Đồng tính luyến ái: Một hiện tượng xã hội

19 Tháng Tư 20132:00 CH(Xem: 4219)

ĐỒNG TÍNH LUYẾN ÁI: MỘT HIỆN TƯỢNG XÃ HỘI

Trần Mỹ Duyệt

 

 blank
 

Lời giới thiệu của thoidiemmaria: Hôm Thứ Ba 24/2/2004, Tổng Thống Bush cho biết ông ủng hộ khoản tu chính hiến pháp về việc cấm hôn nhân đồng tính bằng những lời lẽ sau đây:

 

“Hôm nay tôi kêu gọi Quốc Hội hãy mau chóng thông qua để gửi cho các tiểu bang phê chuẩn một khoản tu chính cho Bản Hiến Pháp của chúng ta trong việc xác định và bảo vệ cơ cấu hôn nhân như là một cuộc kết hợp giữa một người nam và một người nữ để làm nên vợ nên chồng. Khoản tu chính này cần phải thật sự bảo vệ cơ cấu hôn nhân, nhưng vẫn giành chỗ cho ngành lập pháp tiểu bang được tự do quyết định trong vấn đề ấn định những thứ giải quyết về pháp lý đối với thứ không phải là hôn nhân. Hoa Kỳ là một xã hội tự do, một xã hội ghép vai trò của chính phủ vào đời sống những người công dân của chúng ta. Tuy nhiên, việc dấn thân cho quyền tự do này không đòi buộc phải xác định lại một trong những cơ cấu xã hội căn bản nhất của chúng ta. Chính quyền của chúng ta cần phải tôn trọng hết mọi người cũng như cần phải tôn trọng cơ cấu hôn nhân. Không có vấn đề tương phản giữa những trách nhiệm này”.

 

Để có một cái nhìn đại quan tạm đủ về hiện tượng đồng tính luyến ái đã đi đến chỗ đồng tính hôn nhân theo pháp lý hiện nay, xin mời quí bạn theo dõi bài viết của tiến sĩ tâm lý Trần Mỹ Duyệt sau đây.

 

Vấn đề đồng tính luyến ái thật ra không phải chỉ có hôm nay và trong thế giới hiện tại mà nó là một hiện tượng đã có từ lâu đời, và trải qua mọi thời đại. Thánh Kinh Cựu Ước, tức là Thánh Kinh của người Do Thái từ mấy ngàn năm trước đã nói đến vấn đề này, và coi đây là một hành động tội lỗi: “Nếu một người đàn ông ăn nằm với một người đàn ông và một người đàn bà ăn nằm với một người đàn bà cả hai sẽ phải chết vì hành động khả ố của họ; họ đã hủy hoại đời mình” (Lev 20:13). Nhưng sở dĩ chúng ta phải nhấn mạnh đến hiện tượng này là vì gần đây vấn đề đồng tính luyến ái, vấn đề hôn nhân đồng tính đang trở thành một đề tài cho những tranh luận cả trong lãnh vực tôn giáo, chính trị, xã hội, tâm lý, hôn nhân gia đình và giáo dục. Người khen, kẻ chê, người ủng hộ, người chống đối. Sau đây là những kết quả khảo cứu có tính cách quốc gia cho thấy như sau:

 

NHỮNG CON SỐ THỐNG KÊ

 

Tháng 6 năm 1977, 13% người Hoa Kỳ tin rằng những người đồng tính bẩm sinh như thế. 56% cho rằng đó chỉ là do ảnh hưởng môi trường sống. Tháng 10 năm 1989, 18% tin rằng những người đồng tính bẩm sinh như thế. 48% cho rằng đó chỉ là do ảnh hưởng môi trường sống. Và đến tháng 6 năm 1998, 47% đã tin rằng những người đồng tính bẩm sinh như thế. 4% cho rằng đó chỉ là do ảnh hưởng bởi môi trường sống. Song song với những kết quả do những cuộc khảo cứu trước, thống kê của Hội Báo Chí năm 2000 cho biết 30% người Hoa Kỳ tin rằng những người đồng tính bẩm sinh như thế. 46% cho rằng họ tự chọn sống như vậy.

