nhờ sự hiệp nhất của các môn đệ Chúa, cùng nhau xây dựng một “Trời Mới Đất Mới” công bình và yêu thương, bắt đầu từ gia đình, cộng đoàn rồi đến xứ đạo và sau cùng đến mọi dân tộc trên thế giới.

X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A
Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON


Bài 6. Tình Yêu, Điều Răn Mới
AM Trần Bình An

Tháng 3 năm 1930, Lm Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp về nhận họ đạo Tắc Sậy. Trong những năm làm cha sở, ngài quan hệ, giúp đỡ, thành lập nhiều họ đạo vùng phụ cận như: Bà Đốc, Cam Bô, An Hải, Đầu Sấu, Chủ Chí, Khúc Tréo, Đồng Gò, Rạch Rắn.

Hoàn cảnh xã hội nhiễu nhương năm 1945-1946, chiến tranh loạn lạc, bà con dân chúng di tản, Cha Bề Trên điạ phận Phêrô Trần Minh Ký ở Bạc Liêu và cả người Pháp cũng gọi ngài lánh mặt, khi nào tình hình yên ổn thì trở về họ đạo, nhưng ngài trả lời: “Tôi sống giữa đoàn chiên và nếu có chết cũng giữa đoàn chiên. Tôi không đi đâu hết.”

Ngày 12-3-1946, ngài bị bắt cùng với trên 70 người giáo dân tại họ Tắc Sậy, bị lùa đi và nhốt chung với bổn đạo tại lẫm luá của ông giáo Sự ở Cây Dừa. Do sự tranh chấp giữa các giáo phái, vì bênh vực quyền lợi của giáo dân, ngài đã chết thay thế cho những người bị bắt chung.

Ngài mất trong khi thi hành nhiệm vụ chủ chăn. Xác ngài được vớt lên từ một cái ao của ông giáo Sự, với vết chém sau ót ngang mang tai và thân xác trần trụi như Chúa Giêsu trên thập giá.

Thi hài ngài được chôn cất trong phòng thánh nhà thờ Khúc Tréo. Đến năm 1969, hài cốt ngài được di dời về nhà thờ Tắc Sậy, nhiệm sở của ngài thi hành chức vụ chủ chăn trong 16 năm. Ngôi nhà mồ của ngài hiện nay, được trùng tu và khánh thành ngày 4-6-1989. Ngài là Cha sở thứ nhì của họ đạo Tắc Sậy. (Lm Nguyển Ngọc Tỏ, Tiểu sử Lm Fx Trương Bửu Diệp)

Trích thuật Tin Mừng thánh Gioan hôm nay loan báo Chúa Giêsu ban cho các môn đệ một Điểu Răn Mới.” Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: là anh em có lòng yêu thương nhau.” (Gioan 13, 34 -35). Điểm quan trọng nhất là“anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em.”

Trong Kinh Thánh tiếng Hy Lạp có tất cả bốn chữ để diễn tả tình yêu: eros là tình yêu trai gái;philio là tình yêu giữa bạn bè; storge, tình yêu giữa anh chị em trong gia đình; và agape, là tình yêu trọn vẹn và vô điều kiện.

Tình Yêu agape được Chúa Giêsu đề cập đến khi hỏi ông Phêrô: “Này anh Simon con ông Gioan, anh có mến Thầy hơn các anh em này không?“ (Ga 21, 15). Như vậy Tình Yêu agape trọn vẹn siêu việt trong Điều Răn Mới phải rất đặc biệt.

Yêu một chiều

Tình yêu thông thường như eros, philio, storge thì luôn luôn đòi hỏi hai chiều, âm hưởng giữa hai đối tượng. Có qua có lại mới toại lòng nhau. Có đáp ứng lại với nhau, mới phát sinh tình cảm yêu thương. Nhưng Tình Yêu agape trái lại, chỉ duy nhất một chiều, không cần điều kiện vì, dohay nếu, không mong chờ đền đáp, dù rất mong muốn.

Vì là một chiều, Tình Yêu agape mới có thể vươn xa, ra khỏi bản ngã, cái tôi đáng ghét, ra bên ngoài mối thân thích, họ hàng, bạn bè quen thuộc, đến với kẻ xa lạ, thậm chỉ đến với cả địch thù, chống báng, đối đầu, bất cộng đái thiên.

“Thầy nói với anh em là những người đang nghe Thầy đây: hãy yêu kẻ thù và làm ơn cho kẻ ghét anh em, hãy chúc lành cho kẻ nguyền rủa anh em và cầu nguyện cho kẻ vu khống anh em.” (Lc 6, 27-28)

Không những yêu thương kẻ thù, mà còn chúc lành và cầu nguyện cho kẻ thù nữa. Hoặc cho vay, mà chẳng mong đển trả, khác chi cho không biếu không, nói tắt là Tình Yêu agape trao tặng vô điều kiện.

“Anh em hãy yêu kẻ thù, hãy làm ơn và cho vay mà chẳng hề hy vọng được đền trả. Như vậy, phần thưởng dành cho anh em sẽ lớn lao, và anh em sẽ là con Đấng Tối Cao, vì Người vẫn nhân hậu với cả phường vô ân và quân độc ác.” (Lc 6, 35)

Yêu là chết đi

Nếu không dẹp đi những cản trở vị kỷ, thì không thể chân thành yêu thương người khác được. Những toan tính vụ lợi cá nhân ngăn chận bước chân thân tình đến với tha nhân. Lòng tự phụ, kiêu căng, sĩ diện, so đo, đố kỵ, tham lam, ác độc, chỉ hoàn toàn phủ nhận, hạ bệ, chà đạp tha nhân, thay vì đón tiếp vào vòng tay nhân ái. Do vậy, cần chết đi cách sống cũ ích kỷ, bất nhân, từ tâm tưởng, lời nói và hành động, nếu muốn yêu thương theo Chúa Giêsu.

“Những ai thuộc về Đức Kitô thì đã đóng đinh tính xác thịt vào thập giá cùng với các dục vọng và đam mê.” (Gl 5, 24)

Cha Phanxicô Xaviê Trưởng Bửu Diệp đã mạnh dạn ra đi theo Chúa, gắn bó với sứ vụ mục tử nhân lành, sẵn sàng hiến dâng mạng sống cho Tình Yêu agape trọn vẹn viên mãn.

Yêu là sống cho

Chết đi những thói hư tật xấu, những đam mê phù phiếm, những ham muốn xác thịt, để Tình Yêu agape có thể phục vụ tha nhân trong sự khiêm hạ và thân tình. Như thế Tình Yêu agape sống cho tha nhân, cũng như sống cho Chúa, chứ không còn ràng buộc vào sống cho mình, mưu cầu hạnh phúc bản thân.

“Chúng ta có sống là sống theo Chúa, mà có chết cũng là chết cho Chúa. Vậy dù sống dù chết, chúng ta vẫn thuộc về Chúa.” (Rm 14, 8)

Với Tình Yêu agape trọn vẹn của Chúa, sống cho tha nhân trong tinh thần khiêm tốn, biết quên mình phục vụ, như Chúa từng khiêm hạ, quỳ xuống rửa chân các môn đệ.

“Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi.” (Gl 2, 20) Thánh Phaolô đã xác tín mạnh mẽ như thế trong Thư gửi tín hữu Galat.

Các thánh càng già thì quả tim họ càng trẻ. (Đường Hy Vọng, 177)

Đừng để tháng ngày làm quả tim già nua. Hãy yêu thương với một tình yêu mãnh liệt, mới mẻ, trong trắng hơn: Tình yêu Chúa đổ vào quả tim con. (Đường Hy Vọng, 178)

Lạy Chúa Giêsu, xưa Người đã quỳ xuống rửa chân cho các môn đệ, xin cho con noi gương Chúa, biết khiêm hạ, bỏ mình và phục vụ trong Tình Yêu dâng hiến trọn vẹn.

Lạy Mẹ Maria, xin giúp con nuôi dưỡng Tình Yêu agape trọn vẹn của Chúa, để con biết tha thứ, quên hết hằn thù, chúc phúc và cầu nguyện cho những người ám hại con. Amen.


Bài 7. TÔN VINH TÌNH YÊU
JM. Lam Thy ĐVD.

Bài Tin Mừng hôm nay (CN.V/PS – Ga 13, 31-33a.34-35) trình thuật việc Đức Giê-su nói lời cáo biệt với các môn đệ trước khi bước vào cuộc khổ nạn. Tự nhiên có một thắc mắc: “Đáng lẽ giờ phút này là giờ phút Con Người phải chịu nhục mạ, phỉ báng, đánh đòn và đóng đinh vào thập giá cho đến chết (Mt 20, 17-19; Lc 18, 31-33); nhưng tại sao Người lại nói “Giờ đây, Con Người được tôn vinh”? Câu trả lời cũng hiển nhiên như sự thật đã diễn ra: Nếu xét theo trình tự thời gian thì đúng là câu này phải được Đức Giê-su phát biểu sau khi Người Phục Sinh. Nhưng tất cả đã được Chúa Cha an bài từ trước vô cùng (xc “Bài ca Người Tôi Trung” – Is 52, 13-15; 53,1-12) và được chính Đức Ki-tô khẳng định: “Này chúng ta lên Giê-ru-sa-lem, và tất cả những gì các ngôn sứ đã viết về Con Người sẽ được hoàn tất. Quả vậy, Người sẽ bị nộp cho dân ngoại, sẽ bị nhạo báng, nhục mạ, khạc nhổ. Sau khi đánh đòn, họ sẽ giết Người, và ngày thứ ba Người sẽ sống lại.” (Lc 18, 31-33). Vì thế, từ “Giờ đây” ở đây diễn tả biến cố tương lai như một thực thể hiện tại, nghĩa là sự tôn vinh của Đức Giê-su chưa hoàn tất, mà lại được coi như đã xảy ra; xem như sự khổ nạn, sự chết và sống lại của Người đã được hoàn thành. Và có lẽ cũng vì thế nên Giáo Hội mới xếp bài Tin Mừng đó vào Chúa nhật V Phục Sinh.

Khi Giu-đa It-ca-ri-ốt đi khỏi, một bầu khí ấm cúng, thân mật và thật cảm động bao bọc Chúa Giê-su và các Tông đồ. Bầu khí ly biệt thật là thích hợp để Đức Giê-su tâm sự với các Tông đồ về một điều vô cùng quan trọng và cần thiết, đó là Tình yêu (“Giờ đây, Con Người được tôn vinh, và Thiên Chúa cũng được tôn vinh nơi Người. Nếu Thiên Chúa được tôn vinh nơi Người, thì Thiên Chúa cũng sẽ tôn vinh Người nơi chính mình, và Thiên Chúa sắp tôn vinh Người… Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: là anh em có lòng yêu thương nhau.” – Ga 13, 31-35). Như vậy, bài Tin Mừng hôm nay gồm có hai điểm chính: Đức Ki-tô tôn vinh Tình Yêu và Người truyền cho các môn đệ sống với nhau trong Tình Yêu.

a) Tôn vinh Tình Yêu: Đức Giê-su nhìn giây phút “giờ đây” Người sắp hiến mạng sống mình vì bạn hữu là thời điểm Người được tôn vinh. Cả cuộc đời trần thế 33 năm của Đức Giê-su đã chứng tỏ cho nhân loại biết Thiên Chúa yêu thương họ đến chừng nào (“Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời. Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ.” – Ga 3, 16-17). Cái chết và phục sinh của Đức Giê-su là dấu chỉ chiến thắng vinh quang của Tình Yêu Thiên Chúa và cũng là thời điểm Tình Yêu Nhập Thể được tôn vinh. Tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa, Đức Giê-su là Con Thiên Chúa vâng lệnh Chúa Cha xuống thế mặc xác phàm, hiến mạng sống cho người mình yêu là nhân loại, nên có thể nói Đức Ki-tô là hiện thân của Thiên Chúa Tình Yêu (Tđ “Thiên Chúa là Tình Yêu”, số 12). Vì thế, khi Đức Vua Tình Yêu Giê-su được tôn vinh, thì Thiên Chúa là chính Tình Yêu nên cũng phải được tôn vinh. Đó là nguyên lý tất yếu.

b) Thể hiện Tình Yêu: Lệnh truyền của Đức Giê-su là “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em”. Nói đến Tình yêu là nói đến nguyên nhân và kết quả. Thiên Chúa Tình Yêu là nguyên nhân phát sinh ơn Cứu Độ, thì kết quả là loài người được giải thoát khỏi tội lỗi và sự chết đời đời. Tình yêu Đức Giê-su Thiên Chúa dạy các môn đệ tất nhiên phải là tình yêu sinh hiệu quả. Hiệu quả cụ thể được nói đến ở đây là: “Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ Thầy”. Thật thế, khi chúng ta sống yêu thương khiến những người chung quanh nhận ra chúng ta là môn đệ Chúa, thì đó chính là cách chúng ta làm cho tình yêu của Thiên Chúa được tôn vinh. Một cách cụ thể thì đó là lời tha thiết mời gọi các môn đệ và mọi tín hữu hãy noi gương Người-hiện-thân-của-Tình-Yêu-Thiên-Chúa, thể hiện cách cụ thể Tình Yêu bằng những chứng tá bác ái trong cuộc sống đời thường. Vâng, chính những “Hoạt động bác ái của Hội Thánh như là một cách thể hiện tình yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi” (Tđ “Thiên Chúa là Tình Yêu”, số 19).

Như vậy là đã rõ tại sao trong lịch Phụng Vụ, Giáo Hội lại xếp vào Chúa nhật V Phục Sinh bài Tin mửng nói về những lời cáo biệt của Đức Giê-su trước khi bước vào cuộc khổ nạn. Cuộc khổ nạn, sự chết và sống lại của Đức Vua Tình Yêu Giê-su Ki-tô chính là đỉnh điểm Tình Yêu Thiên Chúa. Nói cách khác thì đó chính là công cuộc hiện thực hoá Lời Chúa: “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực, và hết trí khôn ngươi, và yêu mến người thân cận như chính mình.” (Lc 10, 27).

Bài học về tình yêu hôm nay Đức Giê-su giúp các tín hữu khám phá tình yêu qua những khía cạnh thật mới mẻ, sống động và cụ thể. Vâng, “Chúa Ki-tô đã chết và đã sống lại một lần cho tất cả và cho mỗi người, nhưng sức mạnh sự sống lại của Ngài, sự vượt qua từ tình trạng nô lệ sự ác đến tự do của điều thiện, phải được thể hiện trong mọi thời đại, trong mọi không gian cụ thể của cuộc sống chúng ta, trong đời sống mỗi ngày của chúng ta.” (ĐTC Phan-xi-cô I – “Sứ điệp Phục Sinh 2013”). Rõ ràng Đức Ki-tô dạy chúng ta biết tôn vinh Tình Yêu Thiên Chúa nơi chính Con Người và nơi những “người thân cận” trên khắp thế giới, không phân biệt màu da hay sắc tộc. Sống yêu thương là cách tốt nhất để ngợi khen tôn vinh Thiên Chúa. Và đã gọi là sống yêu thương, tức là phải thể hiện ra bằng cả tâm hồn và hành động, vì “Anh em đã được cho không, thì cũng phải cho không như vậy” (Mt 10, 8).

Tuy nhiên, “Ngày nay con người vẫn còn phải tiến qua bao nhiêu sa mạc! Nhất là sa mạc trong nội tâm con người, khi họ thiếu lòng mến Chúa yêu người, khi họ không ý thức mình là người gìn giữ tất cả những gì Đấng Tạo Hóa đã và đang ban cho chúng ta. Nhưng lòng từ bi Chúa có thể làm cho đất khô cằn nhất nở hoa, có thể tái ban sự sống cho những bộ xương khô (Xc Ez 37, 1-14)” (ĐTC Phan-xi-cô I – “Sứ điệp Phục Sinh 2013”). Quả thật, Tình yêu chỉ thực sự được tôn vinh khi người Ki-tô hữu sống trọn hảo điều răn trọng nhất: MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI.

Ôi! Lạy Chúa! Cúi xin Chúa ban Thần Khí Tình Yêu cho chúng con, để chúng con biết đem tình yêu vào cuộc sống. Chính tình yêu sẽ làm cho mọi công việc và hoạt động của chúng con – tuy tầm thường – nhưng vẫn chiếu toả trước mặt thiên hạ, để người ta nhận ra sự hiện diện của Chúa qua con người thấp hèn và bé mọn của chúng con. Amen.

 

Bài 8. Yêu người như Chúa
ĐTGM. Ngô Quang Kiệt

Bề trên một tu viện Công giáo đến tìm vị ẩn sĩ trên vùng núi Hi mã lạp sơn để trình bày về tình trạng bi đát của tu viện. Trước kia tu viện này là một trung tâm sầm uất. Khách hành hương tấp nập. Nhà thờ lúc nào cũng vang lừng tiếng hát ca cầu nguyện. Tu viện không còn chỗ nhận thêm người vào tu.

Vậy mà giờ đây tu viện chẳng khác một ngôi nhà hoang phế. Nhà thờ vắng lặng. Tu sĩ thưa thớt già nua. Cuộc sống buồn tẻ. Cha Bề trên hỏi vị ẩn sĩ nguyên nhân nào hay lỗi lầm nào đã khiến tu viện rơi vào tình trạng suy sụp như hiện nay. Vị ẩn sĩ ôn tồn bảo: “Các tội đã và đang xảy ra trong cộng đoàn đó là tội vô tình”. Ông giải thích thêm: “Đấng Cứu Thế đã cải trang thành một người trong quý vị, nhưng quý vị không nhận ra Người”.

Nhận được lời giải đáp, Cha Bề Trên hớn hở ra về. Cha tập họp các tu sĩ lại và loan báo cho họ biết Đấng Cứu Thế đang ẩn mình giữa cộng đoàn. Nghe nói thế, mọi người mở to mắt và quan sát nhau. Ai là Đấng Cứu Thế cải trang? Nhưng chắc chắn nếu Đấng Cứu Thế đã cải trang thì chẳng ai có thể nhận ra Người. Mỗi người sống chung với ta đều có thể là Đấng Cứu Thế.

Từ ngày ấy mọi người đều đối xử với nhau như với Đấng Cứu Thế. Mọi người kính trọng nhau. Mọi người quan tâm chăm sóc nhau. Mọi người phục vụ nhau. Chẳng bao lâu, bầu khí yêu thương huynh đệ, sự sống và niềm vui lại trở lại với tu viện. Khách hành hương bốn phương lại tấp nập tuốn về. Lời kinh tiếng hát lại vang lừng trong tu viện. Bị cuốn hút bởi bầu khí vui tươi thánh thiện, nhiều thanh niên đến xin gia nhập cộng đoàn.

Trước kia tu viện mất hết sức sống vì mọi người không thực hành Lời Chúa dạy. Sống cá nhân chủ nghĩa, thờ ơ lãnh đạm với nhau. Nay tu viện tràn đầy niềm vui và sức sống nhờ mọi người biết quan tâm đến nhau, yêu mến và phục vụ nhau.

Trước kia khách hành hương không muốn đến tu viện, các bạn trẻ không muốn vào tu viện vì tu viện không là dấu chỉ môn đệ của Chúa. Không sống theo Lời Chúa, các tu sĩ trở thành những hình ảnh mờ nhạt, không phản chiếu được nét đẹp của Thiên Chúa. Nay khách hành hương nườm nượp kéo đến, các bạn trẻ xếp hàng xin nhập tu, vì họ đã thấy nơi các tu sĩ có dấu chỉ của người môn đệ Đức Kitô, có lòng yêu thương nhau. Lòng yêu thương đã khiến các tu sĩ trở nên hình ảnh của rõ nét của Thiên Chúa, chiếu toả sự sống của Thiên Chúa, loan báo hạnh phúc Thiên đàng. Lòng yêu thương ấy có sức hấp dẫn, có sức thuyết phục, có sức mời gọi mãnh liệt vì qua đó, mọi người nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa.

Yêu thương nhau đó là giới răn của Chúa. Nhưng không phải yêu thương theo kiểu phàm trần. Người đời thường chỉ yêu những ai yêu mình, có lợi cho mình, theo bản tính ích kỷ của mình. Thiên Chúa muốn các môn đệ của Người phải yêu như như Thiên Chúa đã yêu.

Yêu như Thiên Chúa nghĩa là phải hy sinh quên mình, hạ mình phục vụ anh em. Yêu như Thiên Chúa nghĩa là phải yêu những người bé nhỏ nghèo hèn. Yêu như Thiên Chúa là phải yêu thương cả những người ghét mình, những người làm hại mình, những người khó thương khó ưa. Yêu như Thiên Chúa là phải không ngừng tha thứ, làm hoà với nhau.

Yêu như Thiên Chúa đó là sự sống của Giáo Hội. Yêu như Thiên Chúa làm nên nét đẹp của đạo. Nét đẹp ấy phản ánh dung nhan Thiên Chúa. Nét đẹp ấy có sức hấp dẫn mọi người đến cùng Chúa.

Lạy Chúa, xin dạy con biết yêu mến anh em như Chúa đã yêu thương con. Amen.

KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG

1. Theo bạn, thế nào là một tập thể có tình yêu thương?
2. Bạn đã có tình yêu thương đoàn kết với những anh chị em trong giáo xứ chưa?
3. Yêu thương như Chúa là yêu thương theo cảm tính hay theo lý trí? Tuần này, bạn sẽ làm gì để thực hiện điều răn mới của Chúa?


Bài 9. YÊU THƯƠNG NHAU
Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

Cả cuộc đời của Chúa Giêsu nói lên Tình Yêu. Ngài đã diễn tả Tình Yêu hoàn hảo, trọn vẹn nhất là cái chết trên thập giá: “Không có tình yêu nào cao vời bằng tình yêu của Người hiến mạng sống vì người mình yêu” (Ga 15, 13). Chúa nhật V Phục Sinh cho chúng ta thấy bối cảnh của Nhà Tiệc Ly, chiều Thứ Năm Thánh khi Chúa Giêsu dùng bữa tiệc Vượt Qua cuối cùng với các môn đệ, những người thân tin nhất với Chúa Giêsu. Ngài cho các môn đệ hiểu rõ về tình thương của Ngài đối với họ. Tình thương đòi phải trung thành không phản bội, giờ này Giuđa kẻ phản bội Chúa vẫn đang có mặt, Ngài đã tế nhị vạch mặt kẻ phản lại Ngài và Giuđa đã bỏ ra đi trong bóng đêm. Lúc đó, Chúa Giêsu nói: “Giờ đây, Con Người được tôn vinh, và Thiên Chúa cũng được tôn vinh nơi Người”.

Chúa Giêsu luôn hướng về giờ này. Giờ đau thương nhưng lại là giờ tử nạn. Giờ chết nhưng là Giờ Phục Sinh. Mầu nhiệm tử nạn đan quyện Mầu nhiệm sống lại. Thập giá là do sự độc ác của con người bầy ra để đóng đinh, xử tội người khác. Nhưng đối với Chúa Giêsu, Thập giá mang ơn cứu độ cho con người. Thánh giá trở nên vinh quang, khải hoàn. Giờ chết trở thành giờ cứu rỗi. Bóng tối trở nên ánh sáng. Giờ định mệnh xem ra là tang thương, nhưng giờ này lại là giờ vinh hiển bới qua cái chết, Chúa đã đánh bại tử thần. Qua cái chết, và Phục sinh, Chúa đã cứu độ nhân thế. Giờ ăn lễ Vượt qua cuối cùng, Chúa đã bộc bạch tâm tình cho các môn đệ. Ngài gặp gỡ các môn đệ để chia ly với các môn đệ: “Thầy còn ở với anh em một ít lâu nữa thôi”. Chúa tỏ hết tâm hồn yêu thương các môn đệ và rồi Ngài dạy dỗ các môn đệ “Hãy yêu thương nhau”. Ra đi để chịu chết, Chúa Giêsu không để lại cho các môn đệ của cải, vàng bạc, ruộng vườn v.v… Ngài để lại cho các môn đệ một di chúc, một lời trăn trối yêu thương. Đây là giới luật yêu thương. Chúa không chỉ nói với các môn đệ riêng tư là hãy yêu thương nhau nhưng Ngài còn đi xa hơn nữa là dạy cả Giáo Hội phải sống chia sẻ Tình Thương. Chiều thứ năm thánh, Chúa Giêsu đã dạy các môn đệ một bài học yêu thương: “Hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương”. Ở đây không phải chỉ là tình bằng hữu nhưng là tình thương thật sự. Tình thương hiến mạng sống cho nhau.

Tình yêu mà Chúa truyền cho các môn đệ thực hành là tình yêu phát xuất từ Thiên Chúa. Tình yêu không nằm trên môi miệng, trong lời nói mà tình yêu diễn tả bằng chính mạng sống của con người. Do đó, người Kitô hữu càng gắn bó với Chúa, càng mật thiết với Chúa, họ càng yêu thương như Chúa, đặc biệt quan tâm, yêu thương các người nghèo, người neo đơn, cơ nhỡ, tàn tật v.v… Các Thánh đã làm gương cho chúng ta về giới luật yêu thương chẳng hạn như Chân Phước Têrêsa Calcutta, Cha thánh Maximialô Kolbê, Thánh Phanxicô Assisi, Thánh Anphongsô v.v… Nhiều bác sĩ đã tận tình làm công việc từ thiện bác ái giúp đỡ người nghèo, và những người neo đơn, cơ cực. Nhiều thiện nguyện viên trên thế giới đã lăn xả làm việc không mệt mỏi giúp đỡ những người nghèo khổ, những nơi có bão lụt, thiên tai v.v… Đức Bác Ái Kitô giáo không phải là một lời khuyên nhưng là một điều răn mới. Yêu nhau quả thực từ xưa đến nay vẫn đã được con người thực hành, nhưng mới ở chỗ, Chúa Giêsu nói và đã thực hiện là không loại trừ bất cứ ai cả, đặc biệt mới là yêu thương ngay cả kẻ thù: “Ai vả má phải, đưa cả má trái”. Yêu như Chúa yêu. Đó là cái mới của giới luật yêu thương mà Chúa đã dạy cho nhân loại.

Yêu thương là cốt lõi của Tin Mừng Chúa Giêsu. Yêu thương cũng là cốt lõi của Đạo Công Giáo. Bởi vì, Chúa Giêsu đã dạy: “Các con hãy yêu thương nhau như Thầy đã thương các con”. Nơi khác chúng ta đọc thấy: “Cứ dấu này người ta sẽ nhận ra các con là môn đệ của Ta. Đó là các con hãy yêu mến nhau”. Cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi, Sách Công Vụ Tông Đồ thuật lại: “Họ bỏ tất cả làm của chung, cùng nhau cầu nguyện, bẻ bánh… đến nỗi những người chung quanh đều kêu lên: “Kìa xem họ yêu thương nhau”.

Yêu thương là cái tinh túy nhất của Đạo do Chúa Giêsu thiết lập. Liệu chúng ta có sống thực hành đức ái như Chúa đã dạy không và nhiều người khi nhìn vào chúng ta họ có kêu lên: “Kìa xem các Kitô hữu yêu thương nhau” không?

Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con luôn biết thực hành giới răn của Chúa là yêu thương như Chúa đã yêu thương chúng con.Amen.

GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ:

1.Chúa ban giới luật yêu thương lúc nào?
2.Cái mới của giới luật yêu thương do Chúa thiết lập là gì?
3.Yêu như Thầy yêu là sao?
4.Yêu thương là gì đối với Đạo Công Giáo?


Bài 10. Hãy yêu như chính Thầy
Jos. Vinc. Ngọc Biển

Đọc lại lịch sử Giáo hội Công giáo Việt Nam thuở ban đầu, chúng ta thấy cha ông chúng ta sống hết lòng yêu thương và đoàn kết với nhau. Các ngài đã lấy Chúa làm trung tâm, làm điểm tựa cho mọi hoạt động. Lấy tinh thần bác ái, yêu thương làm nên bản chất của mình. Vì thế, những người ngoài Công giáo thời đó không biết tiền nhân của chúng ta theo đạo gì mà lại sống những giá trị cao đẹp như vậy, nên họ nói với nhau: những người này họ sống “Đạo Yêu Nhau”.

Tại sao các tín hữu lại có lối sống như thế? Lối sống đó bắt nguồn từ đâu? Thưa, mọi giá trị và ưu phẩm đó khởi đi từ một Đấng đã sống và dạy cho con người bài học “yêu thương”.

1. Đức Giêsu là hiện thân của tình yêu giữa Chúa Cha và loài người

Từ lúc xuống thế, nhập thể để ở với loài người, Đức Giêsu đã sống và đem “Đạo Yêu” đến trần gian. Ngài đã diễn tả nó qua hành động và lối sống của Ngài để làm toát lên khuôn mặt của một Thiên Chúa hết lòng yêu thương con người. Tình yêu ấy được bắt nguồn từ Thiên Chúa Cha:“Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3,16). Đến lượt Đức Giêsu, Ngài cũng sống triệt để sứ mạng đó khi yêu và yêu đến cùng bằng việc chết trên thập giá để hiến mạng vì người mình yêu: “Không có mối tình nào lớn lao cho bằng mối tình của kẻ chết vì người mình yêu” (Ga 15,13).

Quả thật:

Vì yêu, “Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế” (Pl 2,6-8).

Vì yêu, Đức Giêsu đã chấp nhận sinh ra nơi máng cỏ bò lừa giữa đêm đông lạnh giá. Chấp nhận bị phiêu bạt nơi đất khách quê người vì vua Hêrôđê bạo chúa tìm cách bắt bớ. Khiêm tốn vâng lời cha mẹ của Ngài là Thánh Giuse và Mẹ Maria.

Vì yêu, Đức Giêsu đã hạ mình để Gioan làm phép rửa thống hối cho Ngài, mặc dù Ngài vô tội; đã ăn chay suốt 40 đêm ngày để làm gương cho mỗi chúng ta; đã rao giảng Tin Mừng khắp đó đây để cho mọi người được ơn cứu độ; luôn cảm thông với người tội lỗi, nâng đỡ kẻ yếu đuối, vỗ về người thất vọng. Ngài đã “chạnh lòng thương” đến đoàn chiên bơ vơ không người chăn dắt; đã nuôi sống họ bằng phép lạ hóa bánh ra nhiều; đã chữa lành những người ốm đau tật nguyền; đã cúi xuống rửa chân cho các môn đệ; đã làm ơn cho kẻ hại mình; đã yêu luôn cả kẻ thù và sẵn sàng tha thứ cho họ.

Vì yêu, Đức Giêsu đã trao ban chính mình Ngài cho chúng ta qua Bí tích Thánh Thể và ở lại mọi ngày với loài người cho đến tận thế. Vì yêu, Ngài đã chấp nhận bị môn đệ thân tín bán đứng, bị Phêrô chối là không biết mình và bị người đời khinh khi nhục mạ. Cuối cùng, đã đón nhận chính cái chết để cứu chuộc loài người.

Như vậy, cả cuộc đời của Đức Giêsu đã sống và chết vì yêu. Qua đó, Ngài cũng dạy cho các môn đệ bài học về tình yêu: “Đây là Điều Răn của Thầy: Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 15,12); hãy yêu như Thầy: “Không có tình yêu nào quý hơn tình yêu của người hiến mạng vì người mình yêu” (Ga 15,13).

“Hãy yêu thương nhau” là gia tài, là di chúc của Đức Giêsu dành cho các môn đệ khi sắp lên đường chịu chết. Lời trăng trối này thật thiêng liêng trong một không gian thánh giữa lúc thầy trò chuẩn bị ly biệt: “Hỡi anh em là những người bé nhỏ của Thầy, Thầy còn ở với anh em ít lâu nữa thôi”, vì thế, “anh em hãy yêu thương nhau”.

2. Tại sao lại phải yêu thương nhau?

Có yêu thương nhau thì mới cùng nhau vượt qua được thử thách khi thấy cảnh Thầy của mình bị bắt, bị trói, bị đánh đập và bị giết chết trần trụi trên thập giá.

Có yêu thương nhau thì mới đón nhận nhau là anh em và không tranh dành chỗ cao thấp trong cuộc đời khi không còn Thầy hiện diện ở giữa nữa.

Có yêu thương nhau thì mới cùng nhau loan truyền và làm chứng về Thầy cho người khác.

Có yêu thương nhau thì mới đến được với người nghèo, người khổ đau, bệnh tật để an ủi họ. Mới dám cùng nhau chấp nhận cái chết để minh chứng cho mọi người biết mình đã tin vào Đấng là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống.

Yêu nhau và dám chết cho nhau thì mới là người đáng tin và mọi người mới biết mình tin vào ai. Ngược lại, chỉ yêu nhau trong những lúc vui vẻ, thành công thì chỉ là một thứ tình yêu đầu môi chóp lưỡi.

Lời trăng trối của Đức Giêsu không chỉ là “hãy yêu thương nhau”, mà còn đi một bước xa hơn và mới hơn nữa là “hãy yêu như chính Thầy”. Yêu nhau là tình bằng hữu, nhưng chết cho nhau là một tình yêu cao cả. Yêu như Thầy là dám chết cho người mình yêu. Yêu như Thầy là một tình yêu bằng cả cuộc đời: từ lời nói, hành động và cái chết luôn thống nhất với nhau.

Nếu yêu thương nhau là cốt lõi của Tin Mừng, thì chết cho nhau là đỉnh cao của tình yêu ấy. Khi yêu nhau, ta làm toát lên vẻ đẹp của mình, khơi gợi cho con người niềm hy vọng và xác tín mạnh mẽ vào Đấng đã yêu thương chúng ta trước. Và như thế, “mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: là anh em có lòng yêu thương nhau” (Ga 13,35). Khi yêu như thế, ta cũng được ở lại trong Chúa và Chúa ở trong ta. Bởi vì, “Thiên Chúa là Tình Yêu: ai ở lại trong tình yêu thì ở lại trong Thiên Chúa và Thiên Chúa ở lại trong người ấy” (1 Ga 4,16).

Yêu thương là yếu tính của Đạo chúng ta. Cha ông chúng ta đã sống và làm chứng cho những giá trị cao quý ấy bằng cả mạng sống của mình để minh chứng niềm tin vào Đấng đã yêu và chết cho mình trước. Đấng ấy là chính Đức Giêsu. Hoa trái của các ngài đã toả lan và lưu truyền nơi Giáo Hội. Còn chúng ta, chúng ta đã thực hiện Lời Chúa dạy về đức yêu thương như thế nào? Xin để lại nơi suy nghĩ của mỗi chúng ta trước mặt Chúa…


Bài 11. Như Thầy đã yêu
Thiên Phúc

Vào năm 1995, xảy ra một trận động đất lớn chưa từng có ở Kôbê, nước Nhật, cả một thành phố hầu như đổ xuống thành một đống gạch vụn khổng lồ. Thiệt hại về người và của không biết cơ man nào mà kể. Các đội cứu hộ làm việc ngày đêm để lôi ra khỏi những đống gạch vụn vô vàn người chết, người bị thương. Trong các tai hoạ vô cùng khủng khiếp ấy, người ta lại khám phá ra một câu chuyện hết sức cảm động, mà tiếng vang của nó còn mạnh hơn cả sức chấn động của cơn động đất. Người ta kể lại rằng, đến ngày thứ hai của cuộc tìm kiếm nạn nhân, họ đào lên được dưới toà nhà đổ nát hai mẹ con vẫn còn sống: Đứa con nhỏ khoảng mấy tháng tuổi vẫn còn thoi thóp, và người mẹ đã hoàn toàn bất tỉnh.. Sau khi cấp cứu cho hai mẹ con vượt qua cơn thập tử nhất sinh, các nhà báo đã phỏng vấn bà mẹ: Làm thế nào mà cả hai mẹ con chị có thể sống được hai ngày dưới đống gạch vụn ấy Chị đáp: Tuy bị chôn vùi dưới toà nhà đổ nát, nhưng có một cái đà đã che chắn cho mẹ con tôi. Sau vài tiếng đồng hồ thì con tôi quá đói vì hai bầu sữa của tôi cháu đã uống cạn. Tôi liền mò mẫm trong bóng tối và đụng phải một vật sắc bén. Tôi liền vồ lấy và rạch một đường nơi cổ tay, đẩy miệng con tôi vào cho cháu mút giòng máu nóng. Cháu yên lặng được vài tiếng thì cơn đói lại cào cấu, và cháu lại gào lên khóc. Tôi liền rạch thêm một đường nữa nơi cổ tay bên kia, đưa vào miệng cháu. sau đó, tôi không còn biết gì nữa? Thế chị không nghĩ rằng làm như thế thì chị sẽ chết hay sao? Tôi không hề nghĩ đến cái chết của mình, mà chỉ nghĩ làm cách nào cho con tôi được sống.

Tình yêu hy sinh quên mình, tình yêu hiến dâng mạng sống của người mẹ dành cho đứa con trong câu chuyện trên đây, là lời minh chứng hùng hồn cho lời dạy của Đức Kitô trong bài Tin Mừng hôm nay: “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em”. Yêu như Thầy đã yêu chính là cúi xuống rửa chân cho nhau để bày tỏ một tình yêu sâu thẳm, cho dù người ấy là Giuđa, kẻ phản bội tình yêu. Yêu như Thầy đã yêu chính là hạ mình xuống ngang hàng với người mình yêu để cảm thông, chia sẻ và yêu thương như bạn hữu thân tình. Yêu như Thầy đã yêu chính là yêu cho đến cùng, yêu cho đến chết và chết trên thập giá. Vâng, kể từ khi Con Thiên Chúa đã yêu thương nhân loại cho đến cùng, thì luật yêu thương đã trở thành điều răn mới, mới ở đây chính là yêu như Thầy đã yêu.

Chúng ta chỉ có thể yêu như Thầy đã yêu khi chúng ta cảm nghiệm sâu xa tình yêu sâu nặng mà Người đã dành cho chúng ta. Chúng ta chỉ có thể yêu như Thầy đã yêu khi chúng ta dám quên mình, bắt chước Thầy, cúi xuống trước anh em. Chúng ta chỉ có thể yêu như Thầy đã yêu khi chúng ta dám xả thân, yêu cùng mức độ như Thầy, hiến dâng mạng sống cho anh em. Như vậy, yêu như Thầy đã yêu không phải là tình yêu vị kỷ (Eros) yêu người khác nhưng chỉ để lợi dụng, chiếm đoạt cho riêng mình, vì mình mà thôi; nhưng chính là tình yêu vị tha (Agapé) sẵn sàng hiến dâng, hy sinh cho kẻ khác. Yêu như Thầy đã yêu chính là một dòng chảy không ngừng. Từ suối nguồn yêu thương của Thiên Chúa tuôn đổ xuống chúng ta, qua Thánh Thần Tình Yêu của Người, rồi từ con tim tràn đầy yêu thương của chúng ta, dòng suối tình yêu lại tuôn tràn sang những người anh em khác.

Nếu tình yêu như một dòng chảy liên kết chúng ta lại với Chúa, thì chính tình yêu ấy cũng liên kết chúng ta lại với nhau. Và đó cũng chính là dấu chỉ của môn đệ Đức Kitô: “Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy. Là anh em có lòng yêu thương nhau” (Ga 13,35).

Lạy Chúa, nếu “đồng phục của người Kitô hữu là yêu thương” thì xin cho chúng con luôn tỏa sáng trong cuộc sống những lời nói yêu thương, những nghĩa cử nhân hậu, những hành động xả thân cho anh em, để xứng đáng làm môn đệ Đấng đã yêu thương chúng con cho đến cùng.

Xin cho suối nguồn tình yêu của Chúa tuôn chảy vào tâm hồn chúng con, không đọng lại như nước ao tù, nhưng luôn là dòng chảy tình yêu đến với mọi người, để khắp thế giới tràn đầy tình yêu. Amen.


Bài 12. Giới răn yêu thương
R. Veritas.

Ngày nay, nếu có ai ghé thăm Tientina Alba, một làng nằm ở phía bắc Rumani, đều trông thấy bên ngoài làng có một gò đất lớn, bên trên cắm một cây Thánh Giá thật to. Đó là nấm mồ tập thể của 5,000 tín hữu Công giáo thuộc Giáo hội Đông phương nước Rumani đã bị quân xâm lược sát hại vào buổi sáng ngày lễ Phục Sinh ngày 1/04/1941.