 

Ít tháng trước, Viện Gallup từ ngày 24 đến 26 tháng 10 năm 2003, đã phỏng vấn 1006 người về việc hôn nhân đồng tính. Kết quả như sau:

 

61% chống đối.

35% ủng hộ.

Phân tích theo phái tính:

Nam giới: 70% chống đối.

26% ủng hộ.

Nữ giới: 53% chống đối.

43% ủng hộ.

 

Nhưng dù ủng hộ hay chống đối, hiện tượng này vẫn đang nở rộ nhất là sau ngày 12 tháng 2 năm 2004 vừa qua, tân thị trưởng Gavin Newsom thuộc thành phố San Francisco, California cho phép những người hôn nhân được làm hôn thú với nhau. Và chỉ nội trong vòng ít ngày đã có tới hơn 3000 cặp từ khắp nơi trên nước Mỹ và cả Âu Châu đã đến đó để làm hôn thú. Một trong các cặp này là hai cụ ông một người 83 và một người 80 tuổi, cả hai đã sống với nhau 51 năm, và nay mới được dịp chính thức làm hôn thú.

 

Tiếp theo đó là một số các thành phố thuộc các tiểu bang khác cũng đang phát hiện hiện tượng này khiến thống đốc California, và Tổng Thống Bush phải hốt hoảng lo tìm phương pháp cứu vãn tình thế bất ổn hiện nay. Nhưng xem ra phe đồng tính đang thắng thế, và xã hội còn phải chứng kiến những tranh luận này. Vậy đâu là những dấu hiệu và căn nguyên của hiện tượng này.

 

NGUYÊN NHÂN VÀ ĐỘNG LỰC

 

Theo thống kê của online cho biết, hàng tuần có ít nhất 40.000 người thuộc giới đồng tính đã vào trang net để tâm sự, trao đổi, và tìm bạn. Họ đã dùng đến 100.000 giờ cho những dịch vụ này mỗi tuần. Ngoài ra, theo ước tính thì con số đồng tính ngày nay không phải là hàng trăm, hàng ngàn, hàng, vạn, hàng triệu, mà là nhiều triệu. Họ thuộc đủ thành phần xã hội, mà phần lớn là ở giai tầng trí thức như bác sĩ, luật sư, giáo sư, kỹ sư, và cả giáo sĩ, tu sĩ nữa. Hoạt động của giới đồng tính ngày nay đã công khai hóa và họ có những hiệp hội, tổ chức và câu lạc bộ đàng hoàng. Họ hãnh diện và vui vẻ nhận mình là những người đồng tính chứ không mặc cảm, hoặc lén lút như trước. Năm 1973, các nhà tâm bệnh học và tâm lý học đã loại bỏ hội chứng đồng tính luyến ái ra khỏi bảng liệt kê những căn bệnh tâm lý, và cho rằng sinh hoạt tình cảm, và tình dục của người đồng tính là sinh hoạt bình thường và lành mạnh. Kể từ đó, tâm lý không coi vấn đề này là một tâm bệnh nữa. Cũng theo tài liệu do Alfred Kinsey phổ biến năm 1948, thì có đến khoảng 1/3 các trẻ vị thành niên đã có kinh nghiệm về đồng tính khi ở vào tuổi dậy thì, và 4% trong số ấy đã bỏ đời sống đồng tính khi lớn lên và đã lập gia đình.

 

Vậy nguyên nhân nào đã gây ra tình trạng đồng tính luyến ái. Động lực nào đã hấp dẫn một người đàn ông với một người đàn ông, và một người đàn bà với một người đàn bà? Hoặc ngược lại, tại sao một người đàn ông lại cảm thấy bị thu hút bởi một người đàn bà hay một người đàn bà bị thu hút bởi một người đàn ông? Khoa học và tâm lý học cho đến nay vẫn chưa có câu trả lời dứt khoát. Chưa ai biết rõ đâu là nguyên nhân tạo nên những hấp lực và thu hút ấy. Tuy nhiên, quan niệm chung và phần đông vẫn cho rằng sự luyến ái tình cảm và tình dục giữa một người đàn ông và một người đàn bà là những quan hệ bình thường và lành mạnh. Cũng như sự phối hợp giữa một người đàn ông và một người đàn bà trong đời sống hôn nhân là một việc xem như bẩm sinh. Nó được thôi thúc bởi bản năng duy trì nòi giống.