Tientina Alba trong tiếng Rumani có nghĩa là “Suối trắng”. Nhưng vào một buổi sáng cách đây hơn nửa thế kỷ nó đã trở thành một con suối máu của 5,000 người Công giáo chết vì Chúa Kitô. Quân xâm lược đã triệt để thi hành chính sách tiêu diệt tôn giáo. Người dân Rumani sống tại vùng này đều thuộc Giáo hội Công giáo Đông phương, nên đó là một chướng ngại lớn đối với đường lối xâm lăng diệt chủng này.

Anh chị em thân mến!

Biến cố thương đau trên đây trong lịch sử Giáo hội Rumani giúp chúng ta hiểu được phần nào sứ điệp của Tin Mừng Chúa Nhật V Phục Sinh hôm nay. Đó là điều giúp chúng ta có thể bước vào cuộc sống Phục Sinh vinh quang trên thành thánh Giêrusalem thiên quốc. Người Kitô hữu cũng phải đi theo con đường của Chúa Giêsu Kitô bước đi trên con đường tăm tối của bắt bớ, khổ đau và cái chết.

Thành thánh Giêrusalem thiên quốc như đã diễn tả trong chương 21 của sách Khải Huyền là một kinh thành kỳ lạ, nó là điểm thành toàn của lịch sử cứu độ cứu độ sau khi vượt thắng tất cả mọi lực lượng lịch sử xã hội tiêu cực và chiến thắng kinh thành thế tục gian ác tội lỗi của trần gian này. Sau khi chiến thắng kinh thành Babylon hiện thân của mọi quyền lực chính trị, ý thức hệ và kinh tế trần gian bắt bớ chống đối Giáo hội, sau khi đánh tan mọi lực lượng sự dữ do ma quỉ chỉ huy, cộng đoàn Kitô hữu hân hoan khải hoàn bước vào kinh thành thiên quốc. Họ bước vào trời mới đất mới, nơi không còn khóc than, khổ đau, chết chóc, buồn thương và mệt nhọc nữa.

Bởi vì, thế giới cũ đã qua rồi và mọi sự đã được đổi mới. Giờ đây, họ được sự hiện diện rạng ngời của Thiên Chúa, Đấng ở cùng chúng tôi. Nhưng trước đó, con đường của Giáo Hội lữ hành là con đường khổ nạn của Chúa Giêsu.

Trong khung cảnh thân tình của bữa Tiệc Ly, Chúa Giêsu đã nói với các tông đồ lời tâm huyết. Sau khi Giuđa, kẻ phản bội Ngài rời khỏi nhà Tiệc Ly để đi vào đêm tối mịt mù. Đêm tối của tâm hồn và cuộc đời Giuđa và đêm tối của thế giới.

Qua đó, Chúa Giêsu mới thổ lộ cho các tông đồ biết rõ hơn con đường dẫn Ngài tới chỗ vinh quang, đó là con đường của Thập Giá. Chính khi bị treo khổ nhục trên Thập Giá, cũng là chính lúc Chúa Giêsu được tôn vinh và thành toàn chương trình cứu độ trần gian của Ngài.

Như vậy, những khổ hình Thập Giá thay vì dấu chỉ của hình phạt, thì nó lại trở thành dấu tích yêu thương cao vời nhất mà Thiên Chúa và Chúa Giêsu đã dành cho con người. Do đó, chỉ những ai sống yêu thương mới hiểu được cái logic ngược đời ấy của Thập Giá. Đồng thời đây cũng là kiểu cách hành động của Thiên Chúa.

Giới răn yêu thương mà Chúa Giêsu trăn trối lại cho các tông đồ và cho cộng đoàn Giáo hội thật mới mẻ, vì nó diễn tả thái độ dấn thân tuyệt đối và trọn vẹn mà Chúa Giêsu đã ký kết với loài người bằng chính máu của Ngài. Tình yêu thương ấy là tình yêu thương hai chiều bình đẳng giữa các tín hữu. Bởi vì trong cộng đoàn ai cũng cần yêu thương và được yêu thương. Nhưng từ nay không còn chuyện yêu người như yêu mình nữa, mà yêu người như chính Thầy đã yêu chúng con, nghĩa là Kitô hữu phải yêu thương nhau với cùng cường độ trong cùng tâm tình và kiểu cách của Chúa Giêsu là tận hiến vô biên và trọn vẹn. Tình yêu thương của Chúa Giêsu là suối nguồn, mẫu mực và linh hồn tình yêu thương của Kitô hữu. Và sau cùng, tình yêu ấy là căn cước, là chứng tích sống động giúp nhận ra ai là thành viên thực sự thuộc cộng đoàn Giáo Hội của Chúa Giêsu Kitô.

Trong chương 14 sách Tông đồ Công vụ, thánh Phaolô cũng chỉ cho chúng ta con đường chắc chắn giúp tiến về kinh thành Giêrusalem. Đó là noi gương Chúa Giêsu can đảm tiến bước trên con đường Thập Giá của lòng tin.

Phần thứ hai của sách Tông đồ Công vụ, các chương 13-28 nêu bật sự truyền giáo của thánh Phaolô. Các trình thuật cho chúng ta thấy ba nhân tố thần học song song quan trọng sau đây:

1. Gương mặt của Saolô lòng đầy hận thù, hăng hái tìm cách bắt hại và bỏ tù tất cả những ai tin vào Tin Mừng của Chúa Giêsu và gương mặt của một Phaolô không ngừng thôi thúc Kitô hữu vững vàng trong lòng tin và kiên trì chịu đựng mọi bắt bớ gian lao thử thách vì Chúa Giêsu Kitô.

Kinh nghiệm cuộc gặp gỡ đổi đời với Chúa Kitô Phục Sinh đã khiến cho Phaolô xác tín rằng con đường duy nhất giúp hiện thực ơn gọi làm người toàn vẹn là bước theo Chúa Giêsu Kitô và sống Tin Mừng của Ngài, cho dù có phải trả giá đắt đỏ bằng chính sự sống của mình đi nữa.

2. Nhân tố thần học song song thứ hai là kinh nghiệm đau khổ mà thánh Phaolô phải chịu vì Thập Giá Chúa Kitô và kinh nghiệm bách hại mà cộng đoàn Kitô phải sống. Phaolô đã lâm cảnh lao đao lận đận, ba chìm bảy nổi chín cái lênh đênh vì Chúa Kitô và vì Tin Mừng của Ngài. Và Kitô hữu trong cộng đoàn tiên khởi thời đó cũng như trong các thế hệ sau này khắp nơi trên thế giớiđều phải sống kinh nghiệm Thập Giá như thầy mình là Chúa Giêsu Kitô.

Chỉ khi biết phám phá ra cái logic lạ lùng ngược đời ấy, con người và thế giới mới tìm được thế quân bình hạnh phúc trọn vẹn thời khai nguyên vũ trụ và mới thực hiện được chương trình sống mà Thiên Chúa muốn.

Nói cách khác, con đường dẫn đến cuộc sống giờ đây là con đường dẫn tới Thập Giá và khổ đau mà Kitô hữu cần phải chấp nhận mỗi ngày trong tâm tình của Chúa Giêsu Kitô, để sinh vào cuộc sống và thế giới này, để mở mắt nhìn thấy cha mẹ, người thân, mặt trời, trăng sao, thú vật và hoa cỏ xinh tươi. Đứa bé nào cũng phải xé lòng mẹ và khóc tiếng chào đời. Nó chào đời và đời chào đón nó bằng tiếng khóc pha trộn nỗi vui mừng và niềm hy vọng.

3. Mấu điểm thần học song song thứ ba được nêu bật trong phần 2 của sách Tông Đồ Công Vụ là cái song song giữa kiểu cách mà Thiên Chúa hướng dẫn cuộc sống của thánh Phaolô với kiểu cáchThiên Chúa hướng dẫn cộng đoàn Kitô hữu, Giáo hội và thân mình mầu nhiệm của Ngài.

Trên con đường cuộc sống lòng tin, chúng ta tất cả đều cần đến người hướng đạo có nhiều kinh nghiệm chỉ bảo, khuyên nhủ và khuyến khích. Thánh Phaolô đã được Annania chỉ bảo, giảng giải và hướng dẫn trên con đường cuộc sống mới do Chúa Kitô Phục Sinh chỉ vẽ cho ông. Giờ đây thánh nhân chọn lựa các linh mục, các vị hữu trách có nhiệm vụ hướng dẫn cộng đoàn Kitô hữu. Đó là những vị bô lão. Bô lão ở đây không ám chỉ sự già dặn của tuổi tác cho bằng sự già dặn kinh nghiệm trong cuộc sống lòng tin, lòng tin cậy trông và lòng mến.

Vị linh mục, người lãnh đạo tinh thần của cộng đoàn già dặn về tuổi tác là một phần thứ yếu, nhưng phải già dặn về kinh nghiệm sống thân tình với Thiên Chúa và thông hiểu giáo huấn Tin Mừng của Chúa cũng như giáo huấn của Giáo hội, đó là điều thiết yếu mà linh mục cần phải có. Chúng ta hiểu tại sao trước khi trao cho Phêrô trọng trách hướng dẫn Giáo Hội, Chúa Giêsu đã ba lần hỏi xem ông có yêu mến Ngài hơn những người này không? Chính tình yêu là linh hồn của công tác rao giảng nước Chúa và là hộ chiếu giúp tín hữu được bước vào kinh thành hạnh phúc. Nó là một tình yêu trọn vẹn trong mọi chiều kích thần học cũng như xã hội ở đời này cũng như trong cuộc đời mai sau. Amen.


Bài 13. Trời mới đất mới
Lm. Jos. Phạm Thanh Liêm

Thiên Chúa là Đấng luôn mới, Ngài luôn có những chương trình và sáng kiến tuyệt vời để can thiệp và cứu độ con người trong những tình huống khác nhau. Ngài vẫn tiếp tục làm mới tất cả và đặc biệt con người. “Này đây Ta làm mới tất cả”

“Trăng bao nhiêu tuổi trăng già?
Núi bao nhiêu tuổi, vẫn là núi non!”

Một đồ vật, cũ theo thời gian. Một cái máy, không làm cái gì “mới” vì người ta biết cái gì sẽ xảy ra. Làm một cách “máy móc”, nghĩa là người ta có thể biết những hành động tiếp sau.

Con vật không có tự do, thế nên người ta có thể kiểm soát và chi phối chúng, bắt chúng làm theo ý người ta; chẳng hạn những con vật được dùng để làm xiếc. Khi một người nô lệ tiền bạc, người khác có thể dùng tiền bạc để chi phối hay điều khiển họ. Một người ham sắc, có thể bị điều khiển bởi người nữ. Chuyện Bao Tự- Kỷ vương là một thí dụ. Những người như vậy, tuy tự do mà chẳng tự do. Ai mà không thể cưỡng lại điều gì, e rằng người đó không còn tự do nữa.

Con người luôn luôn mới vì con người luôn tự do. Con người, có thể thay đổi. Đổi thành tuyệt hơn hoặc tệ hơn. Tốt hơn và tuyệt hơn, không phải là chuyện “đã qua”, nhưng luôn là chuyện “hiện tại”. Vấn đề không là “quá khứ tôi tốt”, nhưng chính yếu là “lúc này tôi có tốt không?” Vấn đề không là “hôm qua nó xấu”, nhưng chính yếu là “bây giờ người đó thế nào?” Con người, luôn luôn có thể mới. Không ai biết được! Những lần trước, họ như vậy, nhưng không có nghĩa họ như vậy lần này. 999 lần trước, họ như vậy, nhưng lần này, có thể họ khác. Con người có thể mới, con người luôn luôn có thể mới.

Con người có tự do, không ai bắt họ “đổi” được. Cha mẹ, anh em, những người thân, muốn điều tốt cho họ, thế nhưng tất cả đều bất lực. “May ra Thiên Chúa có thể làm gì được chăng!” Thiên Chúa có thể làm được, nhưng Ngài lại cho con người “tự do”, nên dường như Ngài cũng “bất lực”!

Chỉ có Thiên Chúa mới có thể biến đổi con người mà con người vẫn tự do. Thiên Chúa có thể làm điều đó, vì Ngài yêu con người vô cùng. Ngài có cách làm con người biến đổi. Dường như chỉ Thiên Chúa mới có thể làm con người biến đổi, vì “dường như” chỉ Thiên Chúa mới yêu thương “ai đó” vô cùng! Tình yêu có sức biến đổi con người mà con người vẫn tự do.

Thiên Chúa vẫn đang làm mới tất cả, qua Đức Yêsu chết và phục sinh.

Yêu nhau như Thầy yêu anh em

“Thầy để lại cho anh em một giới răn mới, là anh em hãy yêu thương nhau. Như Thầy yêu thương anh em, anh em hãy yêu thương nhau. Cứ dấu này mà người ta nhận biết anh em là môn đệ Thầy, là anh em yêu thương nhau”.

Luật Cựu Ước dạy: “yêu thương tha nhân như chính mình” (Lv.19, 18). Chúa Yêsu dạy: “yêu thương tha nhân như chính Chúa yêu thương chúng ta”. Chúa đã yêu thương chúng ta đến độ Ngài sẵn sàng chết để chúng ta được sống, và Ngài mời gọi mỗi người hãy yêu thương người khác như Ngài yêu họ.

Yêu thương người khác như chính mình, đã là một điều khó; phương chi bây giờ Ngài mời gọi yêu thương đến hiến mạng sống cho tha nhân. Ai dám nói yêu thương là điều dễ? Yêu, phải hy sinh quên mình, và làm tất cả những gì là tốt lành cho người mình yêu.

Dấu chỉ để nhận ra một người là môn đệ Chúa, không là “được rửa tội”, không là “có đi lễ Chúa Nhật”, cũng không là “mặc áo dòng”, mà là “yêu thương nhau”! Không yêu thương nhau mà nhận mình là người theo Chúa, là phản chứng. Không yêu thương mà nói mình biết Thiên Chúa, là nói dối; vì “ai yêu thương thì biết Thiên Chúa; ai không yêu thương thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là tình yêu” (1Ga.4, 7-8). Cái biết ở đây, không là biết nói “như con vẹt”, nhưng là biết bằng hành động, bằng con tim, bằng cảm nhận.

Thiên Chúa đang làm mới tất cả qua những trung gian

Thánh Thần Thiên Chúa đã dùng các Kitô hữu sai gởi Phao-lô và Barnaba đi rao giảng Tin Mừng. Thiên Chúa đã dùng Phao-lô và Barnaba để rao giảng và củng cố đức tin của các tín hữu.

Thiên Chúa vẫn đang dùng những con người hôm nay, những Ki-tô hữu, để làm con người đương thời tin vào Tin Mừng, tin vào Thiên Chúa, tin vào con người. Thiên Chúa đang làm mới tương quan giữa con người và Thiên Chúa qua các chứng nhân rao giảng Tin Mừng, qua thừa tác viên bí tích hoà giải. Thiên Chúa đang làm mới tương quan giữa người với người qua việc làm con người tin vào nhau, khi Thiên Chúa làm cho con người biến đổi, khi Thiên Chúa làm cho con người tin vào Thiên Chúa để có thể tin vào nhau.

Thiên Chúa vẫn đang làm mới con người, trái đất này, vũ trụ này qua những trung gian và phương tiện khác nhau. Khi tin vào Thiên Chúa, tin vào Đức Kitô, chúng ta trở thành con người mới, tạo vật mới.

Tạ ơn Chúa, và cám ơn tất cả mọi người- những trung gian của Chúa cho tôi.

Câu hỏi gợi ý chia sẻ:

1. Bạn có thấy ai chán nản và tuyệt vọng không? Đâu là nguyên do làm con người tuyệt vọng?
2. Con người luôn có thể không trung tín, vậy tại sao con người có thể tin vào nhau? (chẳng hạn vợ chồng, bạn bè)
3. Bạn có kinh nghiệm được Thiên Chúa dùng như trung gian để làm mới ai đó không? Nếu được xin bạn chia sẻ.


Bài 14. GIỚI LUẬT YÊU THƯƠNG
Lm Giuse Đinh Lập Liễm

A. DẪN NHẬP

Yêu thương ! Đây là một đề tài rất quen thuộc và rất phổ biến đối với thời đại chúng ta. Người ta hay thảo luận, quảng cáo, ca ngợi tình yêu dưới nhiều hình thức như tiểu thuyết, phim ảnh, truyền hình, báo chí… Nhưng thứ tình yêu mà người ta bàn đến là thứ tình yêu nào? Thật là hàm hồ không thể xác định được.

Tình yêu thương mà chúng ta bàn đến hôm nay là thứ tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa, một thứ tình yêu cao quí giúp cho con người vươn tới Thiên Chúa là tình yêu (1Ga 4,8). Tình yêu này là cốt lõi trong Đạo và đã trở thành giới luật: “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa là Thiên Chúa ngươi… Ngươi phải yêu mến tha nhân như chính mình” (Mt 22,37-39). Giới luật này đã được ghi trong sách Thứ luật và sách Lêvi..

Nếu giới răn yêu người đã có sẵn trong sách Lêvi, tại sao hôm nay Đức Giêsu lại còn đưa ra một giới răn mới về giới luật yêu thương: “Các con hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương các con” (Ga 13,34)? Sở dĩ giới răn Đức Giêsu đưa ra được gọi là mới vì nội dung của nó phong phú hơn, và nó đã được đổi mới. Nó phong phú không tại chữ “yêu” mà tại chữ “như”. Như vậy là Ngài có ý nói: chúng ta phải yêu thương nhau như Ngài đã yêu thương. Ngài đã làm thế nào chúng ta phải làm như vậy.

Hãy sống với nền văn minh tình thương mà Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã nhiều lần nói tới. Giới răn yêu thương của Đức Giêsu đòi hỏi chúng ta phải có nhiều nỗ lực trong việc thực hiện. Thực ra, Đức Giêsu đã làm gương, đã thực hiện trước, chúng ta chỉ việc dấn bước theo gương Ngài. Đây là một việc khả thi, không vượt quá sức chúng ta. Với sự trợ lực của Chúa cùng với sự cố gắng của chúng ta, chúng ta sẽ thực hiện được, và qua đó, người ta sẽ nhận ra chúng ta là môn đệ của Ngài (Ga 13,35).

B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA

Bài đọc 1Cv 14,20-26.

Bài đọc này chấm dứt hành trình truyền giáo đầu tiên của thánh Phaolô và Barnabê. Trước khi ra đi, hai vị Tông đồ củng cố các giáo đoàn mới thành lập, khuyên nhủ họ giữ vững lòng tin trong cơn thử thách gian nan, nếu muốn cho Nước Chúa được mở rộng.

Sau khi cắt đặt các chức việc phụ trách các cộng đoàn, hai vị trở về cộng đoàn đã sai mình đi, báo cáo thành quả của việc rao giảng.

Bài đọc 2Kh 21,1-5.

Đây là thị kiến cuối cùng của thánh Gioan. Bài này mở ra một thế giới mới và một trật tự mới các sự việc do Đức Giêsu bắt đầu.

Điểm tới mà Thiên Chúa muốn đưa nhân loại về là “trời mới đất mới”, như bài Khải huyền trình bầy một cách thần bí: đó là được sống mãi mãi với Thiên Chúa, trong niềm vui hạnh phúc vững bền. Chính niềm tin này nâng đỡ khích lệ các tín hữu, đặc biệt các nhà truyền giáo, trung kiên trong sứ mạng.

Bài Tin mừng: Ga 13,31-33a.34-35.

Lời từ biệt của Đức Giêsu được diễn ra trong phòng tiệc ly, sau khi Giuđa đã ra đi vào đêm tối. Lời từ biệt nhắc tới giờ Ngài bị treo trên thập giá. Đức Giêsu cho biết, bằng cuộc tử nạn, Ngài làm vinh quang cho Thiên Chúa Cha, và ngược lại, Thiên Chúa Cha lại tôn vinh Ngài.

Ngài sẽ ra đi, và trong lúc chờ đợi Ngài trở lại, họ còn có anh em đồng loại để yêu thương, họ phải sống theo một giới răn mới. Giới răn yêu thương – và tiêu chuẩn của giới răn này là “Như Thầy đã yêu thương các con”. Thế gian sẽ biết rằng các Tông đồ là môn đệ của Đức Kitô bởi lòng trung tín của họ đối với giới răn này.

B. THỰC HÀNH LỜI CHÚA

Các con hãy yêu thương nhau.

I. GIỚI LUẬT YÊU THƯƠNG.

1. Trong Cựu ước

Phải chăng tình yêu đích thực phải bắt nguồn từ Thiên Chúa (1Ga 4,7)? Sách Khởi nguyên cho ta thấy nguồn gốc của tình yêu đích thực. Nguồn gốc ấy chính là Thiên Chúa, Đấng luôn sáng tạo và giải phóng để mọi vật hiện hữu theo kế hoạch yêu thương của Ngài. Từ ban đầu, Ngài đã dựng nên ánh sáng, mặt trăng giữa hoàn vũ, trong đó có trái đất với mọi thứ cây cỏ và súc vật. Những thứ ấy đều tốt nhưng Thiên Chúa không thể yêu thương chúng, vì yêu thương đòi phải có đáp trả. Vậy cuối cùng Thiên Chúa đã dựng nên con người giống hình ảnh Ngài… Ngài ban cho họ có tình yêu, có tự do. Đó là món quà quí giá Ngài ban cho con người.

Khi Thiên Chúa chọn Israel làm dân riêng của Ngài, Ngài đã ký kết với họ một giao ước qua trung gian ông Maisen, theo đó, họ phải tin theo, yêu mến , trung thành với Ngài, với lề luật của Ngài. Trong lề luật đó, ta thấy có hai khoản luật căn bản và quan trọng nhất, đó là: “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi. Đó là điều răn quan trọng nhất và điều răn thứ nhất. Còn điều răn thứ hai, cũng giống điều răn ấy, là: ngươi phải yêu mến tha nhân như chính mình” (Mt 22,37-39 ; Mc 12,28-34; Lc 10,25-28).

2. Trong Tân ước

Đọc đoạn Tin mừng hôm nay, chúng ta liên tưởng đến lời cụ Phan bội Châu viết trong “Lưu cầu huyết lệ tân thư” rằng: “Con chim sắp chết hót tiếng bi thương, con người sắp chết nói lời tâm huyết”. Sau khi Giuđa ra đi vào đêm tối, chỉ còn lại Đức Giêsu và mười một môn đệ, trong bầu khí yêu thương và nhuốm mầu bi ai, Ngài đã nói những lời tâm huyết trối lại cho các ông những lời cuối cùng: “Thầy truyền cho các con điều răn mới là các con hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương các con” (Ga 13,14).

Kitô giáo vừa là đạo mới vừa là đạo cũ. Cũ là vì đạo đã có từ thời tổ phụ Abraham. Mới là vì Đức Kitô đến đổi mới lại đạo cũ. Đấng Cứu Thế đến thiết lập một giao ước mới không phải phê chuẩn bằng máu chiên bò, nhưng bằng chính máu của Ngài đổ ra trên thập giá.

II. MỘT GIỚI RĂN MỚI

Khi Đức Giêsu nói với các môn đệ: “Thầy ban cho các con một điều răn mới” thì thực sự, đó không phải là điều răn mới theo nghĩa Đức Giêsu là người đầu tiên ban bố. Dân Chúa trong Cựu ước đã nghe biết về giới răn yêu thương. Và giới răn yêu thương đã được viết trong sách Lêvi:“Ngươi hãy yêu mến tha nhân như chính mình” (Lv 19,18). Vậy tại sao Đức Giêsu lại gọi giới răn yêu thương là giới răn mới?

Nếu để ý, chúng ta sẽ thấy điểm mới mẻ mà Đức Giêsu muốn nói không nằm ở chữ “yêu”, vì Ngài đã từng nói:”Nếu các ngươi yêu những kẻ yêu mến các ngươi, thì các ngươi có công gì? Há những người thu thuế cũng không làm thế sao”? (Mt 5,6), nhưng cái mới ở đây nằm ở chữ “như”, Đức Giêsu nói: “NHƯ Thầy đã yêu thương các con, các con cũng hãy yêu thương nhau”.

Yêu như Đức Giêsu đã yêu là một thứ tình yêu vô vị lợi, không đòi đáp trả như một thứ đổi chác:Có đi có lại mới toại lòng nhau. Tình yêu rộng mở cho hết mọi người, kể cả kẻ thù, như cảm nghiệm của thánh Phaolô trong thư gửi cho tín hữu Rôma: “Đức Kitô đã chết vì chúng ta ngay lúc chúng ta còn là tội nhân” (Rm 5.8b). Đức Kitô đã chết cho chúng ta ngay lúc chúng ta còn là tội nhân, nghĩa là ngay lúc chúng ta ở trong tình trạng thù địch với Thiên Chúa. Yêu như Đức Giêsu đã yêu còn là một tình yêu dám hy sinh tính mạng vì người yêu, chịu chết trên cậy thập giá vì tội lỗi nhân loại.

Trở lại với bài Tin mừng hôm nay, chúng ta biết rằng trước khi ban cho các môn đệ giới răn mới này, thì trước đó, ngay trong bữa ăn cuối cùng với các môn đệ, Đức Giêsu đã lập Bí tích Thánh Thể để lại chính Mình và Máu Ngài làm của ăn nuôi linh hồn chúng ta. Kế đó, Ngài lại còn dùng chính Máu của mình để lập nên một giao ước mới thanh tẩy tội lỗi chúng ta. Mặc dù là thân vô tội, nhưng vì yêu thương chúng ta, Đức Giêsu đã chấp nhận trở nên con Chiên hiền lành bị đem đi sát tế vì tất cả tội lỗi chúng ta (x. Ga 1,29).

Tắt một lời, cái mới trong giới răn yêu thương của Đức Giêsu không nằm ở nguyên một chữ “yêu”, nhưng nằêm ở chữ “như”. Yêu như Ngài đã yêu chúng ta, đó là một tình yêu dành cho hết mọi người, hoàn toàn vị tha, luôn hướng về người mình yêu, một tình yêu không tính toán hơn thiệt, tình yêu chỉ có cho đi mà không hề đòi đáp trả, một tình yêu không có giới hạn.

III. SỐNG YÊU THƯƠNG VÀ PHỤC VỤ

1. Thư Mục vụ của HĐGMVN năm 2006

Thư mục vụ năm 2006 chọn chủ đề “Sống đạo hôm nay” để mời gọi mọi người sống niềm tin bằng những hành động cụ thể, như thánh Giacôbê viết: “Đức tin không có hành động thì quả là đức tin chết” (Gc 2,17). Quả thực, đời sống đạo vừa cần gắn bó với Thiên Chúa, vừa phải đi đến với anh em, như Chúa Giêsu, Ngôi lời nhập thể và nhập thế đã nêu gương cho chúng ta.

Chúng ta có thể nói được ý chính của bức thư mục vụ này được tóm gọn trong công thức “Yêu thương và phục vụ”. Thư mục vụ nói: “Con người mới theo gương Chúa Giêsu phải là con người “dấn thân phục vụ”. Nếu việc phục vụ tha nhân có thể giúp cho người khác nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa nơi Kitô hữu, thì chính việc phục vụ đó cũng có thể giúp Kitô hữu cảm nghiệm tình yêu Thiên Chúa cách rõ nét hơn…

Như thế, dấn thân phục vụ con người là đòi hỏi tất yếu của đức tin Kitô giáo. Đời sống đạo luôn luôn phải được đặt trên nền tảng bác ái yêu thương, vì đây là điều răn quí trọng nhất (x. Mt 22,37-39) và là dấu hiệu rõ ràng nhất khẳng định chúng ta thuộc về Chúa Giêsu: “Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: là anh em có lòng yêu thương nhau” (Ga 13,35) (Trích thư Mục vụ số 6).

2. Sống và yêu thương

Yêu thương vẫn là lẽ sống của con người. Ai mà không biết yêu thương? Nếu một người chẳng muốn yêu ai, và cũng không muốn ai yêu mình thì có thể kể như không phải là con người nữa. Nói thế chắc không quá đáng? Ta hãy xem từ một kỳ công cho đến một công việc bình thường thôi, có ai lại không làm do động lực yêu thương? Dù là vị kỷ, chỉ yêu chính mình đi nữa – chứ nếu tuyệt nhiên không yêu thương đến cả bản thân mình – thì hầu chắc là trạng thái của người tâm thần mà thôi.

Trong cuộc sống hằng ngày, theo nguyên tắc thì ai cũng phải yêu, nhưng chúng ta thấy người ta có thể ở một trong ba trạng thái này:

a) Không yêu thương và không được yêu thương, điều này xem ra giống hỏa ngục trần gian.

b) Yêu thương nhưng không được yêu thương đáp lại, nhưng vẫn tốt hơn tình trạng trên.

c) Yêu thương và được yêu thương – đây là tình trạng được chúc lành mà Đức Giêsu đã vui hưởng: “Như Cha Thầy đã yêu mến Thầy, cũng thế Thầy đã yêu mến anh em”.

3. Yêu bằng tình yêu nào?

Ngày nay người ta nói nhiều đến tình yêu, nghiên cứu tình yêu, ca ngợi tình yêu, nhưng là thứ tình yêu nào? Eros hay Agapè? Tình yêu bản thân hay tình yêu kẻ khác? Theo từ ngữ Hy lạp ta thấy hai từ Eros và Agapè diễn tả hai thực tại yêu thương đối nghịch nhau:

a) EROS: là thứ tình yêu vị kỷ, chỉ biết thu vào, tìm mình trong người khác. Đó là tình yêu lợi dụng kẻ khác đến hủy hoại họ.

Viết về kinh nghiệm của mình ở Auschwitz, Elie Wiesel nói rằng người Đức đã nỗ lực làm cho các tù nhân quên hết người thân và bạn bè mà chỉ nghĩ đến mình và chỉ nhắm đến các nhu cầu của mình hoặc họ phải chết. Điều đó khiến họ nói đến các nhu cầu ấy cả ngày lẫn đêm. Nhưng điều ngược lại đã xẩy ra. Những người nào chỉ sống cho mình, ít có cơ may sống sót, trong khi người nào sống cho người thân, bạn hữu, anh em, một lý tưởng đã có cơ may tốt hơn để sống còn. Người ta sống nhờ những gì người ta cho đi (McCarthy).

Truyện: chàng Narcisse cô đơn

Huyền thoại kể rằng Narcisse là một vị thần rất đẹp trai. Nàng tiên Echo (Tiếng Vọng) yêu chàng nhưng bị chàng cự thuyệt, đã biến thành tượng đá. Một hôm Narcisse đi lang thang, tình cờ đến bên bờ một giếng nước, chàng nhìn thấy bóng mình trong lòng giếng và đâm ra ngây ngất say mê. Chàng cố sức nắm bắt cái bóng của mình, nhưng không cách gì bắt được, nên sinh ra buồn bã và chết, biến thành bông hoa thủy tiên bên bờ giếng.

Mỗi người chúng ta ít nhiều đều là anh chàng Narcisse đáng buồn ấy, bởi vì ai cũng yêu mình thái quá, ai cũng khoe rằng mình hay, mình giỏi, mình đẹp… Và ai cũng muốn mình là trung tâm vũ trụ, người khác sinh ra là để phục vụ mình, để cuối cùng nằm chết bên bờ giếng hư vô, chả biết có hóa thành hoa thủy tiên không.

b) AGAPÈ: là thứ tình yêu xả kỷ, vị tha, chỉ biết tìm hạnh phúc cho người khác. Đó là tình yêu sẵn sàng hy sinh cho kẻ khác, quên mình, quên hạnh phúc của mình để nghĩ đến người khác.

Tính ích kỷ làm cho chúng ta khép kín tâm hồn, nó hạn chế chúng ta. Nó dựng nên các rào cản, cả những bức tường giữa chúng ta và những người khác. Điều giải phóng chúng ta khỏi sự giam hãm ấy là mỗi tình cảm sâu sắc, quan trọng đối với những người khác. Trở nên bạn hữu, anh em và chị em, người yêu là những người sẽ mở cửa nhà tù. Tình yêu thương giải phóng chúng ta khỏi tù ngục các tính ích kỷ.

Truyện: Trở nên người cùi

Trong y học, người ta không nhớ những thầy thuốc làm giầu do nghề nghiệp, nhưng nhớ đến những người đã hy sinh mạng sống để chữa lành những đau đớùn của con người.

Tại một hội nghị chuyên đề về bệnh cùi được tổ chức tại Cairô, thủ đô Ai cập, có một y sĩ trẻ người thành Alexandria được người ta để ý, anh chăm chú nghe các bài thuyết trình của các chuyên gia, nhưng có một điều lạ là anh ngồi tách rời với đám đông, trong một góc nhỏ. Không ai biết anh dùng bữa ở đâu. Anh cũng không giao thiệp với bất cứ thành viên nào trong hội nghị. Vào phiên họp cuối cùng anh lên tiếng. Khi anh tóm kết bài tham luận, một sự im lặng như chết bao trùm cả phòng họp: nhiều người bật tiếng khóc. Anh nói gì? Anh tuyên bố rằng anh đã tự nguyện để mình nhiễm bệnh cùi để có thể tự anh quan sát diễn biến của cái bệnh kinh khủng này. Anh cho thấy những vết trắng và nâu ở cánh tay anh, một triệu chứng không thể chối cãi của sự nhiễm trùng, và rồi anh mô tả tất cả những gì anh đã cảm thấy, cùng hiệu quả của tất cả các thuốc anh đã dùng. Anh biết rằng anh không thể tránh được cái chết từ từ và đau đớn, nhưng anh sẵn sàng chịu đựng tất cả để góp phần vào sự tiến bộ của khoa học, hầu đẩy lui những hiểm nguy cho các người mắc bệnh.

Trong mọi cuộc chiến tranh, vinh quang tuyệt đỉnh không thuộc về những người sống sót mà thuộc về những người đã bỏ thây nơi chiến trường. Bài học đơn giản của lịch sử là những người chịu hy sinh lớn thì nhận được vinh quang cao cả. Nhân loại quên đi những người thành công nhưng chẳng bao giờ quên ơn những người dám hy sinh. Họ bước đi trong các vết chân của Đức Kitô.

Yêu thương có đặc tính là trao ban, là cho đi, trao tặng ngay cả đến bản thân. Chính lúc cho đi mạng sống mình trên thập giá, tình yêu của Đức Giêsu mới thực sự lên ngôi, tình yêu ấy mới bắt đầu chiếm hữu tâm hồn nhân loại. Nói khác đi, yêu thương chính là hy sinh chia sẻ bất cứ điều gì mình có – Thế nên trong tình yêu thương chân thành thì chuyện hy sinh là tất nhiên (như trong nước thì tất nhiên phải có oxy và dydrô vậy), chứ nếu ngại ngùng, sợ phiền hà… thì chưa kể là Tình Yêu thương đích thực.

Truyện: Tôi đã cho đi tình yêu của mình

Một buổi tối nọ, trước khi ngôi sao âm nhạc nổi tiếng của Broadway, Mary Martin lên sân khấu trình bầy vở nhạc kịch lừng danh South Pacific (vở nhạc kịch này đoạt giải hay nhất năm 1950). Người ta đưa cho Mary Martin một mảnh giấy của Oscar Hammerstein, tác giả của vở kịch này, hiện đang nằm trên giường bệnh, sắp chết. Không biết trong mảnh giấy viết gì, chỉ biết rằng sau buổi trình diễn hôm đó, người ta ùn ùn chạy ra hậu trường, khóc lóc, nói rằng: “Mary, điều gì đã xẩy ra với cô tối nay vậy? Chúng tôi chưa bao giờ thấy cô diễn xuất như vậy cả”. Vừa chớp mắt đôi mắt ướt đẵm, Mary đọc bức thư ngắn ngủi của Oscar Hammerstein, nộïi dung như sau:

Mary mến, một cái chuông không phải là chuông cho đến khi cô rung nó. Một bản nhạc không phải là bản nhạc cho đến khi cô hát nó. Tình yêu trong trái tim của cô đừng để nó nằm yên tại đó. Tình yêu không phải là tình yêu cho đến khi cô cho đi”

Rồi cô ta nói: “Tối nay, tôi đã cho đi tình yêu của mình”(Internet).

Hôm nay Chúa dạy chúng ta một bài học cụ thể, nhưng vô cùng khó khăn, phức tạp, đó là một thách đố triền miên: phải thực hiện sự cho đi của mình, phải thể hiện một cách rõ ràng bằng hành động, phải làm cho thiên hạ thấy được sự yêu thương nhau trong cư xử, của những người anh em trong một thân thể duy nhất là Hội thánh, trước khi lan tỏa đến những người ngoài Giáo hội.

4. Sống với nền văn minh Tình thương

Trong những năm gần đây, Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II cũng thường đề cập đến một nền văn minh tình thương. Thực vậy, con người chỉ được coi là văn minh khi biết bước ra khỏi sự man rợ của thú tính, khi biết sống yêu thương và nhìn nhận kẻ khác cũng là người như mình, bất chấp những khác biệt về chủng tộc, mầu da, tôn giáo hay quan điểm chính trị. Xây dựng một nền văn minh dựa trên tình thương, đó là bổn phận cấp bách chủa người Kitô hữu hôm nay. Và đó cũng là ý muốn của Chúa Giêsu khi Ngài nói với chúng ta: “Thầy ban cho chúng con một điều răn mới, là các con hãy thương yêu nhau” (Phạm văn Phượng).

Nếu không có tình yêu thương, người ta sẽ là gì? Những người không muốn yêu thương đều có đời sống nghèo nàn. Nhưng những người sống yêu thương có một đời sống phong phú và hiệu quả. William Blake nói: “Chúng ta đã được đặt vào trần gian ngắn ngủi để học tỏa sáng tình thương”. Giải thoát khỏi tính ích kỷ và có khả năng yêu thương người khác – đó là ý nghĩa của đời sống của chúng ta và của mọi người.

Khi kết thúc cuộc đời, nhìn lại, người ta chẳng thấy có gì quí giá cho bằng Tinh Thương yêu. Con người chỉ thấùy được hạnh phúc khi mình biết yêu và được yêu. Đây là một chứng từ: Một bác sĩ, được ưu tiên chia sẻ những giây phút thâm sâu nhất của cuộc đời, nói rằng: con người đối diện với cái chết không còn nghĩ gì về mức độ họ đã thu được, hoặc họ nắm giữ những địa vị nào, hoặc đã tích trữ được bao nhiêu của cải. Vào lúc cuối cùng, điều thực sự quan trọng là bạn đã yêu thương ai và ai đã yêu thương bạn (McCarthy).

Yêu thương anh em là sống tinh túy của Đạo. Có thể rằng trong vài đạo giáo có sự đọc kinh nhiều hơn đạo ta, như Hồi giáo với 5 lần kinh nguyện trong ngày hướng về La Mecca. Có thể có đạo giáo với sự hãm mình phạt xác, diệt dục nhiều hơn ta như Aán độ giáo. Nhưng cái đặc điểm Đạo thánh ta phải là Tình yêu “nhờ dấu ấy, người ta mới biết chúng con là môn đệ Thầy”. Giáo hữu tiên khởi đã hiểu và đã thực thi bác ái đến độ mọi người chung quanh đều kêu lên: “Kìa xem họ thương yêu nhau” (Hồng Phúc).

Nhìn vào dòng lịch sử, chúng ta thấy yêu thương nhau là một nét tiêu biểu của các tín hữu buổi sơ khai. Sách Công vụ Tông đồ cho thấy: họ coi mọi sự như là của chung. Họ đồng tâm nhất trí chuyên cần lui tới đền thờ cầu nguyện và bẻ bánh, cùng nhau chia sẻ của ăn nuôi thân. Ông Tertullianô đã ghi nhận về cộng đoàn các Kitô hữu thời sơ khai như sau: “Dân chúng nhìn họ, tức các Kitô hữu, và nói về họ rằng: Hãy xem họ yêu thương nhau biết bao và sẵn sàng hiến mạng cho nhau chừng nào. Những người ở ngoài gọi họ là Kitô hữu, nhưng họ vẫn gọi nhau là anh em”. Đó là cộng đoàn Kitô sơ khai ở Giêrusalem.