 

Theo các nhà di truyền học, và sinh lý học, khuynh hướng đồng tính đến từ sự phát triển tế bào nhiễm thể do phía người mẹ di truyền. Khám phá này vẫn chưa đạt được sự công nhận của các nhà khoa học về di truyền và tâm sinh lý. Dầu sao một người tự bẩm sinh với hướng chiều về người đồng phái và một người do một biến cố tâm lý hoặc xã hội nào đó đã xu hướng theo đòi hỏi của nếp sống đồng tính lại là một vấn đề khác.

 

Những người mà tự bẩm sinh, có nghĩa là tự trong tâm trí, và khát vọng của mình, họ luôn luôn hướng về người đồng phái tính và không thể nào hạnh phúc, hoặc sung sướng với một người khác phái tính được coi như những người đồng tính bẩm sinh. Con số này được coi là ít ỏi. Ngược lại, những người vì bị trói buộc, chèm ép, hoặc cưỡng bức và khủng hoảng về tình cảm, tâm lý hoặc sinh lý đi tìm một cuộc sống và tình cảm mới nơi một người đồng phái tính được coi như những người đồng tính do môi trường và ảnh hưởng xã hội. Họ tự chọn lối sống đồng tính chứ không phải do bẩm sinh. Thí dụ, nhiều phụ nữ ngày nay không muốn sinh con, hoặc vì một lý do tâm lý nào đó sợ không muốn sinh con, sợ phải sống với một người đàn ông. Hay như một người đàn ông vì bị liệt dương, hoặc có những hội chứng xuất tinh sớm, tự mặc cảm về đời sống sinh lý yếu kém của mình, nên không thoải mái với sự giao hợp trong hôn nhân và đã đi tìm một lối sống tình cảm và tình dục nơi những người đồng phái có cùng cảnh ngộ. Hoặc hiện tượng này xẩy ra nơi những người mà vì ảnh hưởng xã hội và sự dồn nén xã hội nên đã đi tìm một lối giải quyết tình cảm và sinh lý với những người đồng tính, thí dụ một số nhà tu hành hoặc tu sĩ chẳng hạn. Nhưng điểm quan trọng ở đây là có thật sự những người này cảm thấy thoải mái, thanh thản với cuộc sống và lối sống tự chọn ấy, hay vẫn bị lương tâm đay nghiếm và cắn rứt? Trong những cuộc tự tử nơi những người lớn, người ta thấy tỷ số những người đồng tính khá cao. Phải chăng cũng là sự mặc cảm về hành động tình cảm và sinh lý bất thường của mình, hoặc cũng có thể vì một hình thức muốn tự kết liễu những xung đột của lương tâm và đam mê.

 

Nhưng dù dưới bất cứ hình thức nào, thì việc hôn nhân trong giới đồng tính như hiện nay đang là một thách thức lớn lao cho đạo đức xã hội, cho những giá trị về gia đình, hôn nhân, và ngay cả những giá trị căn bản của nhu cầu và đời sống tình dục nơi con người.

 

 

ĐỒNG TÍNH VÀ ĐỜI SỐNG HÔN NHÂN

 

Người ta tự hỏi, với những hành động và đời sống tâm lý, tình cảm, cũng như sinh lý của các người đồng tính như hiện nay rồi ra nền tảng gia đình, đời sống sinh lý vợ chồng và trách nhiệm duy trì nòi giống sẽ ra sao? Lấy ai mà sinh nở, lấy ai mà dậy dỗ, giáo dục, và hướng dẫn tuổi trẻ. Một hình ảnh mà chúng ta có thể thấy được qua màn truyền hình là một cặp đồng tính nam đã nhận nuôi hai em bé. Mỗi anh mang trước ngực một em nhỏ. Nhưng rồi ai thay tã lót. Ai nấu nước, pha sữa cho hai em. Và sau này khi lớn lên nếu hai em muốn tìm một mẫu người làm mẹ, người làm cha thì tìm đâu ra trong một gia đình hai người đều là đàn ông ấy. Xã hội và đạo đức xã hội vẫn chưa có câu trả lời, chỉ biết rằng một khảo cứu đã cho rằng các trẻ em sống và được nuôi dưỡng bởi các cặp đồng tính lớn lên và phát triển bình thường về mặt tâm lý và tình cảm. Riêng người viết thì không đồng ý như vậy, vì không cần phải dùng đến sự hiểu biết sâu xa, chỉ nhìn vào thực tế, ai cũng đã có cảm giác thế nào là một sự bất ổn ngay chính trong cơ cấu của các gia đình này. Đó là những cái nhìn tổng quát về tình trạng biến thái đang xẩy ra trong đời sống tâm lý và tình cảm của con người hiện nay qua phong trào đồng tính luyến ái, và hôn nhân đồng tính. Vậy về phía Giáo Hội thì như thế nào?