Thánh Giêrônimô có kể lại câu chuyện về thánh Gioan tông đồ. Lúc vị Tông đồ đã về già, ngài vẫn không ngừng nhắc nhở các Kitô hữu trong công đoàn là hãy yêu thương nhau. Người ta phát chán vì thấy Ngài cứ nói mãi điều ấy, nên mới hỏi lý do. Ngài trả lời: “Bởi vì đó là điều răn của Chúa, chỉ cần giữ điều răn này là đủ”.

Điều duy nhất và cần thiết mà chúng ta phải làm trong ngày hôm nay đó là khám phá lại năng lực của tình yêu, loại tình yêu mà Đức Giêsu đã truyền giảng. Tình yêu ấy nâng con người lên một thế giới cao hơn, mang lại cho họ niềm hy vọng mới. Một người Ấn giáo đã nêu thắc mắc nho nhỏ sau đây với một thừa sai Kitô giáo: “Nếu Kitô hữu các ngài sống đúng như lời Kinh thánh của các ngài dạy (nghĩa là biết yêu thương như lời Kinh thánh dạy) thì chỉ trong vòng 5 năm thôi, các ngài sẽ chinh phục được cả Ấn độ”.

Thực hiện lời Chúa dạy chúng ta trong bài Tin mừng hôm nay: “Mọi người sẽ nhận biết các con là môn đệ của Thầy ở điểm này: là các con có lòng yêu thương nhau” (Ga 13,35), chúng ta hãy đem tình yêu vào trong cuộc sống, chính tình yêu sẽ làm cho mọi công việc của chúng ta, tuy tầm thường, nhưng sẽ lóe sáng trước mặt thiên hạ để người ta nhận ra sự hiện diện của Chúa qua con người của chúng ta.

Truyện: Viên ngọc lóe sáng

Có hai người bạn đi vào tham quan bên trong một tiệm bán đồ nữ trang. Khi đã chiêm ngắm nhiều viên đá quí, họ để ý và lấy làm lạ là có một viên ngọc sần sùi, không óng ánh bóng loáng như những viên ngọc khác. Vì thế, một người bạn lên tiếng bình phẩm: “Nếu viên đá này không có vẻ gì quí giá cả, tại làm sao người ta lại trưng bầy nó ở đây”? Nghe vậy, người chủ tiệm kim hoàn bèn cầm lấy viên ngọc và nắm chặt trong lòng bàn tay mình. Một lát sau viên đá mờ đục không bóng loáng đó trở nên lấp lánh muôn mầu sắc hết sức kỳ diệu. Thấy lạ, một người bạn hỏi ông chủ tiệm: “Làm sao mà kỳ lạ vậy”? Người chủ trả lời: “Đây là viên ngọc mắt mèo, được mệnh danh là viên đá thiện cảm, nghĩa là nó cần có đụng chạm với hơi nóng ấm của bàn tay, tức khắc nó sẽ phát ra những tia sáng óng ánh muôn mầu sắc là thế” (Quê Ngọc).


Bài 15. NHƯ THẦY ĐÃ YÊU
Lm Giuse Nguyễn Hữu An

Wiliam Oscar Wilde đã viết về một huyền thoại tình yêu: “Hoạ mi và bông hồng đỏ“.

Một sớm mùa hè, con hoạ mi làm tổ trên cành dương đã nghe trọn lời than thở của một chàng trai bên cửa sổ:”Nếu anh không kiếm nổi bông hồng đỏ để em cài ngực áo trong buổi dạ hội đêm nay, em sẽ xa anh mãi mãi“. Hoạ mi dư hiểu chàng trai đã lang thang khắp các nương đồng. Nhưng tìm đâu một bông hồng màu đỏ dưới nắng cháy mùa hạ này? Trời ơi, người tình sẽ chắp cánh bay xa mất thôi. Hoạ mi không chịu nổi dằn vặt bi thương của chàng. Hoạ mi phải ra tay giúp đỡ.Hoạ mi khép cánh trước cây hoa hồng bên giếng nước nài xin:

- Chị hồng ơi, chị có vui lòng tặng em một bông hồng đỏ thắm không?

- Hoạ mi ơi ! em vô tâm như những chiếc gai trên thân chị. Mùa hạ nắng cháy sao em lại xin hoa hồng đỏ?

Chị hồng rung rung cành lá giận dỗi. Hoạ mi tiếp tục tìm kiếm. Nàng nép mình đậu trên một cành hồng ngoài xa hàng dậu.

- Chị hồng ơi, có phép mầu nào làm nở cho em một bông hồng đỏ chăng?

- Hoạ mi ơi, đời cần hoa chi cho thương đau?

- Sao cũng được, miễn em kết chặt một mối tình

- Được, những phép mầu cần phải có máu đỏ.

- Bằng mọi giá chị ạ.

- Bằng giá sinh mạng?

- Kể cả sinh mạng em.

- Hoạ mi ơi ! Hãy đặt cổ em trên gai nhọn của chị, hãy hót cho chị, cho cây cỏ, cho đất trời khúc tình ca thắm thiết nhất đời em. Hãy đổ máu đỏ cho bông hồng nở. Hãy nhuộm máu cho bông hồng đỏ. Mình sẽ có một bông hồng đỏ như máu đẹp nhất trần gian.

Hoạ mi đã hót say mê đến giây phút cuối cuộc đời, đã đổ đến giọt máu cuối cùng, đã chết rũ trên cành hồng bên cạnh đoá hồng bí nhiệm đỏ thắm nở tươi.

Chàng trai mừng vui tiếng cười mở hội. Bông hồng được hái về trau chuốt trước khi có mặt trong dạ hội. Điều lạ lùng nhất và cũng phi lý nhất, phi lý như chính cuộc đời phi lý, là người tình đã khước từ đoá hồng bí nhiệm, vì trên ngực áo cô gái một bông hồng giả đang ngự trị… Sáng hôm sau, dân làng bắt gặp một đoá hồng bị nghiền nát, nằm tả tơi dưới vết bánh xe bò.

Hoạ mi yêu người,đã lấy máu và sinh mạng đổi lấy bông hồng. Người thiếu nữ nhận bông hồng giả để chối từ một tình yêu chân thật.

Câu chuyện là một huyền thoại, chuyên chở một nội dung rất thực: Đó là nét thực của tình yêu, của tự do, của hy sinh. Tình yêu phải được nuôi dưỡng bằng hy sinh, bằng máu, bằng cả sinh mạng. Tình yêu chân thật phải được trả bằng một giá rất đắt. Chúa Giêsu đã trả giá cho tình yêu chân thật bằng cái chết trên thập giá.

Hoạ mi đã cất tiếng hót bi thương trước khi chết vì muốn hiến tặng đoá hồng tươi thắm nở. Chúa Giêsu trước khi chịu khổ nạn,chịu chết đã để lại cho các môn đệ những lời tâm huyết rất chân thật và cũng là những chỉ thị cuối cùng của Ngài. “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em”. Chỉ thị này bao hàm mọi chỉ thị khác.

Chữ “như” ở đây thật quan trọng. Chúa Giêsu đã so sánh: như Cha đã yêu mến Thầy, Thầy cũng yêu mến anh em, anh em hãy yêu mến nhau như Thầy đã yêu mến anh em.

Như Cha đã yêu mến Thầy. Chúa Giêsu đã nhiều lần nói về tình yêu của Chúa Cha dành cho Ngài ( x.Ga 3,35;5,20;17,24). Chúa Cha cũng nhiều lần xác nhận điều này(x Mt 3,17;17,5). Tình yêu của Chúa Cha đối với Chúa Con là tình yêu chia sẽ và trao ban.Tình yêu của Chúa Con đối với Chúa Cha là tình yêu tôn kính và vâng phục. Chúa Con yêu các môn đệ như tình yêu Chúa Cha đối với Ngài.

Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II viết trong thông điệp “Sự Rạng Ngời Chân Lý”Chữ nhưnày đòi hỏi phải bắt chước Chúa Giêsu, nơi tình yêu của Người mà việc rửa chân cho các môn đệ là một dấu chỉ cụ thể. Chữ như cũng chỉ mức độ mà Chúa Giêsu đã yêu thương các môn đệ và các môn đệ cũng phải yêu thương nhau bằng mức độ ấy” (số 20).

Yêu “như Thầy đã yêu” là yêu như thế nào?

Thầy chấp nhận cái chết thập hình để chuộc tội nhân loại: “Không có tình thương nào cao hơn tình yêu của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu mình”.

“Thầy không coi anh em là tôi tớ, nhưng Thầy coi anh em là bạn hữu của Thầy”. Ngài là Thầy, là Chúa.Các môn đệ là người, là đệ tử. Nếu Chúa muốn coi các ông là tôi tớ cũng được; nhưng không vậy,Chúa đã coi họ là bạn hữu ngang hàng với Ngài. Bạn hữu tri âm tri kỷ nên “tất cả những gì Thầy nghe được nơi Cha của Thầy,Thầy đã cho anh em biết”.

Cả cuộc đời của Chúa đã sống tình yêu nhập thể và hiến dâng cho tất cả mọi người.Chúa không để ai về tay không khi đến với Ngài. Kẻ mù được sáng, người què đi được, kẻ điếc nghe được, người câm nói được, những kẻ tội lỗi và những cô gái điếm tìm được ơn thứ tha…

Tình yêu của Chúa Giêsu cao đẹp quá, quý giá vô ngần. “Anh em hãy yêu như Thầy đã yêu”. Lời này quả thật là quá khó đối với con người! Vẫn biết rằng con người chẳng bao giờ yêu nhau tới mức ”như Thầy đã yêu”, nhưng lời mời gọi của Chúa vẫn luôn giục giã chúng ta hướng theo đường Chúa đã đi, lấy tình yêu của Chúa làm tiêu chuẩn cho mọi hành động, làm khuôn vàng thước ngọc cho mọi suy nghĩ, lời nói việc làm của chúng ta. Vì thế,Thánh Gioan khuyên rằng: “Anh em thân mến, chúng ta hãy yêu thương nhau, vì tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa. Phàm ai yêu thương, thì đã được Thiên Chúa sinh ra, và người ấy biết Thiên Chúa. Ai không yêu thương, thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là tình yêu”.

Cội nguồn của dòng sông tình yêu phát xuất từ Chúa Cha qua Chúa Giêsu tuôn chảy đến nhân loại.Tình yêu là nguồn sự sống, là động lực chính yếu của cuộc đời và sau hết tình yêu cũng là cứu cánh của cuộc đời: “Vạn sự đã do tình yêu sáng tạo, vạn sự được Tình yêu nâng đỡ, vạn sự đi về tình yêu và đi vào trong tình yêu” (R.Tagore).

Nhưng đâu là những dấu hiệu để nhận ra là chúng ta yêu thương nhau? Tình yêu không phải là cái gì trừu tượng, nên rất dễ nhận ra. Yêu thương nhau là luôn nghĩ tới nhau. Những người yêu thương nhau thường nghĩ tới nhau; yêu nhau nhiều thì nghĩ tới nhau nhiều, nghĩ tới mà trong lòng cảm thấy vui sướng.

Yêu nhau nên thích gặp nhau. Những người kitô hữu yêu nhau, thì rất thích tụ họp, thích gặp gỡ nhau. Và thường họ tụ họp nhau vào ngày Chúa Nhật, trước hết là để cùng nhau cử hành thánh lễ, sau là để gặp nhau trò chuyện, hàn huyên, giải trí với nhau, chia sẻ tâm tình với nhau. Yêu nhau nên ước muốn điều lành cho nhau. Mong cho nhau được sự may mắn, được thăng tiến, được làm ăn thành đạt, được sức khoẻ dồi dào, được có lòng đạo đức, được mãn nguyện theo ý muốn tốt lành. Và chính vì thế mà những người yêu nhau thường cầu nguyện cho nhau, xin Chúa yêu thương, an ủi, cứu giúp, phù hộ bạn mình.

Yêu nhau nên làm những điều lành cho nhau: có thể đó là sự giúp đỡ khi túng thiếu hay ốm đau, sự chăm sóc sức khoẻ, đời sống tâm linh của nhau, là sự chia sẻ của cải vật chất và tinh thần cho nhau. Giúp nhau củng cố và giáo dục đức tin, giúp hoà giải với nhau, giúp nhau xây dựng hạnh phúc gia đình, giúp nhau thành đạt trong công ăn việc làm. Dấu hiệu rõ nhất của tình yêu là sự hy sinh cho nhau: hy sinh thì giờ, sức khoẻ, tiền bạc, và thậm chí cả sự sống vì nhau.

Điều cao quý nhất mà chúng ta nên làm cho nhau là mang Chúa đến cho nhau, vì mỗi người kitô hữu khi đã chịu phép rửa đều là đền thờ của Thiên Chúa, trong đó có Chúa Thánh Thần cư ngụ. Điều tốt nhất mà những có đạo có thể làm là mang đến cho nhau Chúa Thánh Thần là Niềm vui ở trong Thiên Chúa và là Nguồn vui của chúng ta. Thánh Thần làm cho chúng ta gắn bó mật thiết với Thiên Chúa và nên một với nhau.

Nguyện xin Chúa giúp chúng con tập sống yêu thương “như Thầy đã yêu” khi thực thi lời Chúa dạy “Điều gì chúng con làm cho người bé nhỏ nhất là làm cho cho chính Ta”.


Bài 16. NHƯ THẦY ĐÃ YÊU THƯƠNG ANH EM
P. Trần Đình Phan Tiến

Vâng! kính thưa quý vị, chủ đề Đoan Tin Mừng theo Thánh Ga hôm nay, không xa lạ với chúng ta, rất quen thuộc là khác,nhưng không phải dễ thực thi. Vì Lời Chúa (câu 35 b, Ga 13), gồm có 2 vế : “anh em hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương anh em” (c 35 b). Tình yêu của Thầy Chí Thánh Giêsu là tình yêu của Thiên Chúa, Thiên Chúa yêu thương con người thì dễ hơn con người yêu thương nhau. Nhưng đây là di huấn của Chúa Giêsu dành cho các môn đệ của Người và cũng dành cho chính chúng ta nữa, vì không thể không có sự tồn tại nào mà không có tình yêu. Tình yêu mới dẫn đến sự sống, mà Thiên Chúa chính là sự sống, sự sống viên mãn. Muốn vậy, Thiên Chúa cho con người biết giữa họ phải có tình yêu. Một tình yêu cụ thể, một tình yêu có thực, một tình yêu sống động, đó là tình yêu của Đức Kitô, chứ không phải của ai khác. Chúa Giêsu đã để lại một Di Huấn hết sức rõ ràng: “anh em hãy yêu thương nhau”, giá trị và chân lý yêu thương không thể phủ nhận, vì nếu sự sống không có tình yêu thì sự sống không tồn tại, sự sống không tồn tại, thì không còn là sự sống. Nhưng tiêu chuẩn để yêu thương như thế nào? Thước đo tình yêu của Đức Kitô là: “Yêu như Thầy đã yêu thương anh em”. Đó là tiêu chuẩn về tình yêu mà Chúa Giêsu đã để lại cho chúng ta.

Vâng! Kính thưa quý vị, tình yêu là một khái niệm trừu tượng không cân đóng, đo,đếm được, nhưng tình yêu được thể hiện bằng nghĩa cử, một nghĩa cử tốt đẹp dành cho tha nhân, đó là tình yêu. Không nghĩa cử nào lớn hơn nghĩa cử, hành động của Đức Kitô dành cho chúng ta, tất cả mọi Kitô hữu. Chúa Giêsu là Vị Thầy Chí Thánh, không nói suông bằng Lời. Vì vậy, khi Người truyền lại chân lý tình yêu cho các môn đệ, là cũng chính lúc Người thưc hiện nghĩa cử tình yêu.“Anh em hãy yêu thương nhau”, có lẽ trong bối cảnh Israel thời Chúa Giêsu, tình yêu thương cộng đồng còn thiển cận, vì họ không có được tình yêu bác ái, họ chỉ biết công bằng theo luật vì luật, chứ không phải luật vì con người. Qủa nhiên, khi Đức Kitô giảng dạy những “điều ấy” thì họ nghe chán tai, vì lòng họ ra chai đá. Cụ thể các môn đệ của Người lúc bấy giờ cũng không khỏi ngơ ngác. Vì các ông là những người xa lạ, mà Chúa Giêsu đã quy hợp lại, chỉ có anh em ông Sinmon và Anrê, Gioan và Giacôbê là anh em ruột. Vì vậy, nếu Chúa Giêsu không xây dựng bằng tình yêu thương cụ thể, thì không thể nào quy tụ các ông thành một cộng đoàn đầu tiên được.

Tình yêu là cốt lõi để hình thành , để tồn tại, để duy trì và phát triển. Căn cứ vào điểm nầy, bác ái Kitô giáo được hình thành. Chúa Giêsu kêu gọi và giáo huấn các môn đệ không bằng Lời nói, mà bằng tiêu chuẩn cụ thể của chính Người: “như Thầy đã yêu thương anh em”.

Thật vậy, tình yêu của Đức Kitô là một tình yêu vô vì lợi, một tình yêu nhưng không từ Thiên Chúa, Người đã trao ban tận cùng, đến độ không còn gì để cho. Thử hỏi hơn hai ngàn qua không có tình yêu Kitô giáo trên thế giới nầy, liệu sự tồn tại của nhân loại như thế nào? Có chăng chỉ là cảnh sống nô lệ mà thôi.Người ta cứ được sinh ra và cứ bị chà đạp vì không có tình yêu đich thực trên trái đất nầy. Tình yêu đích thực đòi hỏi sự hy sinh, hy sinh như Thầy Giêsu là một tình yêu được treo gương cho nhân loại. Yêu thương như Thầy Giêsuy êu thương là một động lực cần cho cuộc sống của nhân loại nói chung và cuộc sống cho người tín hữu nói riêng.

Trải qua bao năm tháng, biết bao môn đệ của Đức Giêsu đã thực thi tình yêu như Thầy Chí Thánh là các thánh công giáo, những con người đã yêu như Chúa yêu thương họ, làm cho thế giới vốn lạnh nhạt nầy đã phải thốt lên bởi sự khâm phục của họ, vì những con người đã yêu như Đức Kitô yêu thương, đó là chân phước Terêsa Calcutta, chân phúc giáo hoàng Gioan Phaolô và còn những con người được xưng danh cũng như chưa đưcợ xưng danh v.v…, rồi nữa còn biết bao con người đang ngày đêm âm thầm thực thi Lời Di Huấn của Thầy Giêsu. Mong sao cho họ luôn sống và thực thi Lời Di Huấn của Người một cách rạng ngời.

Lạy Chúa Giêsu, Đấng đã đến thế gian để yêu thương và yêu thương đến cùng, đã để lại Di Huấn cho chúng con là sự yêu thương như Chúa đã yêu thương. Xin thương ban cho những ai đang bước theo Chúa được biết yêu thương như Người đã yêu thương, để cho thế gian nhận ra Người là Chúa của tình yêu thương. Amen./.


Bài 17. GIỚI LUẬT YÊU THƯƠNG
Lm Carolo Hồ Bạc Xái

“Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau” (Ga 13,34)

I. DẪN VÀO THÁNH LỄ

Anh chị em thân mến

Yêu thương là dấu chỉ cho người ta nhận biết các môn đệ của Chúa. Vì thế có thể nói khuyết điểm lớn nhất của người tín hữu là không yêu thương.

Trong Thánh lễ này, mỗi người chúng ta hãy nhớ lại xem có những người nào mà chúng ta không muốn yêu thương. Hãy dâng những người ấy lên Chúa, và xin Chúa giúp chúng ta yêu thương họ.

II. GỢI Ý SÁM HỐI

- Vì chúng con còn ghét một số người, xin Chúa tha tội chúng con.

- Vì chúng con vui mừng khi thấy những người chúng con ghét phải chịu đau khổ, xin Chúa tha tội chúng con.

- Vì chúng con không cố gắng hòa giải với những người va chạm với chúng con, xin Chúa tha tội chúng con.

III. LỜI CHÚA

1. Bài đọc I (Cv 14,21-27)

Mặc dù là những nhà truyền giáo, nhưng Phaolô và Barnaba không chỉ lo rao giảng Tin Mừng cho những nơi mới. Thỉnh thoảng hai vị làm một chuyến thăm mục vụ ở những giáo đoàn cũ. Việc này ngày nay được gọi là “tái truyền giáo”.

Tái truyền giáo của hai vị gồm : (1) Củng cố tinh thần kitô hữu ; (2) Củng cố cơ cấu nhân sự ở những giáo đoàn ấy.

2. Tin Mừng (Ga 13,31-35)

Đoạn Tin Mừng này là một phần của bữa tiệc ly. Có 2 chi tiết đáng lưu ý :

1. Giây phút Giuđa ra đi là tiếng chuông báo hiệu cuộc thương khó bắt đầu. Chúa Giêsu coi đó là tiếng chuông mở đầu giờ Ngài được tôn vinh. Không phải đau khổ tự nó là tôn vinh, mà vì qua đau khổ Chúa Giêsu thực hiện ý muốn của Chúa Cha. Chúa Giêsu lấy làm vinh dự được thực hiện ý muốn Chúa Cha.

2. Trước lúc bước vào con đường thập giá, Chúa Giêsu trối lại cho các môn đệ điều răn mới của Ngài : “Chúng con hãy yêu thương nhau… Ở điểm này mọi người sẽ nhận biết chúng con là môn đệ của Thầy, là chúng con có lòng yêu thương nhau”.

4. Bài đọc II (Kh 21,1-5)

Thị kiến về thành Giêrusalem mới :

- Thành này từ trời xuống

- Là nhà tạm Thiên Chúa ở cùng nhân loại

- Trong thành Giêrusalem mới này, sẽ không còn sự chết, tang tóc và khổ đau.

IV. GỢI Ý GIẢNG

* 1. Yêu thương kiểu mới

Chắc hẳn nhiều người có biết chuyện Thánh nữ Maria Goretti. Maria Goretti là một thiếu nữ đẹp : Vừa đẹp người vừa đẹp nết. Nhưng gia đình thì nghèo : Không có nhà riêng để ở, phải ở chung nhà với gia đình của anh chàng Alexandre. Hàng ngày mẹ và các anh của Goretti ra đồng làm ruộng, Goretti ở nhà lo việc nội trợ và giữ em. Anh chàng Alexandre từ lâu đã đem lòng yêu cô gái Goretti và cũng đã vài lần dụ dỗ Goretti cùng mình trao đổi những cử chỉ yêu đương, nhưng Goretti luôn từ chối. Một hôm Alexandre đang làm ruộng ngoài đồng, nhưng biết Goretti ở nhà một mình nên lấy cớ đau bụng để trở về nhà. Về đến nhà Alexandre giả bộ nhờ Goretti vào phòng hắn lấy cái áo đứt nút đơm lại giùm. Cô gái ngây thơ có tính hay giúp đỡ tưởng thật nên đi vào. Alexandre lại một lần nữa đề nghị chuyện ân ái. Goretti vẫn từ chối. Khi ấy vì đam mê đã làm cho lý trí mù quáng. Alexandre dùng dao đâm túi bụi 17 nhát vào mình Goretti và chạy trốn. Sau đó anh của Goretti sinh nghi từ ruộng trở về thấy em gái mình sắp chết, anh thề sẽ trả thù. Nhưng Goretti tha thiết xin anh hãy tha cho hắn. Cuối cùng Goretti chết và Alexandre bị cảnh sát bắt giam. Một đêm kia anh thấy Goretti hiện ra với mình và tặng cho mình những cánh hoa mầu trắng và mầu đỏ. Từ đó Alexandre ăn năn sửa mình, nên được khoan hồng trả tự do trước khi hạn tù chấm dứt. Alexandre còn được vinh dự tham dự lễ phong thánh cho thánh nữ Maria Goretti.

Có thể xem câu chuyện trên là một câu chuyện tình. Nhưng trong chuyện ấy có hai thứ tình : tình của Alexsndre đối với Goretti là một thứ tình yêu thấp hèn, : còn tình yêu của Goretti đối với Alexandre là một thứ tình yêu cao đẹp. Nếu dùng từ ngữ của bài Tin Mừng hôm nay, thì tình yêu của Alexandre là tình yêu kiểu cũ, còn tình yêu của Foretti là thứ tình yêu kiểu mới.

Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu khuyên bảo chúng ta hãy yêu thương nhau. Thực ra tình yêu là chuyện vĩnh cửu, kể từ khi có mặt con người trên trái đất này thì cũng đã có tình yêu. Cho nên nếu Chúa Giêsu chỉ bảo người ta thương yêu nhau như người ta đã từng yêu thương nhau từ trước tới giờ thì lời khuyên dạy của Chúa là thừa và vô ích. Nhưng lời Chúa không thừa, không vô ích, vì Chúa không dạy người ta thương yêu nhau kiểu cũ, mà là thương yêu nhau kiểu mới.

Thế nào là yêu thương kiểu cũ, và thế nào là yêu thương kiểu mới ?

Tự nhiên là con người biết thương và biết ghét, : thương người vừa ý mình và ghét kẻ trái ý mình. Đó là yêu thương kiểu cũ. Sách Lêvi trong bộ Cựu Ước dạy một thứ tình yêu thương cao hơn : đó là đừng thù oán ai, nhưng hãy yêu thương mọi người như yêu thương chính mình. Đó là yêu thương kiểu khá mới. Còn trong bài Tin Mừng này, Chúa Giêsu dạy một tình yêu thương cao hơn nữa : không phải chỉ yêu người như yêu mình, mà phải yêu người như Chúa đã yêu. Đó là yêu thương kiểu mới nhất.

Kiểu yêu thương mới nhất là yêu người theo kiểu Chúa đã yêu. Vậy Chúa đã yêu như thế nào ? Có vài chi tiết trong bài phúc âm giúp ta hiểu rõ hơn cách yêu thương của Chúa :

Chi tiết thứ nhất là câu “Khi Giuđa đi rồi” : Giuđa đi để thực hiện âm mưu bội phản bán Thầy. Lúc đó lẽ ra Chúa phải chua chát cho tình nghĩa thầy trò, thế mà là lúc Ngài chan chứa yêu thương.

Chi tiết thứ hai là câu “Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy” : nếu không yêu thương thì không phải là môn đệ của Chúa.

Qua những chi tiết trên, ta hiểu được rằng yêu thương như Chúa đã yêu là yêu thương chính lúc người thường không thể yêu, yêu thương chính cái điều mà người thường không thể yêu, và yêu thương những người mà người thường không thể yêu. Hơn nữa người môn đệ Chúa bó buộc phải yêu thương như thế thì mới xứng đáng là môn đệ Chúa.

Ta hãy trở lại chuyện thánh nữ Maria Goretti. Yêu thương của Alexandre là yêu thương kiểu cũ, bởi vì Alexandre chỉ yêu thương theo sự thúc đẩy của bản tính, của tính dục. Khi tình dục không được thỏa mãn thì quay ra thù ghét và giết chết Goretti. Còn yêu thương kiểu Goretti là yêu thương kiểu mới : yêu thương chính kẻ giết mình, yêu thương chính lúc đau đớn sắp chết, yêu thương để tha thứ và để cứu vớt Alexandre.

Chúa muốn chúng ta yêu thương theo kiểu mới đó. Không phải Chúa chỉ muốn, mà Chúa còn truyền như một giới răn ” Thầy ban cho chúng con một giới răn mới”.

Chúng ta sẽ thực hiện giới răn mới ấy ra sao ? có một tác giả kia khi viết bài suy gẫm về bài phúc âm này, đã đề nghị một số việc như sau :

là làm hòa với những kẻ ghét mình

là cầu nguyện cho kẻ ghét mình

là làm tươi hồng môi trường sống của mình bằng những việc phục vụ và bằng những lời nói gây đoàn kết yêu thương.

Thiết tưởng đó là những việc rất cụ thể mà chúng ta phải cố gắng làm để thực hiện tình yêu thương kiểu mới mà Chúa Giêsu truyền dạy chúng ta trong bài Tin Mừng hôm nay.

* 2. Như thầy đã yêu

Vào năm 1995, xảy ra một trận động đất lớn chưa từng có ở Kôbê, nước Nhật, cả một thành phố hầu như đổ xuống thành một đống gạch vụn khổng lồ. Thiệt hại về người và của không biết cơ man nào mà kể. Các đội cứu hộ làm việc ngày đêm để lôi ra khỏi những đống gạch vụn vô vàn người chết, người bị thương.

Trong các tai họa vô cùng khủng khiếp ấy, người ta lại khám phá ra một câu chuyện hết sức cảm động, mà tiếng vang của nó còn mạnh hơn cả sức chấn động của cơn động đất.

Người ta kể lại rằng, đến ngày thứ hai của cuộc tìm kiếm nạn nhân, họ đào lên được dưới tòa nhà đổ nát hai mẹ con vẫn còn sống : Đứa con nhỏ khoảng mấy tháng tuổi vẫn còn thoi thóp, và người mẹ đã hoàn toàn bất tỉnh.

Sau khi cấp cứu cho hai mẹ con vượt qua cơn thập tử nhất sinh, các nhà báo đã phỏng vấn người mẹ :

- Làm thế nào mà cả hai mẹ con chị có thể sống được hai ngày dưới đống gạch vụn ấy ?

Chị đáp :

- Tuy bị chôn vùi dưới tòa nhà đổ nát, nhưng có một cái đà đã che chắn cho mẹ con tôi. Sau vài tiếng đồng hồ thì con tôi quá đói vì hai bầu sữa của tôi cháu đã uống cạn. Tôi liền mò mẫm trong bóng tối và đụng phải một vật sắc bén. Tôi liền vồ lấy và rạch một đường nơi cổ tay, đẩy miệng con tôi vào cho cháu mút giòng máu nóng. Cháu yên lặng được vài tiếng thì cơn đói lại cào cấu, và cháu lại gào lên khóc. Tôi liền rạch thêm một đường nữa nơi cổ tay bên kia, đưa vào miệng cháu. Sau đó, tôi không còn biết gì nữa ?

- Thế chị không nghĩ rằng làm như thế thì chị sẽ chết hay sao ?

- Tôi không hề nghĩ đến cai chết của mình, mà chỉ nghĩ làm cánh nào cho con tôi được sống.

*

Tình yêu hy sinh quên mình, tình yêu hiến dâng mạng sống của người mẹ dành cho đứa con trong câu chuyện trên đây, là lời minh chứng hùng hồn cho lời dạy của Đức Kitô trong bài Tin Mừng hôm nay : “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13,34).

Yêu “Như Thầy đã yêu” chính là cúi xuống rửa chân cho nhau để bày tỏ một tình yêu sâu thẳm, cho dù người ấy là Giuđa, kẻ phản bội tình yêu.

Yêu “Như Thầy đã yêu” chính là hạ mình xuống ngang hàng với người mình yêu để cảm thông, chia sẻ và yêu thương như “Bạn hữu thân tình”.

Yêu “Như Thầy đã yêu” chính là “Yêu cho đến cùng”, yêu cho đến chết và chết trên thập giá.

Vâng, kể từ khi Con Thiên Chúa đã yêu thương nhân loại cho đến cùng, thì luật yêu thương đã trở thành điều răn mới, mới ở đây chính là yêu “Như Thầy đã yêu”.

Chúng ta chỉ có thể yêu “Như Thầy đã yêu” khi chúng ta cảm nghiệm sâu xa tình yêu sâu nặng mà Người đã dành cho chúng ta.

Chúng ta chỉ có thể yêu “Như Thầy đã yêu” khi chúng ta dám quên mình, “bắt chước” Thầy, cúi xuống trước anh em.

Chúng ta chỉ có thể yêu “Như Thầy đã yêu” khi chúng ta dám xả thân, yêu cùng “mức độ” như Thầy, hiến dâng mạng sống cho anh em.

Như vậy, yêu “Như Thầy đã yêu” không phải là tình yêu vị kỷ (Eros) yêu người khác nhưng chỉ để lợi dụng, chiếm đoạt cho riêng mình, vì mình mà thôi ; nhưng chính là tình yêu vị tha (Agapé) sẵn sàng hiến dâng, hy sinh cho kẻ khác.

Yêu “Như Thầy đã yêu” chính là một dòng chảy không ngừng. Từ suối nguồn yêu thương của Thiên Chúa tuôn đổ xuống chúng ta, qua Thánh Thần Tình Yêu của Người, rồi từ con tim tràn đầy yêu thương của chúng ta, dòng suối tình yêu lại tuôn tràn sang những người anh em khác.

Nếu tình yêu như một dòng chảy liên kết chúng ta lại với Chúa, thì chính tình yêu ấy cũng liên kết chúng ta lại với nhau. Và đó cũng chính là dấu chỉ của môn đệ Đức Kitô : “Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy. Là anh em có lòng yêu thương nhau” (Ga 13,35).

*

Lạy Chúa. nếu đồng phục của người Ki tô hữu là yêu thương thì xin cho chúng con luôn tỏa sáng trong cuộc sống những lời nói yêu thương, những nghĩa cử nhân hậu, những hành động xả thân cho anh em, để xứng đáng làm môn đệ Đấng đã yêu thương chúng con cho đến cùng.

Xin cho suối nguồn tình yêu của Chúa tuôn chảy vào tâm hồn chúng con, không đọng lại như nước ao tù nhưng luôn là dòng chảy tình yêu đến với mọi người, để khắp thế giới tràn đầy tình yêu Chúa. Amen. (TP)

* 3. Yêu thương người ruột thịt

Khi đề cập đến giới luật yêu thương, người ta thường nói tới việc yêu thương những người tội lỗi, những người nghèo, những kẻ thù v.v. Thế nhưng có một hạng người cần yêu thương hơn mà na ta hay quên, đó là chính những người ruột thịt.

Có một người đã viết lên những lời cầu nguyện như thế này : “Chúa ơi, tình chị em con rộng rãi bao la như chiếc lá me, như cái bánh cam buổi chiều. Buồn quá Chúa ơi. Giờ này con mới thấy rõ bộ mặt thật não nề !” Lời cầu nguyện này cũng là một tâm sự, một nhận xét, một thú nhận thật là chua chát. Có những người theo lẽ tự nhiên thì rất dễ thương nhau, nhưng trong thực tế thì lại rất ghét nhau. Đó là những người ruột thịt sống chung với nhau hằng ngày !

Khi còn nhỏ, anh chị em ruộït thịt một nhà sống với ngay thật là thân thiết yêu thương : ăn chung, chơi chung, đi học chung, ngủ chung… Cuộc sống thật thoải mái, nhưng tới khi những anh chị em này đã lớn, mỗi người đã có nghề nghiệp riêng, tiền bạc riêng, quyền lợi riêng, gia đình riêng thì tình nghĩa lợt lạt dần, có khi còn thù ghét nhau nữa. Có một người kia thành thật nhìn nhận rằng : “Người mà tôi thù ghét nhất, đó là… chị tôi !”. Đó là một thực tế, thực tế không phải chỉ đối với một vài người nào đó, mà có lẽ đối với rất nhiều người.

Người ta đã đưa ra nhiều lý do để giải thích cái thực tế phủ phàng đó, như tại tuổi hai người xung khắc nhau, như tại cha mẹ cư xử không đồng đều với con cái. v.v. Tuy nhiên, những lý do đó không đúng, có thể còn mê tín dị đoan nữa. Lý do thật của tình trạng anh chị em ruột thịt không thương nhau lại thù ghét nhau là : Ganh ghét và thụ động.

Thứ nhất : ganh ghét. Hai anh em trong Thánh Kinh đã thù ghét nhau là Cain và Abilê. Và lý do thì rõ ràng là ganh ghét : Cain đã ganh với Abilê vì cậu em này chăm chỉ hơn mình nên làm ăn thành công hơn, hiếu thảo hơn mình nên được lòng cha mẹ hơn, đạo đức hơn mình nên được Chúa ban ơn nhiều hơn. Tình trạng bất hoà giữa nhiều anh chị em ruột thịt cũng cùng một lý do đó. Vì nó học giỏi hơn, vì nó đẹp hơn, vì nó có tiền hơn, vì nó được người ta thương mến hơn… khiến tôi bực bội khó chịu và từ đó hay kiếm chuyện gây gỗ. Ganh ghét là lý do chính. Tuy nhiên cần phải lưu ý đến khía cạnh tâm lý này : bởi vì chúng ta đều biết ganh ghét là một tính xấu cho nên ít ai chịu nhận mình có tính ganh ghét cả. Trong khi phân tích tình trạng bất hoà giữa anh chị em, ai ai cũng dễ dàng và mau mắn nhận rằng anh chị em đã ganh ghét mình, nhưng rất ít người chịu nhận mình ganh ghét anh chị em.

Lý do thứ hai là thụ động. Thụ động muốn nói đây không có nghĩa là mình không làm gì cả. Thực tế người ta rất tích cực và làm rất nhiều, nào là chê bai, nào là chửi bới, nào là nói xấu, nào là phá ngầm… Thụ động muốn nói đây là không làm gì cả để xây đắp tình yêu thương. Nói khác đi, mình muốn hưởng mà không chịu làm. Sống chung trong nhà, mình chỉ lo cho mình chứ không lo cho ai cả rồi khi thấy anh chị em không giúp đỡ mình, không ủi an mình, không nâng đỡ mình thì mình tức tối bực bội và kiếm chuyện gây gỗ. Ở đây cũng có một nhận xét này chúng ta cần lưu ý : là người nào hay quên mình để lo lắng cho anh chị em thì người đó rất ít thắc mắc, ít đặt vấn đề. Ngược lại kẻ nào chỉ thụ động chờ anh chị em lo lắng phục vụ mình thì kẻ ấy lại thường khó chịu, cự nự, gây chuyện nhiều nhất.

Trên đây là hai lý do giải thích tình trạng anh chị em ruột thịt bất hoà với nhau : một là tính ganh ghét, hai là tính thụ động chỉ đòi người ta lo cho mình trong khi mình không làm gì cả để xây đắp tình yêu thương. Thấy được hai lý do đó thì đương nhiên ta thấy được giải pháp của vấn đề. Làm thế nào để anh chị em ruột thịt thương yêu nhau ? Thưa ai cũng phải biết nâng đỡ nhau. Tục ngữ ta có câu “Chị ngã em nâng”. Đó là những anh chị em thương yêu nhau thật sự. Còn những anh chị em không thương yêu nhau thì “Chị ngã, em dửng dưng đứng nhìn, hoặc tệ hơn nữa chị ngã mà em khoái chí !

Nhưng cụ thể, nâng đỡ như thế nào ?

- Trước hết là nâng đỡ khi thành công. Nhưng khi thành công thì cần gì nâng đỡ ? Ta dễ nghĩ như vậy. Nhưng thực tế lại không như vậy. Bởi vì ai trong chúng ta cũng có sẵn tính ganh ghét mặc dù mình không muốn nhìn nhận. Sự thành công của người khác có thể gợi lên trong ta cái tính ganh ghét nằm sẵn đó. Cho nên khi anh chị em ta thành công mà ta biết nâng đỡ bằng cách chia vui, chúc mừng, khích lệ thì đương nhiên là ta đã loại bỏ không cho tính ganh ghét trỗi dậy.

- Sự nâng đỡ càng cần thiết hơn khi anh chị em mình thất bại. Người thất bại thì dĩ nhiên phải đau buồn. Đau buồn thì cần người an ủi, đỡ nâng. Cần mà không gặp thì cô đơn chua xót. Nếu đã không gặp được nâng đỡ mà lại còn thấy anh chị em vui mừng hỉ hả vì thất bại của mình thì chẳng những cô đơn chua xót mà còn thêm đắng cay, hận thù. Có một người lâm vào tình cảnh đắng cay như thế đã than : “Lúc này tôi hoàn toàn cô độc. Buồn một mình, khổ một mình, khóc một mình. Tôi chỉ thấy có một vật có thiện cảm với tôi, đó là con chó của tôi. Chỉ có thế thôi”. Cái tâm trạng chán chường cay đắng vì thiếu nâng đỡ ấy dễ đưa người ta tới chỗ sa sút tinh thần, như có người nhận xét : Ít có người đã tự tử vì không chịu nỗi những đau đớn thân xác. Nhưng hầu hết các người tự tử vì không chịu nỗi đau khổ trong tâm hồn. Và có những người trong anh chị em chúng ta trong lúc buồn nản đã không tự tử phần xác, nhưng đã tự tử phần hồn. Tự tử phần hồn là gì ? Là sa đọa, là bất cần, là nổi loạn làm cho gia đình tan nát, làm cho tình nghĩa anh chị em ruột thịt đổ vỡ.