 

QUAN NIỆM CỦA GIÁO HỘI

 

Giáo Hội Công Giáo đã tỏ ra bén nhậy với vấn đề này. Tuy nhiên, phản ứng của nhiều Giám mục và linh mục, tu sĩ trong Giáo Hội thì lại khác nhau. Chính vì thế, hiện tượng đồng tính và hôn nhân đồng tính vẫn là một đề tài gâysôi nổi trong Giáo Hội. Cũng như cái nhìn từ phía xã hội, Giáo Hội cũng có những thành phần ủng hộ và chống đối. Người ta không thấy ngạc nhiên lắm khi trong một buổi họp của một Giáo Phận thuộc miền Bắc California, các linh mục đồng tính đã dám trước cửa phòng họp của mình tấm giấy: “Gay Priests Only”. Đức Giám Mục cũng chỉ lắc đầu và nói: “I already told them, it is no good idea”.

 

Ngày 4 tháng 2, 2004, tại Tổng Giáo Phận Chicago đã có 35 linh mục gửi thư cho Tổng Giám Mục của họ là Đức Hồng Y Francis E. George và Vatican phản đối việc Giáo Hội đã dùng những từ ngữ coi như miệt thị giới đồng tính, ám chỉ về những văn kiện của Tòa Thánh về đời sống và hôn nhân của giới đồng tính. Trong thư có đoạn viết: “Gần đây trong quá khứ bản thân các giám mục, các hội đồng giám mục và Vatican đã có những tiếng nói ám chỉ xúc phạm và bạo hành đối những người con trai và con gái của giáo hội, và chúng tôi thấy không thể giữ im lặng được nữa”.

 

Mặt khác, ngày 7 tháng 2 vừa qua, Nguyệt San La Civilta Cattolica do Dòng Tên xuất bản tại Roma, trong phần nói về hôn nhân đồng tính đã trích dẫn kết quả cuộc khảo cứu cho rằng đồng tính luyến ái là một điều kiện rõ ràng vượt ra khỏi lằn ranh của đời sống sinh lý bình thường, giống như những nguyên nhân sinh lý học. Và mặc dù không phê phán, hoặc lên án những người vì ảnh hưởng nào đó cuốn hút vào tình trạng này, nhưng Giáo Hội vẫn thêm rằng: “Tuy nhiên, khi đối diện với những trào lưu của xã hội, Giáo Hội cảm thấy mình có bổn phận nhắc nhở những nhà lãnh đạo, về những nguy cơ gây đỗ vỡ kinh hoàng mà sẽ là kết quả do việc nhắm tới quyền lợi những cặp hôn nhân đồng tính cũng như những cặp hôn nhân nam nữ”.

 

Mặc dù có sự chống đối và những cắt nghĩa khác nhau về hôn nhân, về những giá trị của hôn nhân. Giáo Hội vẫn chủ trương rằng hôn nhân chỉ xẩy ra giữa một người nam và một người nữ. Trong bí tích Hôn Phối, Giáo Hội đã nhắc lại lời Chúa Giêsu nói về sự hiệp nhất này như một giao ước vĩnh cửu, một ơn gọi cho những ai bước vào đời sống hôn nhân: “Sự gì Thiên Chúa đã liên kết, loài người không được phân ly” (Mc 10:9). Hơn thế nữa, hôn nhân dưới nhãn quan Kitô Giáo, còn là một trách nhiệm cần thiết nối kết giữa hai người nam nữ trong việc bảo trì và nuôi dưỡng con cái. Văn kiện của Tòa Thánh về hôn nhân đồng phái tính được công bố ngày 6 tháng 3 năm 2003 do Đức Hồng Y Joseph Ratzinger, Tổng Trưởng Thánh Bộ Tín Lý và Đức Tin và Đức Tổng Giám Mục Angelo Amato, Tổng Thư Ký viết: “Không một ý hệ nào có thể xóa mất nơi tâm linh con người niềm tin tưởng là hôn nhân chỉ xẩy ra giữa một người nam và một người nữ, những người bởi việc trao ban cho nhau, một việc xứng hợp với họ và chỉ dành cho họ, hướng đến việc hiệp thông ngôi vị của họ. Nhờ đó, họ làm cho nhau nên trọn hảo, để cộng tác với Thiên Chúa trong việc sinh sản và nuôi dưỡng những sự sống con người mới.” Giáo Lý Công Giáo dậy rằng: “Hành động đồng tính là những việc làm trụy lạc nghiêm trọng”. Ngoài ra, văn kiện của Tòa Thánh về hôn nhân đồng phái tính còn có những đoạn như sau:

 

“Về lãnh vực sinh lý và nhân loại học. Những cuộc kết hợp đồng phái tính là những gì hoàn toàn thiếu yếu tố về sinh lý cũng như nhân loại học của hôn nhân và gia đình...Những cuộc phối hợp đồng tính ấy không thể nào góp phần một cách xứng hợp vào việc sinh sản của nhân loại.”

 

“Như kinh nghiệm cho thấy, việc thiếu hụt tính chất hỗ tương dục tính nơi những cuộc phối hợp đồng tính tạo nên những ngăn trở trong việc phát triển bình thường của những trẻ em được những người này chăm sóc.”

 

“Việc hợp pháp các cuộc phối ngẫu đồng phái tính hay đặt những cuộc hôn nhân đồng phái tính này cùng một cấp độ như hôn nhân chẳng những có ý chấp nhận một hành vi lạc loài, làm cho nó trở thành một mẫu số sống của xã hội ngày nay, mà còn làm lu mờ những giá trị căn bản thuộc về gia sản chung của nhân loại. Giáo Hội không thể không bênh vực các giá trị này, vì thiện ích của con người nam nữ cũng như vì thiện ích của chính xã hội loài người”.

 

KẾT LUẬN

 

Ta có nên khinh bỉ, coi thường hoặc nguyền rủa những người đồng tính hay những cuộc hôn nhân đồng tính không? Dứt khoát là không. Bởi vì trong hành động và lối sống ấy vẫn có những gì mà chúng ta không biết, hoặc chưa biết. Chúng được kết hợp bởi những yếu tố di truyền, cũng như tâm sinh lý và xã hội rất phức tạp. Đức ái cũng không cho phép chúng ta đối đãi bất công với bất cứ ai. Tuy nhiên, có hai điều trong vấn đề này cần được lưu ý là những thành phần đồng tính và hôn nhân đồng tính.

 

Đối với những người đồng tính, chúng ta không có quyền coi thường, khinh bỉ, hoặc đối xử bất công vì họ vẫn là một con người. Chúng ta chỉ không chấp nhận lối sống đồng tính của họ.

 