Một vị thánh đã nói “Yêu thương phải bắt đầu từ những người thân rồi mới lan xa tới những người khác”. Những người thân mà chúng ta đề cập nãy giờ chính là anh chị em ruột thịt của mình.

* 4. “Cứ dấu này mà người ta nhận biết…”

Người kia trồng một cây ăn trái trong rừng. Thoạt đầu cái cây này nhỏ xíu, tưởng như mất hút trong khu rừng giữa những cây to lớn. Nhưng nó hết sức cố gắng vươn lên nên một thời gian sau nó cũng cao và cũng lớn không thua kém gì các cây khác.

Một hôm ông chủ của nó vào rừng thăm nó. Ông rất ngạc nhiên thấy nó cao lớn như thế. Ông trầm trồ khen ngợi :

- Thật không ngờ mi lớn nhanh như thế. Tuyệt vời quá !

Nhưng cái cây khiêm tốn đáp lại :

- Chưa tuyệt vời đâu thưa ông chủ. Tôi thấy mình còn rất nhiều khuyết điểm. Thân tôi còn nhiều chỗ xù xì, lồi lõm…

- Nhưng những cái đó không quan trọng. Ta chẳng quan tâm. Chỉ có điều này khiến ta chưa vừa lòng.

- Thưa ông chủ, tôi không hiểu. Tôi đã lớn lên, chẳng kém gì những cây thông, cây sồi.

Ông chủ giải thích :

- Nhưng mi không phải là loại cây cần có lá có cành thật lớn. Mi là cây ăn trái. Trái chính là điểm đặc biệt quý giá nơi mi. Thế mà mi chưa sinh ra dược trái nào cả !

Người ta sẽ nhận biết cây nào thuộc loại cây ăn trái nếu người ta thấy nó có trái. Cũng thế, người ta sẽ nhận biết ai là môn đệ Chúa Giêsu nếu người ta thấy họ yêu thương nhau.

Nhiều kitô hữu cố gắng làm đủ mọi chuyện, chỉ trừ chuyện yêu thương nhau !

Nhìn thấy Mẹ Têrêsa đang chăm sóc cho một người bị ghẻ lở đầy mình, một nhà báo nói : “Tôi không thể làm được việc đó cho dù có trả cho tôi một triệu đôla”. Mẹ Têrêsa đáp : “Chính tôi cũng không làm nổi việc ấy với số tiền đó. Nhưng tôi làm vì yêu Chúa” (FM)

* 5. Sức mạnh của yêu thương

Kể về kinh nghiệm lúc ở trại tập trung Auschwitz, Elie Wiesel nói : những người cai tù Đức cố gắng làm cho các tù nhân quên hết bà con và bạn bè, để chỉ nghĩ tới bản thân và chỉ lo cho nhu cầu bản thân mà thôi. Họ nói rằng đó là cách để sống còn. Nhưng Wiesel thấy ngược lại : người nào chỉ biết sống cho mình thì cơ may sống sót rất ít, trái lại người nào còn nghĩ tới gia đình, bạn bè, thân thuộc, hay còn nuôi một lý tưởng thì cơ may sống sót nhiều hơn. Chính những ý tưởng yêu thương ấy đã giúp họ sống.

Tính vị kỷ khép cửa lòng ta lại và thu hẹp thế giới của ta, giam hãm ta. Nó dựng lên những rào cản, thậm chí những bức tường ngăn cách ta với tha nhân. Điều giải thoát ta khỏi sự giam hãm ấy chính là tình yêu thương thực sự và sâu đậm của ta đối với người khác.

Tình yêu luôn đòi hỏi chúng ta phải cho đi điều tốt nhất và tình yêu cũng mang điều tốt nhất lại cho ta. Khi được yêu, ta có được can đảm và nghị lực phi thường. Khi yêu cũng thế. Nhiều khi tình yêu còn làm được những điều như phép lạ. Elizabeth Kubler Ross viết : “Tình yêu là ngọn lửa sưởi ấm cho cõi lòng, tăng cường nghị lực cho tinh thần và cung cấp niềm đam mê cho cuộc sống”.

Nếu không có tình yêu thì người ta sẽ ra sao ? Thưa người ta sẽ sống rất nghèo nàn. Còn người yêu thương thì sống rất phong phú.

Mục đích cuộc đời là gì nếu không phải là yêu ? Tự do không bị trói buộc trong tính vị kỷ và có khả năng yêu thương tha nhân, đó chính là sống.

Một bác sĩ đã chứng kiến nhiều người hấp hối cho biết : lúc sắp chết, người ta không nghĩ đến mình đã đậu được những bằng cấp gì, đã chiếm được địa vị nào trong xã hội, hay đã kiến được bao nhiêu tiền… Điều duy nhất những người ấy nghĩ đến, đó là những người họ yêu và những người yêu họ. (FM)

* 6. Những loại tình yêu

Ngày nay chúng ta hiểu biết nhiều hơn thời xưa về sự phức tạp của bản tính loài người, và về những động cơ khác nhau đàng sau những việc chúng ta làm.

Yêu thương chẳng hạn. Thật không đơn giản, mà có tới ít ra 5 loại :

- Thứ nhất là tình yêu vụ lợi : ta yêu thương người nào đó vì người đó có lợi cho ta. Nhưng đây không phải là tình yêu mà là vị kỷ. Tôi yêu điều gì đó nơi bạn chứ tôi không yêu bạn.

- Thứ hai là tình yêu lãng mạn : chúng ta có tình cảm với người nào đó bởi vì người ấy làm cho mình thích. Đây cũng không phải là tình yêu mà chỉ là đam mê. Ta tưởng mình yêu người đó nhưng thực chất là ta yêu chính mình. Thông thường tình yêu lãng mạn không bền vững. Bởi đó nhiều cặp vợ chồng bị thất bại.

- Thứ ba là tình yêu “dân chủ”, dựa trên sự bình đẳng trước pháp luật. Ta tôn trọng người khác vì họ cũng là công dân như ta. Ta nhìn nhận những quyền tự do của họ để họ cũng nhìn nhận những quyền tự do của ta. Sở dĩ ta làm điều gì tốt cho họ là vì để họ cũng làm điều tốt cho ta.

- Thứ tư là tình yêu nhân bản : đây là yêu người cách chung. Điểm yếu của loại tình yêu này là trừu tượng chứ ít khi cụ thể : tôi yêu người, nhưng tôi không gắn bó với người nào cả.

- Thứ năm là tình yêu kitô, nghĩa là yêu như Đức Kitô đã yêu. Đây là tình yêu vô vụ lợi, yêu khi chẳng có gì lợi cho mình. Tình yêu này tồn tại vững bền bất chấp thù nghịch và bắt bớ. Tình yêu này thể hiện qua phục vụ và hy sinh. Chúng ta chỉ có thể yêu đến mức độ thứ năm này nhờ sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần.

Ta thường hiểu yêu theo nghĩa thụ động hơn là chủ động. Nói cách khác, ta mong “được người yêu” hơn là “yêu người”. Vì nghĩ thế nên ta dồn mọi cố gắng để thành công, để giàu có, để có sức quyến rũ… Kết quả là chẳng được tình yêu thực sự nào cả, vì người khác chỉ yêu cái thành công, cái giàu có và cái quyến rũ của ta chứ không phải yêu ta. Trái lại nếu ta “yêu người” thì người sẽ yêu ta vì chính con người của ta.

Có 3 tình trạng yêu thương : (1) Không yêu và không được yêu : tình trạng này giống như hỏa ngục ngay ở đời này ; (2) Yêu mà không được yêu lại : tình trạng này tuy đau khổ nhưng khá hơn tình trạng thứ nhất ; (3) Yêu và được yêu : đây chính là tình trạng hạnh phúc của Chúa Giêsu :”Như Cha Thầy đã yêu thương Thầy, Thầy cũng yêu thương các con”.

Tình yêu là một sự chọn lựa, vì không ai ép được tình yêu. Nhưng từ chối không yêu tức là bắt đầu chết. Điều tồi tệ nhất trong các điều tồi tệ là một cuộc sống lạnh lẽo vô tình. (FM)

* 7. Chuyện minh họa

Có hai anh em nhà kia : người anh tên Stephen 12 tuổi có một chân què ; người em tên Mark 10 tuổi cả hai chân đều mạnh khoẻ. Nhiều khi Stephen ganh tị với em, thậm chí còn muốn em mình què còn mình thì đủ hai chân mạnh khoẻ.

Một đêm kia Stephen nằm mơ thấy mình lạc vào một khu rừng và gặp một bà phù thuỷ. Bà này ban cho cậu một điều ước, ước gì được nấy. Stephen chẳng chút do dự ước ngay : “Ước gì tôi có đôi chân mạnh khoẻ”. Bà phù thuỷ liền mang Stephan từ khu rừng trở lại nhà cậu. Khi ấy Mark em cậu đang ngủ. Bà phù thuỷ giở tấm mền của Mark ra. Stephen hỏi :

- Bà làm gì thế ?

Phù thuỷ đáp :

- Ta sắp giải phẫu, lấy đôi chân của em cậu sang cho cậu và rồi lấy đôi chân của cậu cho nó.

- Không thể được.

- Có sao đâu, khi tỉnh dậy em cậu sẽ chẳng biết gì hết. Nó cứ tưởng là từ trước tới nay nó vẫn có một chiếc chân què.

Stephen thoáng nghĩ đến tương lai. Cậu thấy mình chạy giỡn thoải mái với đôi chân lành. Cậu rất sung sướng. Nhưng khi nhìn lại phía sau thì thấy Mark khổ sở chạy theo với một cái chân khập khiễng thì Cậu không chịu được. Khi ấy cậu nói với bà phù thuỷ : “Tôi không muốn có đôi chân lành lặn nữa.”

Giật mình thức dậy, Stephan nhìn xuống đôi chân của mình, rồi nhìn sang đôi chân của em. Thấy mọi sự vẫn như cũ, cậu mỉm cười sung sướng. Từ đó trở đi, không khi nào cậu còn ganh tị với em nữa.

Stephan muốn sung sướng, nhưng không phải bằng cái giá là sự đau khổ của em mình. Hạnh phúc thật chỉ được xây dựng bằng một tình yêu không vị kỷ. Yêu thương ai là dặt người ấy lên hàng đầu. (FM)

V. LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI

Chủ tế : Anh chị em thân mến, di chúc của Chúa Giêsu gồm tóm trong một câu : Thầy ban cho anh em một điều răn mới, là anh em hãy yêu thương nhau ; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. Với quyết tâm sống theo điều răn mới của Chúa, chúng ta cùng tha thiết nguyện xin :

1. Hội thánh có một bí quyết hết sức hữu hiệu để phản đối sự độc ác của con người / đó là bác ái yêu thương / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho mọi thành phần Dân Chúa / biết cố gắng tận dụng bí quyết này trong đời sống chứng nhân của mình.

2. Hiện nay / chiến tranh / hận thù / khủng bố / kỳ thị chủng tộc / gây ra biết bao tang tóc cho nhân loại / Chúng ta hiệp lời cầu xin Thánh thần Tình yêu tác động đến lòng trí con người hôm nay / để mọi người biết yêu thương và tôn trọng nhau hơn.

3. Lòng bác ái thì nhẫn nhục / hiền hậu / không ghen tương / không vênh vang / không tự đắc / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho hết thảy mọi tín hữu / biết sống theo lời dạy của thánh Phaolô tông đồ.

4. Lòng bác ái tha thứ tất cả / tin tưởng tất cả / hy vọng tất cả / chịu đựng tất cả / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho cộng đoàn giáo xứ chúng ta / cố gắng thực hiện lời khuyên nhủ của vị tông đồ dân ngoại.

Chủ tế : Lạy Chúa, thánh Phaolô đã dạy chúng con : Anh em đừng mắc nợ gì ai, ngoài món nợ tương thân tương ái ; vì ai yêu người, thì đã chu toàn Lề Luật. Vậy xin Chúa thương ban ơn trợ giúp để chúng con có thể sống trọn vẹn điều răn mến Chúa yêu người. Chúng con cầu xin

VI. TRONG THÁNH LỄ

Trước kinh Lạy Cha : Chúng ta là con của cùng một Cha trên trời. Chúng ta hãy xin Cha giúp chúng ta biết yêu thương nhau như những người anh chị em ruột thịt.

VII. GIẢI TÁN

Anh chị em hãy ghi nhớ lời Chúa dạy hôm nay : “Người ta cứ dấu này mà nhận biết chúng con là môn đệ Thầy, là chúng con yêu thương nhau”.


Bài 18. XIN HIỆP NHĂT CHÚNG CON
Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

Ngày xưa, ở một gia đình kia, có hai anh em. Lúc nhỏ, anh em rất hòa thuận. Khi lớn lên, anh có vợ, em có chồng, tuy mỗi người một nhà, nhưng vẫn hay va chạm.

Thấy các con không yêu thương nhau, người cha rất buồn phiền. Một hôm, ông đặt một bó đũa và một túi tiền trên bàn, rồi gọi các con,cả trai, gái, dâu, rể lại và bảo:

- Ai bẻ gãy được bó đũa này thì cha thưởng cho túi tiền.

Bốn người con lần lượt bẻ bó đũa. Ai cũng cố sức mà không sao bẻ gãy được. Người cha bèn cởi bó đũa ra, rồi thong thả bẻ gãy từng chiếc một cách dễ dàng.

Thấy vậy, bốn người con cùng nói:

- Thưa cha, lấy từng chiếc mà bẻ thì có khó gì !

Người cha liền bảo:

Đúng. Như thế là các con đều thấy rằng chia lẻ ra thì yếu, hợp lại thì mạnh. Vậy các con phải biết thương yêu, đùm bọc lẫn nhau. Có đoàn kết thì mới có sức mạnh”.

Câu chuyện trên khiến ta liên tưởng tới tờ giấy nhám, một tờ giấy rất bình thường mà nhiều công dụng. Giấy nhám có thể làm nhẵn thín những mảnh gỗ sần sùi, có thể làm sáng loáng những mảnh kim loại lâu ngày rỉ sét.

Mà giấy nhám chỉ được làm thành với những hạt cát long lanh, một chút keo và tờ giấy.

Để trên lòng bàn tay, cát có thể bị một hơi thở thổi bay tứ phía. Chút keo hòa vào nước sẽ chỉ là nước, dễ bốc hơi và không còn dính. Và tờ giấy có thể bị vò nát xé tan từng mảnh.

Nhưng khi cát trộn lẫn với keo, rồi trải mỏng lên tờ giấy chờ cho khô thì tất cả sẽ thành tờ giấy nhám, vừa dai vừa sắc với nhiều công dụng.

Ở đời, không ai có thể sống lẻ loi. Lẻ loi thì làm sao có cơm mà ăn có áo mà mặc, có nhà để ở. Rồi lại còn biết bao nhiêu nhu cầu khác nữa cho đời sống. Lẻ loi sẽ khó mà tồn tại bởi biết bao giông tố do thiên nhiên, do con người mang đến. Lẻ loi con người sẽ tự hủy diệt mình.

Con người ngay từ thuở hồng hoang đã biết sống nương tựa và đùm bọc lẫn nhau. Con người phải đoàn kết không chỉ để sống mà còn để làm việc, để xây dựng cuộc đời hạnh phúc và tốt đẹp hơn, như cha ông ta đã nói:

“Một cây làm chẳng nên non

Ba cây chụm lại, nên hòn núi cao”.

Lời tiệc ly hôm nay, Chúa Giê-su cũng ao ước các môn đệ hãy hiệp nhất và yêu thương nhau. Tình yêu thương hiệp nhất sẽ giúp họ vượt qua những giông tố cuộc đời. Tình yêu thương hiệp nhất sẽ giúp họ gắn bó với nhau để cùng nhau xây dựng Giáo hội và loan truyền tình yêu Chúa cho muôn dân. Tình yêu hiệp nhất là cốt lõi của tin mừng và cũng là dấu chỉ của người môn đệ Chúa. Vì cũng ở điểm này mà người ta nhận biết anh em là môn đệ Thầy là hãy yêu thương nhau.

Nhưng xem ra nỗi khao khát hiệp nhất thật mong manh. Vì bên cạnh những người đang ra sức xây dựng tình hiệp nhất thì vẫn còn đó những người đang phá hoại sự hiệp nhất bằng đời sống thiếu tình yêu thương và hiệp nhất. Đôi khi họ cũng nhân danh tôn giáo, nhân danh chính nghĩa để kết án người này, hạ bệ người kia. Họ tìm cách gieo vào cộng đoàn những thành kiến gây nên những chia rẽ ngay từ nội bộ Giáo hội. Họ tôn sùng quan điểm của họ để kết án những người không cùng quan điểm với họ. Họ vẫn đi lễ. Họ vẫn cử hành thánh lễ nhưng họ lại sống thiếu tình hiệp nhất, đôi khi còn chia rẽ nhau bởi lời ra tiếng vào. Họ vẫn là những “con sâu làm rầu nồi canh” bởi đời sống thiếu bác ái trong lời nói và việc làm của mình đã gây nên biết bao đổ vỡ cho Giáo hội và giáo xứ.

Là người môn đệ của Chúa nhưng không sống tình bác ái bao dung xem chừng là phản đạo chứ không phải xây dựng đạo. Đạo yêu thương mà sống thiếu đức ái còn kém hơn người ngoại đạo mà họ sống đoàn kết với nhau. Là môn đệ mà chỉ đồng cảm chứ không đồng thuận với nhau hóa ra chỉ là mồ mả tô vôi để đánh lừa người khác hay chỉ là để làm đẹp cho chính mình. Vì “thuận vợ, thuận chồng tát bể đông cũng cạn”. Tình yêu không dừng lại ở đồng cảm với nhau, thương hại nhau, hay xót thương nhau mà còn phải thuận tình với nhau và giúp đỡ nhau vượt qua những khó khăn trong cuộc đời.

Theo sách Tông đồ công vụ, Giáo hội sơ khai được toàn dân thương mến vì họ sống tình yêu thương và hiệp thông với nhau. Hiệp thông trong cầu nguyện và yêu thương trong sự đùm bọc lẫn nhau để không ai bị đói, bị khổ, bị cô đơn ngay giữa anh em mình. Chính vì tình yêu thương và hiệp nhất mà họ đã làm nên một cộng đoàn duy nhất để loan truyền tin mừng cho thế gian.

Ước mong lời di chúc của Chúa được thể hiện nơi mỗi người chúng ta khi biết từ bỏ cái tôi của mình để sống khiêm tốn với nhau. Ước mong từng lời nói, từng việc làm của chúng ta luôn nhằm mục đích xây dựng cho Giáo hội chứ không nhằm thỏa mãn tham vọng cá nhân. Xin cho chúng ta luôn khiêm tốn trong lời nói để xây dựng mà không làm tổn thương đến ai hay làm mất tình hiệp nhất trong Giáo hội. Xin đừng ví tính tự cao tự đại cá nhân mà phá nát hình ảnh Giáo hội hiệp nhất yêu thương. Amen./.