Đối với hiện tượng hôn nhân đồng tính, chúng ta dứt khoát không thể ủng hộ hay chấp thuận. Trong quyết định này, không gì hơn là căn cứ vào những giá trị tâm linh và luân lý đạo đức. Thiên Chúa và Giáo Hội đều dậy rằng, hôn nhân đồng tính không phải là con đường tự nhiên và xứng hợp với cuộc sống của con người nam nữ dù nhìn dưới góc cạnh nào, tâm lý, sinh lý, giáo dục hay xã hội.
 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Tìm hiểu quan niệm của giáo dân xã Bình Trung về vấn đề thất bại và thành công trong cuộc sống, kết quả khảo sát cho thấy 36.7% nhận định thành công hay thất bại trong cuộc sống là “do bản thân”, bản thân họ tự tạo ra thành công hoặc tự gây ra thất bại chứ vấn đề này không có sự can thiệp, tác động nào từ Chúa, suy nghĩ họ mang lý tính nhiều hơn
Giáo xứ Vinh Trung được thành lập ngày 28/10/1955 và hiện nay thuộc địa bàn xã Bình Trung. Sau hơn 40 năm thành lập, giáo xứ Vinh Trung được nhận định là một trong những giáo xứ "có nề nếp sống đạo chuẩn mực, trưởng thành.
Đức Hồng y Newman: “Lương tâm là một luật của tâm trí ta, nhưng lại vượt quá tâm trí, nó ra lệnh và nói cho ta biết đâu là trách nhiệm và bổn phận của ta, những gì ta nên sợ và nên hy vọng. Nó là sứ giả để nói với chúng ta qua tấm màn, trong thế giới của tự nhiên cũng như trong thế giới ân sủng...”/27 Tháng Bảy 2012(Xem: 5651) Jos. Thanh Phong - SimonHoaDalat /
Tôi bắt đầu cảm thấy đau ở bụng dưới, một cái đau không giống bất cứ cái đau nào tôi từng trải nghiệm. Thế rồi tôi bị chẩy máu. Máu thực sự phun ra từ trong tôi… Tôi ngồi đấy hàng giờ, máu cứ chẩy, tứ tung vào thùng rác phòng tắm, chỉ biết khóc và đổ mồ hôi. Đó là lời của Abby Johnson, nguyên giám đốc lâm sàng của tổ chức Planned Parenthood (phá thai), và hiện là một người tranh đấu phò sự sống./02 Tháng Bảy 2012(Xem: 6491)/
Thưa cha, tờ tạp chí khoa học mới đây nói về sự khác biệt giữa sự cấu tạo thần kinh của những người khác phái tính và những người đồng tính. Sự khám phá mới này có mang lại việc thay đổi phán quyết luân lý về những người đồng tính luyến ái không và trong nghĩa nào?/05 Tháng Bảy 2012(Xem: 5456) Lm Agostio Nguyễn văn Dụ./
Khi người yêu ở hai đầu đất nước, thậm chí là hai đầu quả đất, sự cách trở về không gian sẽ gây ra rất nhiều khó khăn, thậm chí làm nhạt nhòa cảm xúc. Vậy làm cách nào để các cặp đôi ''giữ lửa'' trong khoảng thời gian đợi chờ?/10 Tháng Bảy 2012(Xem: 5477)/
Phải chăng là khi tim bạn đập nhanh, lòng bạn tay bạn ướt đẫm mồ hôi, giọng nói bạn phải chạy theo mới có thể bắt kịp với nhịp đập trái tim nơi lồng ngực? Đó chưa phải là yêu… Chỉ là THÍCH..../09 Tháng Sáu 2012(Xem: 7357) /
Trong mọi chiều hướng suy tư của nhân loại từ khi con người xuất hiện đến nay đều chứa đựng những cố gắng để bảo toàn, phát huy và thăng tiến cá nhân, gia đình, tộc họ, dòng giống vv... Các tranh chấp xẩy ra trong lịch sử đều có nền tảng trên sự sợ hãi rằng chính mình.../ 27 Tháng Sáu 2012 (Xem: 4970) Trần Việt Kim Đài /
Nhờ thân xác con người tiếp xúc với tha nhân và vũ tru… Ở đây chúng tôi muốn tiếp tục bàn về một đặc tính của thân xác đó là phái tính. Nhờ thân xác mà con người mang một phái tính, nam hay nữ; tuy nhiên phái tính không chỉ liên quan đến thân thể mà thôi nhưng còn ảnh hưởng đến tinh thần nữa./post 19 Tháng Năm 2012(Xem: 4931)
Sau ngày lễ tình yêu (14/02), có lẽ nhiều cuộc tình mới bắt đầu và cũng có không ít những cuộc tình tan vỡ. Đâu là nguyên nhân của thực trạng này? Chúng ta cùng bắt đầu với một thao tác đơn giản, “mở google và gõ dòng chữ ‘tình yêu’/‘love’”, chỉ mất 0,54 giây, bạn sẽ nhận được khoảng 381.000.000 (tiếng Việt) và 13.960.000.000 (Tiếng Anh) các bài báo và tài liệu có liên quan. Điều này chứng tỏ ‘tình yêu’ không phải là đề tài mới mẻ nhưng tính nóng sốt của nó thật không thể phủ nhận.
Bảo Trợ