Bài 19. YÊU THƯƠNG
Sợi Chỉ Đỏ

Chắc hẳn nhiều người có biết chuyện thánh nữ Maria Goretti. Maria Goretti là một thiếu nữ đẹp: Vừa đẹp người vừa đẹp nết. Nhưng gia đình thì nghèo: Không có nhà riêng để ở, phải ở chung nhà với gia đình của anh chàng Alexandre. Hàng ngày mẹ và các anh của Goretti ra đồng làm ruộng, Goretti ở nhà lo việc nội trợ và giữ em. Anh chàng Alexandre từ lâu đã đem lòng yêu cô gái Goretti và cũng đã vài lần dụ dỗ Goretti cùng mình trao đổi những cử chỉ yêu đương, nhưng Goretti luôn từ chối. Một hôm Alexandre đang làm ruộng ngoài đồng, nhưng biết Goretti ở nhà một mình nên lấy cớ đau bụng để trở về nhà. Về đến nhà Alexandre giả bộ nhờ Goretti vào phòng hắn lấy cái áo đứt nút đơm lại giùm. Cô gái ngây thơ có tính hay giúp đỡ tưởng thật nên đã đi vào. Alexandre lại một lần nữa đề nghị chuyện ái ân. Goretti vẫn từ chối. Khi ấy vì đam mê đã làm cho lý trí mù quáng. Alexandre dùng dao đâm túi bụi 17 nhát vào mình Goretti và chạy trốn. Sau đó anh của Goretti sinh nghi từ ruộng trở về thấy em gái mình sắp chết, anh thề sẽ trả thù. Nhưng Goretti tha thiết xin anh hãy tha cho hắn. Cuối cùng Goretti chết và Alexandre bị cảnh sát bắt giam. Một đêm kia anh thấy Goretti hiện ra với mình và tặng cho mình những cánh hoa mầu trắng và mầu đỏ. Từ đó Alexander ăn năn sửa mình, nên được khoan hồng trả tự do trước khi hạn tù chấm dứt. Alexandre còn được vinh dự tham dự lễ phong thánh cho thánh nữ Maria Goretti.

Có thể xem câu chuyện trên là một câu chuyện tình. Nhưng trong chuyện ấy có hai thứ tình: tình của Alexandre đối với Goretti là một thứ tình yêu thấp hèn,: còn tình yêu của Goretti đối với Alexandre là một thứ tình yêu cao đẹp. Nếu dùng từ ngữ của bài Tin Mừng hôm nay, thì tình yêu của Alexander là tình yêu kiểu cũ, còn tình yêu của Goretti là thứ tình yêu kiểu mới.

Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu khuyên bảo chúng ta hãy yêu thương nhau. Thực ra tình yêu là chuyện vĩnh cửu, kể từ khi có mặt con người trên trái đất này thì cũng đã có tình yêu. Cho nên nếu Chúa Giêsu chỉ bảo người ta thương yêu nhau như người ta đã từng yêu thương nhau từ trước tới giờ thì lời khuyên dạy của Chúa là thừa và vô ích. Nhưng lời Chúa không thừa, không vô ích, vì Chúa không dạy người ta thương yêu nhau kiểu cũ, mà là thương yêu nhau kiểu mới. Thế nào là yêu thương kiểu cũ, và thế nào là yêu thương kiểu mới? Tự nhiên là con người biết thương và biết ghét,: thương người vừa ý mình và ghét kẻ trái ý mình. Đó là yêu thương kiểu cũ. Sách Lêvi trong bộ Cựu ước dạy một thứ tình yêu thương cao hơn: đó là đừng thù oán ai, nhưng hãy yêu thương mọi người như yêu thương chính mình. Đó là yêu thương kiểu khá mới. Còn trong bài Tin Mừng này, Chúa Giêsu dạy một tình yêu thương cao hơn nữa: không phải chỉ yêu người như yêu mình, mà phải yêu người như Chúa đã yêu. Đó là yêu thương kiểu mới nhất. Kiểu yêu thương mới nhất là yêu người theo kiểu Chúa đã yêu. Vậy Chúa đã yêu như thế nào? Có vài chi tiết trong bài Phúc âm giúp ta hiểu rõ hơn cách yêu thương của Chúa:

Chi tiết thứ nhất là câu “Khi Giuđa đi rồi”: Giuđa đi để thực hiện âm mưu bội phản bán Thầy. Lúc đó lẽ ra Chúa phải chua chát cho tình nghĩa thầy trò, thế mà là lúc Ngài chan chứa yêu thương.

Chi tiết thứ hai là câu “Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy”: nếu không yêu thương thì không phải là môn đệ của Chúa.

Qua những chi tiết trên, ta hiểu được rằng yêu thương như Chúa đã yêu là yêu thương chính lúc người thường không thể yêu, yêu thương chính cái điều mà người thường không thể yêu, và yêu thương những người mà người thường không thể yêu. Hơn nữa người môn đệ Chúa bó buộc phải yêu thương như thế thì mới xứng đáng là môn đệ Chúa. Ta hãy trở lại chuyện thánh nữ Maria Goretti. Yêu thương của Alexander là yêu thương kiểu cũ, bởi vì Alexander chỉ yêu thương theo sự thúc đẩy của bản tính, của tính dục. Khi tình dục không được thoả mãn thì quay ra thù ghét và giết chết Goretti. Còn yêu thương kiểu Goretti là yêu thương kiểu mới: yêu thương chính kẻ giết mình, yêu thương chính lúc đau đớn sắp chết, yêu thương để tha thứ và để cứu vớt Alexander. Chúa muốn chúng ta yêu thương theo kiểu mới đó. Không phải Chúa chỉ muốn, mà Chúa còn truyền như một giới răn “Thầy ban cho chúng con một giới răn mới”.

Chúng ta sẽ thực hiện giới răn mới ấy ra sao? Có một tác giả kia khi viết bài suy gẫm về bài Phúc âm này, đã đề nghị một số việc như sau là làm hoà với những kẻ ghét mình, là cầu nguyện cho kẻ ghét mình, là làm tươi hồng môi trường sống của mình bằng những việc phục vụ và bằng những lời nói gây đoàn kết yêu thương.

Thiết tưởng đó là những việc rất cụ thể mà chúng ta phải cố gắng làm để thực hiện tình yêu thương kiểu mới mà Chúa Giêsu truyền dạy chúng ta trong bài Tin Mừng hôm nay.


Bài 20. YÊU THƯƠNG NHAU LÀ TÔN VINH THIÊN CHÚA
Lm. Giuse Đỗ Đức Trí

Thưa quý OBACE, Lời Chúa của các Chúa nhật Phục sinh vừa qua lần lượt nhấn mạnh cho chúng ta về niềm tin vào màu nhiệm Chúa Phục sinh và làm thế nào để có thể đón nhận được màu nhiệm phục sinh, kế đó là mời gọi chúng ta gắn bó hiệp thông và yêu mên Giáo Hội và ý thức mình là con chiên trong đoàn chiên của Chúa, thì hôm nay Lời Chúa nhấn mạnh cho chúng ta về đời sống của người tín hữu, đó là đời sống yêu thương bác ái, và mỗi người khi sống yêu thương bác ái đó là chúng ta tôn vinh danh Chúa.

Bài Tin mừng hôm nay đưa chúng ta trở lại bầu khí của ngày thứ Năm Tuần Thánh, ghi lại những lời tâm tình của Chúa Giêsu tại nhà tiệc ly quen gọi là những lời từ biệt sau cùng của Chúa. Tác giả Tin Mừng đã rất lưu ý đến tâm trạng của Chúa Giêsu, lúc này, Giuda đã rời khỏi phòng tiệc, để rắp tâm thực hiện ý đồ của mình là trao nộp Đức Giêsu cho người Do Thái, Chúa Giêsu đã biết rất rõ ý định của Giuda, cùng với hành động phản bội của Y, Chúa Giêsu đã thấy giờ của Ngài đã đến, đó là giờ Thiên Chúa đã muốn tôn vinh Con của Ngài là Đức Giêsu, là giờ Đức Giêsu thể hiện sự vâng phục Thiên Chúa Cha, cho đến nỗi bằng lòng chịu chết cái chết thập giá để cứu chuộc nhân loại, đồng thời cũng là giờ Thiên Chúa Cha được tôn vinh qua chính con người và sư vâng phục của Đức Giêsu.

Tác giả Tin Mừng đã nhìn thấy một viễn tượng mới đã được mở ra bắt đầu từ giờ này, một viễn tượng mà cả thế giới, và muôn loài muôn vật sẽ nhận ra Thiên Chúa và tình thương của Ngài, nhận ra quyền năng và sự khôn ngoan của Thiên Chúa qua cái chết và sự sống lại của Đức Giêsu. Tác giả Tin mừng cũng nhìn thấy muôn dân muôn nước sẽ được quy tụ nên một, nhờ cái chết của Đức Giêsu, mọi dân nước sẽ được hòa giải cùng Thiên Chúa Cha, và sẽ được đón nhận vào gia đình của Thiên Chúa, và như thế thì Thiên Chúa cha sẽ được tôn vinh qua sư yêu mên và vâng phục của Chúa Giêsu và của mọi loài thọ tạo.

Trong giờ phút thân thương của tình thày trò này, Chúa Giêsu đã nói với các tông đồ bằng những lời hết sức yêu thương: Anh em là những người con bé nhỏ của Thày.Thày ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau. Nhờ đức Giêsu Kitô, chúng ta được đón nhận và thực sự trở nên con Thiên Chúa và đồng thời chúng ta trở nên anh em ruột thịt với nhau. Chính vì thế, điều mà Chúa Giêsu muốn mỗi chúng ta là: hãy yêu thương nhau. Với lệnh truyền này thì việc yêu thương nhau không còn là một việc dựa trên tình cảm hay sở thích, mà nó trở thành một giới răn ràng buộc tất cả mỗi người môn đệ của Chúa.

Bên cạnh đó Chúa không muốn chúng ta chỉ yêu thương trên môi trên miệng, Nhưng Chúa muốn chúng ta yêu thương nhau bằng tình yêu của Chúa và giống như Chúa: Hãy yêu thương nhau như Thày đã yêu thương anh em. Yêu như Chúa đã yêu, tức là yêu bằng một tình yêu hiến thân quên mình, yêu không tính toán thiệt hơn, yêu đến trao tặng tất cả, kể cả mạng sống cho người mình yêu; Yêu như Chúa yêu là dám gạt bỏ tính tự ái tự cao để chấp nhận cúi xuống phục vụ và rửa chân cho anh em, và Cứ dấu này mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thày là anh em hãy yêu thương nhau. Như thế, không cần phải nói bằng lời, vì chính qua hành động yêu thương mọi người sẽ nhận biết chúng ta là con cái Thiên Chúa, và qua chúng ta mọi người sẽ tôn vinh Danh Chúa. Có thể nói cách khác rằng, khi mỗi môn đệ của Chúa Giêsu sống yêu thương nhau và hành động vì yêu thương là chúng ta đang tôn vinh Thiên Chúa, vì Thiên Chúa của chúng ta là thiên Chúa tình yêu, và vì con người đã được dựng nên giống hình ảnh Ngài nên khi càng yêu thương chúng ta càng trở nên giống Thiên Chúa.

Chính nhờ đời sống yêu thương và phục vụ mà các Kitô hữu đầu tiên được gọi là những cộng đoàn yêu thương nhau, như bài đọc một kể lại, các tin hữu thời sơ khai đã sống đức tin bằng việc chuyên cần học hỏi và lắng nghe giáo huấn của các tông đồ, đồng thời chia sẻ cho nhau trong tình huynh đệ không ai lấy của gì làm của riêng, tất cả những gì họ có đều được đưa đến cho các tông đồ để các Ngài phân phát cho người nghèo, vì thế trong cộng đoàn không ai phải túng thiếu. Cũng từ đời sống bác ái và yêu thương như thế, đã có ảnh hưởng rất lớn trên các dân ngoại, và vì vậy số người tin vào Danh Thiên Chúa và gia nhập Giáo Hội ngày càng gia tăng. Các tông đồ đã nhận ra rằng Thiên Chúa vẫn đang hiện diện và làm việc với các ông trên mọi nẻo đường truyền giáo, và Thiên Chúa đã mở cánh cửa đức tin cho mọi dân được bước vào trong nhà của Thiên Chúa.

Cánh cửa đức tin mà Thiên Chúa đã mở ra cho muôn dân cũng còn là cánh cửa đưa vào một đời sống mới, một thế giới mới như thị kiến mà Gioan đã thấy: Tôi đã thấy trời mới đất mới, vì trời cũ đất cũ đa qua đi… tôi đã thấy thành thánh Giêrusalem mới từ trời mà xuống. Thế giới mới này là thế giới của Thiên Chúa và của những người được Thiên Chúa tuyển chọn, chính Thiên Chúa sẽ cắm lều và cư ngụ với con người, Ngài sẽ cất đi mọi đau khổ tủi nhục, mọi u sầu và chết chóc của kiếp con người, vì chính Thiên Chúa là Đấng đổi mới mọi sự, Ngài sẽ biến đổi những người tin vào Ngài nên những con người mới, sống theo luật mới đó là luật yêu thương, luật của tin Mừng.

Thưa quý OBACE, chúng ta đã sống và đã làm gì để tôn vinh Danh Chúa ? Người ta thường nói Cha mẹ sẽ được vẻ vang vinh dự nơi con cái, chúng ta là con cái Thiên Chúa, được Thiên Chúa yêu thương gìn giữ và quan phòng, Ngài hằng lo liệu để chúng ta có được như ngày hôm nay, từng hơi thở, từng nhịp sống đều do bởi tình yêu của Chúa, do đó chúng ta sẽ phải trở thành những người con biết sống và làm rạng danh cho Cha của chúng ta ở trên trời.

Lời Chúa hôm nay chỉ cho chúng ta cách sống để làm vinh danh Thiên Chúa, đó là sống và thực hành giới răn yêu thương của Chúa Giêsu đã dạy: Thày ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau. Chúa Giêsu muốn chúng ta sống và thực hành sự mới mẻ của giới răn yêu thương, hay nói cách khác Chúa muốn chúng ta làm mới lại tình yêu thương theo tinh thần của Chúa. Có thể với thời gian vì đã quá quen nói về giới răn yêu thương, song có khi chúng ta lại quên thực hành tình yêu thương đối với nhau, nhiều người đã để cho tình yêu của mình đối với gia đình, với người thân, với những người chung quanh trở nên cũ kỹ sáo rỗng trên môi trên miệng. Hãy làm mới lại tình yêu thương đối với nhau, hãy bắt đầu bằng việc thay đổi cách nhìn về nhau, hãy nhìn nhau bằng một cái nhìn trân trọng và nhận ra nhau là con cái là hình ảnh của Thiên Chúa, hãy thay đổi cách nói cách cư xử với nhau trong gia đình trong giáo xứ, hãy nói với nhau bằng những lời chân thành và có tính xây dựng, hãy loại bỏ nhữ kiểu nói châm chọc có tính gây chia rẽ và gây tổn thương cho nhau.

Kế đến là hãy thực hành tình yêu thương một cách cụ thể bằng sự quảng đại phục vụ anh chị em, bằng việc dám cống hiến thời giờ và sức lực, khả năng của mình vì lợi ích của anh em và cộng đoàn, hãy dám bước ra khỏi giới hạn ngôi nhà của mình để có thể nhìn thấy những nhu cầu anh em xung quanh, hãy bước đến với anh chị em bằng một tinh thần mới, một thái độ mới để có thể chia sẻ và phục vụ, nâng đỡ và ủi an, và yêu thương theo giới răn mới là còn phải biết quảng đại mở rộng tấm lòng, mở rộng đôi tay để cho đi và chia sẻ, cho đi không chỉ những của mình dư thừa, mà còn dám cho đi cả những cái mình đang cần, đó mới là bác ái theo giới răn mới của Chúa.

Lời Chúa đang mời gọi các bạn trẻ sống theo giới răn mới, yêu theo cái nhìn mới. Nhiều bạn trẻ ngày nay đang có một cái nhìn lâm lẫn giữa tình yêu và tình dục, lao vào tình dục mà lại tưởng đó là tình yêu, chính vì thế mà nhiều người đã rơi vào sai lầm đáng tiếc, biến cuộc đời và thân xác mình chỉ để thỏa mãn những dục vọng của thân xác. Hãy loại bỏ cái nhìn sai lạc để mang lấy một cái nhìn mới mẻ của tình yêu thương, theo giới răn của Chúa, yêu thương trong sự tôn trọng nhau, muốn và làm điều tốt cho nhau.

Xin Chúa giúp mỗi người biết sống đến cùng giời răn yêu thương, để qua đời sống yêu thương, chúng ta tôn vinh Danh Chúa. Amen./.

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
CHÚA NHẬT I MÙA VỌNG, NĂM C Các bài suy niệm & chú giải Lời Chúa Lời Chúa: Gr 33,14-16; 1Tx 3,12–4,2; Lc 21,25-28.34-36
(1) Thấy đám đông, Đức Giêsu lên núi. Người ngồi xuống, các môn đệ đến gần bên. (2) Người mở miệng dạy họ rằng: (3) "Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ. (4) Phúc thay ai hiền lành, vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp. (5) Phúc thay ai sầu khổ, vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an./post 01 Tháng Mười Một 2016 (Xem: 938)/
Yêu tha nhân như chính mình. Thiên Chúa là Đấng vô hình vô ảnh ta không thấy được. Ta nói yêu mến Thiên Chúa, điều đó khó mà kiểm chứng được. Nên Thiên Chúa đã ràng buộc điều răn mến Chúa vào điều răn yêu người. Yêu Chúa thì phải yêu tha nhân. Yêu tha nhân là bằng chứng yêu mến Chúa.Chú giải và chia sẻ Tin mừng Chúa Nhật XXXI TN – năm BNguon Lamhong.org
CHÚA NHẬT XXIX THƯỜNG NIÊN, NĂM B Các bài suy niệm & chú giải Lời Chúa Lời Chúa: Is 53,10-11; Dt 4,14-16; Mc 10,35-45
CHÚA NHẬT XXVIII THƯỜNG NIÊN, NĂM B Các bài suy niệm & chú giải Lời Chúa Lời Chúa: Kn 7,1-7; Dt 4,12-13; Mc 10,17-30
CHÚA NHẬT XXVI THƯỜNG NIÊN, NĂM B Các bài suy niệm & chú giải Lời Chúa Lời Chúa: Ds 11,25-29; Gc 5,1-6; Mc 9,38-43.45.47-48 Tin Mừng Chúa nhật XXVI thường niên, năm B
CHÚA NHẬT XXVI THƯỜNG NIÊN, NĂM B ......đôi khi chúng ta thấy người này người nọ thực sự yêu thương và phục vụ kẻ khác, nhưng họ lại là người vô thần, là người Phật giáo, thì lập tức chúng ta khựng lại. Chúng ta hãy nhớ lời Chúa: Ai yêu thương thì ở trong Thiên Chúa. Tại sao chúng ta lại khăng khăng phải ở trong đạo mới có tình thương. Chắc gì chúng ta những người có đạo lại sống được tốt lành như họ chưa./17 Tháng Bảy 2018(Xem: 1432)/
Trước hết cần đặt câu hỏi: Điều gì xảy ra khi chúng ta cử hành nghi thức Thánh Thể. Câu trả lời thật đơn giản, đó là bữa tiệc của Chúa, đánh dấu khởi điểm việc Người chịu khổ nạn và cuộc khổ nạn ấy đang trở thành một thực tại giữa chúng ta và vì chúng ta./09 Tháng Sáu 20122:00 CH(Xem: 7616) Tác giả Karl Rahner Giuse - Nguyễn Cao Luật OP chuyển dịch /
CHÚA NHẬT XXV THƯỜNG NIÊN, NĂM B Các bài suy niệm & chú giải Lời Chúa - Lời Chúa: Kn 2,12.17-20; Gc 3,16-4,3; Mc 9,30-37 - Người đã hóa thân làm một con người bé nhỏ, nghèo túng, hèn yếu nhất. Để từ nay, ai đón tiếp một người bé nhỏ nhất là đón tiếp chính Người. Ai giúp đỡ một người yếu hèn nhất là giúp đỡ chính Người. Ai yêu mến một người nghèo túng nhất là yêu mến chính Người./17 Tháng Bảy 2018 (Xem: 1663) GP.Vinh/
CHÚA NHẬT XXIV THƯỜNG NIÊN, NĂM B Các bài suy niệm & chú giải Lời Chúa Lời Chúa: Is 50,5-9a; Gc 2,14-18; Mc 8,27-35/17 Tháng Bảy 2018 (Xem: 1653) /
Bảo Trợ